|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÔNG TRIỀU TỈNH QUẢNG NINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 107/2024/HS - ST Ngày: 21-11-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÔNG TRIỀU, TỈNH QUẢNG NINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Như Quỳnh
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Văn Nam
Ông Nguyễn Văn Bẩy
Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Lan Anh - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đông Triều tham gia phiên tòa: Ông Dương Văn Phúc - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 11 năm 2024, tại phòng xử án Tòa án nhân dân thành phố Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 89/2024/TLST - HS ngày 09 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 103/2024/QĐXXST- HS ngày 22 tháng 10 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 67/2024/HSST - QĐ ngày 05 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Lê Thị T; sinh ngày 12/3/1971, tại thành phố Đ, tỉnh Quảng Ninh; nơi thường trú: tổ C, khu H, phường M, thành phố Đ, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 4/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn H và bà Phạm Thị B; chồng: Cao Văn V (đã ly hôn); con: có 01 con sinh năm 1989; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị giữ, bị bắt người trong trường hợp khẩn cấp ngày 29/5/2024 và bị tạm giữ đến ngày 06/6/2024 được thay thế biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”, có mặt tại phiên tòa.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
Anh Hà Xuân T1; nơi cư trú: tổ E, khu V, phường M, thành phố Đ, tỉnh Quảng Ninh; vắng mặt không có lý do.
Chị Lưu Thị G; nơi cư trú: tổ E, khu V, phường M, thành phố Đ, tỉnh Quảng Ninh; vắng mặt không có lý do.
Ông Nguyễn Văn L; nơi cư trú: khu X, phường X, thành phố Đ, tỉnh Quảng Ninh; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do biết vợ chồng anh Hà Xuân T1, chị Lưu Thị G đều trú tại tổ E, khu V, phường M, thị xã (nay là thành phố) Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh có nhu cầu vay tiền để đầu tư vào cửa hàng bán quần áo và sử dụng cho người khác vay để đáo hạn ngân hàng, nên trong khoảng thời gian từ ngày 01/01/2023 đến ngày 12/12/2023, Lê Thị T đã cho vợ chồng anh T1, chị G vay tiền với lãi suất cao, trái quy định của pháp luật, nhằm thu lợi bất chính. Khi cho vay và thu tiền lãi, tiền gốc, T giao nhận trực tiếp bằng tiền mặt hoặc chuyển khoản qua số tài khoản 103000215694 của T mở tại Ngân hàng C với tài khoản số [...] của anh T1 mở tại Ngân hàng V1, đồng thời T sử dụng điện thoại Iphone 14 Promax, gắn sim số 0981.922.762 để nhắn tin từ tài khoản Zalo có tên "Tuyết Lê" đến tài khoản Zalo có tên "Hà Xuân T1" của anh T1 để thông báo, chốt số tiền mà anh T1 còn nợ của T. Theo đó:
Do vợ chồng anh T1, G vay số tiền lớn nên ban đầu, khi cho vay T yêu cầu chị G viết giấy vay tiền và thỏa thuận với nhau về mức lãi suất, trả tiền gốc và tiền lãi hàng ngày theo thời hạn vay. Căn cứ tài liệu điều tra xác định:
Ngày 01/01/2023, T cho vợ chồng anh T1 vay 200.000.000 đồng, với thời hạn 03 ngày, tiền lãi phải trả trong 03 ngày là 6.000.000đ (tương đương mức lãi suất 10.000 đồng/01triệu/01 ngày, bằng 365%/năm). Theo yêu cầu của T, chị G viết giấy vay tiền đưa cho T; T cắt trước 6.000.000 đồng tiền lãi vào tiền gốc vay nên chỉ chuyển 194.000.000 đồng vào tài khoản ngân hàng của anh T1. Đến ngày 03/01/2023 vợ chồng anh T1 đã trả lại cho T 200.000.000 đồng; như vậy tiền lãi vượt quá 20%/năm T đã thu được từ khoản vay này là 5.671.233 đồng.
Cùng ngày 03/01/2023 vợ chồng T1 tiếp tục vay của T 200.000.000 đồng, với thời hạn 04 ngày, tiền lãi phải trả cho 04 ngày là 6.000.000 đồng (tương đương 7.500 đồng/01 triệu/01ngày, bằng 273.75%/năm); T cắt trước 6.000.000đ tiền lãi vào tiền gốc vay nên chỉ chuyển 194.000.000 đồng vào tài khoản ngân hàng của anh T1. Đến ngày 07/01/2023 vợ chồng anh T1 đã trả 200.000.000 đồng cho T. Như vậy tiền lãi vượt quá 20%/năm T đã thu được từ khoản vay này là 5.561.644 đồng.
Cũng trong ngày 07/01/2023 vợ chồng anh T1 lại vay của T 200.000.000 đồng, tiền lãi phải trả là 6.000.000đ/03 ngày. Tương tự như những lần trước, T cắt 6.000.000 đồng tiền lãi của 03 ngày đầu vào tiền gốc vay nên chỉ chuyển 194.000.000 đồng vào tài khoản của anh T1. Đến ngày 15/02/2023 anh T1 đã trả cho T 78.000.000 đồng tiền lãi, (trong đó có 6.000.000 đồng đã cắt lãi trước khi cho vay). Tổng số tiền lãi vợ chồng anh T1 đã trả cho T từ các khoản vay trên là 90.000.000 đồng (trong đó tiền lãi vượt quá 20%/năm là 73.726.027 đồng).
Từ ngày 15/02/2023, anh T1 không trả tiền gốc và lãi cho T, nên T nhắn tin qua ứng dụng zalo cho anh T1 để thông báo, chốt số nợ với anh T1, cụ thể: ngày 23/02/2023, T nhắn tin chốt số tiền lãi anh T1 còn nợ (của 08 ngày) là 21.000.000 đồng (tương đương 479%/năm) và 44.000.000 đồng là tiền nợ bát họ cũ. Từ ngày 23/02/2023 đến ngày 12/12/2023 (292 ngày), T nhắn tin chốt tiền lãi của khoản vay 200.000.000 đồng với anh T1 là 692.000.000 đồng (tương đương với lãi suất 432.4%/năm). Tính đến ngày 12/12/2023 T chốt nợ với anh T1 số tiền 936.000.000 đồng, gồm nợ gốc 200.000.000 đồng, lãi 692.000.000 đồng (trong đó lãi suất vượt quá 20%/năm là 659.123.288 đồng) và 44.000.000 đồng là tiền vay bát họ cũ.
Như vậy từ ngày 01/01/2023 đến ngày 12/12/2023 Lê Thị T đã 03 lần cho vợ chồng anh Hà Xuân T1, Lưu Thị G vay số tiền 200.000.000 đồng với lãi suất cao từ 273,75%/năm đến 479%/năm. Tổng số tiền lãi T đã thu được từ các lần cho vay là 90.000.000 đồng (trong đó tiền lãi vượt quá 20%/năm là 84.958.904 đồng); số tiền lãi đến hạn nhưng chưa thu được là 692.000.000 đồng (trong đó lãi suất vượt quá 20%/năm là 659.123.288 đồng).
Do anh Hà Xuân T1 trình báo, nên ngày 29/5/2024 Cơ quan điều tra đã bắt, giữ người trong trường hợp khẩn cấp và khám xét khẩn cấp nơi ở của Lê Thị T và thu giữ: tại phòng ngủ tầng 01 của T số tiền 40.100.000đ; 01 điện thoại di dộng nhãn hiệu Raelme, vỏ màu xanh, gắn sim số 0916.926.954; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 Promax, vỏ màu tím, gắn sim số 0981.922.762; 01 tờ giấy kẻ oly; 01 tờ giấy kẻ ngang; 01 tờ giấy A4, trên các tờ giấy đều có ghi chữ và số liên quan đến việc chốt số tiền nợ của vợ chồng anh T1, chị G.
Quá trình điều tra còn xác định, ngoài việc cho vợ chồng anh G, T1 vay tiền nêu trên, Lê Thị T còn 03 lần cho vợ chồng anh T1, chị G vay bát họ, cụ thể:
Lần thứ nhất: ngày 30/12/2022, vợ chồng anh Giang T2 vay của T số tiền 100.000.000 đồng, thời hạn 25 ngày, thỏa thuận mỗi ngày trả 4.000.000 đồng tiền gốc, tiền lãi là 3.000.000 đồng /25 ngày, tương đương lãi suất 1.200 đồng /01 triệu/01 ngày, bằng 43.8%/năm. Tuyết cắt trước 36.000.000 đồng, nên chỉ chuyển cho anh T2 số tiền 97.000.000 đồng. Anh T2 đã trả tiền gốc cho T được 17 ngày, bằng 68.000.000đ (sáu mươi tám triệu đồng), còn nợ 32.000.000đ (ba mươi hai triệu đồng) tiền gốc.
Lần thứ hai: ngày 15/01/2023, vợ chồng anh Giang T2 vay của T số tiền 100.000.000 đồng, thời hạn 25 ngày, thỏa thuận mỗi ngày trả 4.000.000 đồng tiền gốc, tiền lãi là 5.000.000 đồng /25 ngày, tương đương lãi suất tức 2000 đồng/01 triệu/01 ngày, bằng 73%/năm. Anh T2 đã trả tiền gốc cho T được 16 ngày, bằng 64.000.000 đồng, còn nợ 36.000.000 đồng tiền gốc.
Lần thứ ba: ngày 30/01/2023 vợ chồng anh Giang T2 vay của T số tiền 100.000.000 đồng, thời hạn 25 ngày, thỏa thuận mỗi ngày trả 4.000.000 đồng tiền gốc, tiền lãi là 5.000.000 đồng/25 ngày, tương đương lãi suất tức 2000 đồng/01 triệu/01 ngày, bằng 73%/năm. Anh T2 đã trả tiền gốc cho T được 14 ngày, bằng 56.000.000 đồng, còn nợ 44.000.000 đồng tiền gốc.
Tại Cơ quan điều tra Lê Thị T đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên và tự nguyện giao nộp 40.000.000 đồng tiền thu lời bất chính để sung ngân sách nhà nước.
Đối với vật chứng của vụ án, gồm: 01 (một) điện thoại di dộng nhãn hiệu Realme, vỏ màu xanh, gắn sim số 0916.926.954; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 Promax, vỏ màu tím, gắn sim số 0981.922.762, chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự thị xã (nay là thành phố) Đông Triều; số tiền 80.100.000 đồng (do T tự nguyện giao nộp và thu giữ khi khám xét nơi ở của T), ngày 25/6/2024 Cơ quan điều tra chuyển đến K (nay là thành phố) Đông Triều, quản lý theo quy định.
Quá trình điều tra và tại phiên toà, Lê Thị T đã khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên. Ngoài ra về số tiền 84.958.904 đồng, lãi suất vượt quá 20%/năm là tiền bị cáo thu lợi bất chính của người vay, trong giai đoạn điều tra bị cáo đã tự nguyện trả lại toàn bộ số tiền trên cho anh T2 và chị G.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Hà Xuân T1 và chị Lưu Thị G đều vắng mặt tại phiên tòa nhưng có lời khai tại cơ quan điều tra với nội dung: do vợ chồng anh chị có nhu cầu đầu tư vào cửa hàng bán quần áo và cho người khác vay tiền để đáo hạn ngân hàng nên từ ngày 01/01/2023 đến ngày 12/12/2023, anh chị đã 03 lần vay tiền của Lê Thị T, với lãi suất thỏa thuận tương đương là 7.500 đồng/01 triệu/ 01 ngày và 10.000 đồng/01 triệu/01 ngày, có viết giấy vay tiền nhưng không có tài sản thế chấp. Tổng số tiền gốc vợ chồng anh T1 và chị G đã vay của T là 200.000.000đ (hai trăm triệu đồng). Do không có tiền trả cho T, nên T đã tính số tiền gốc và lãi của vợ chồng anh chị đến ngày 12/12/2023 là 936.000.000đ ( chín trăm ba mươi sáu triệu đồng). Trong đó: tiền gốc là 200.000.000đ (hai trăm triệu đồng), tiền lãi là 692.000.000đ (sáu trăm chín mươi hai triệu đồng) và 44.000.000đ (bốn mươi bốn triệu đồng) là tiền vay bát họ cũ. Đến thời điểm này, anh chị đã trả cho T được 90.000.000đ (chín mươi triệu đồng) tiền lãi. Do số tiền lãi và gốc hiện nay quá lớn, anh chị không có khả năng chi trả được cho T. Vì vậy, anh chị đã làm đơn tố giác sự việc với Công an thành phố Đ. Anh chị đã được bị cáo trả lại số tiền lãi vượt quá mức quy định của pháp luật và có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn L có lời khai: ông là anh trai họ của bị cáo Lê Thị Tuyết . Số tiền 40.000.000đ (bốn mươi triệu đồng) ông nộp thay cho bị cáo tại Cơ quan Cảnh sát điều tra thị xã (nay là thành phố) Đông Triều là tiền của bị cáo tự nguyện nộp để khắc phục hậu quả, do bị cáo T nhờ ông nộp. Nếu bị cáo T đã trả cho vợ chồng anh T1, chị G số tiền thu lợi bất chính thì ông đề nghị Tòa án trả lại số tiền trên cho bị cáo T.
Tại Cáo trạng số: 2201/CT- VKSĐT ngày 08 - 10 - 2024 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Đông Triều truy tố bị cáo Lê Thị T về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”, theo quy định tại khoản 2 Điều 201 Bộ luật Hình sự.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Đông Triều tại phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo theo bản Cáo trạng. Sau khi xem xét đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, đại diện Viện Kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử:
* Về trách nhiệm hình sự:
- + Áp dụng khoản 2 Điều 201 điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1, khoản 2 và khoản 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lê Thị T từ 09 đến 12 tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 18 tháng đến 24 tháng, kể từ ngày tuyên án, về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”.
* Hình phạt bổ sung:
- + Áp dụng khoản 3 Điều 201; khoản 2, 3 Điều 35 Bộ luật Hình sự phạt bổ sung bị cáo từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng để sung ngân sách Nhà nước.
* Về trách nhiệm dân sự, biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng:
- Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 46; điểm a, b khoản 1 Điều 47, khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- - Buộc bị cáo phải nộp lại số tiền 5.041.096 đồng là tiền lãi tương ứng mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật Dân sự (chưa vượt quá 20% /năm) mà bị cáo đã thu được của anh Thực sung ngân sách nhà nước.
- - Buộc anh T1, chị G phải nộp lại số tiền 200.000.000đồng (là tiền gốc mà anh T1 chưa trả cho bị cáo Lê Thị T để tịch thu sung ngân sách nhà nước.
- - Trả lại bị cáo số tiền 80.100.000 đồng, nhưng giữ lại để đảm bảo việc thi hành án; trả lại bị cáo: 01 (một) điện thoại di dộng nhãn hiệu Realme, vỏ màu xanh, gắn sim số 0916.926.954.
- Tịch thu sung ngân sách Nhà nước 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 Promax; tịch thu tiêu hủy sim số 0981.922.762.
Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không tranh luận với đại diện Viện kiểm sát và đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về tố tụng: về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã Đ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đông Triều, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về các tài liệu, chứng cứ cũng như hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập và hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
-
Về việc định tội đối với bị cáo: lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa là phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, với biên bản tiếp nhận nguồn tin về tội phạm, biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ, với vật chứng thu giữ của bị cáo, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: từ ngày 01/01/2023 đến ngày 12/12/2023, tại phường M, thị xã (nay là thành phố) Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh, Lê Thị T đã có hành vi cho vợ chồng anh Hà Xuân T1, chị Lưu Thị G vay 3 lần, mỗi lần 200.000.000 đồng với lãi suất từ 273,75%/năm đến 479%/năm, nhằm thu lợi bất chính (tiền lãi suất vượt quá 20%/năm) số tiền 744.082.192 đồng (trong đó tiền thu lợi bất chính đã thu được là 84.958.904 đồng; số tiền thu lợi bất chính chưa thu được là 659.123.288 đồng).
Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo quy định tại khoản 2 Điều 201 Bộ luật Hình sự. Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đông Triều truy tố và kết luận về hành vi phạm tội đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến trật tự quản lý kinh tế của Nhà nước trong lĩnh vực tài chính; ảnh hưởng đến các giao dịch dân sự, đẩy gia đình người vay tiền vào hoàn cảnh khó khăn, gây bất bình trong dư luận. Bản thân bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, ý thức được hành vi cho vay lãi nặng là vi phạm pháp luật nhưng vì hám lợi, bất chấp đạo lý để thực hiện hành vi phạm tội. Do đó, cần phải có hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo.
-
Xét về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- Về nhân thân: bị cáo Lê Thị T không có tiền án, tiền sự.
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo ăn năn hối cải, bị cáo đã tự nguyện nộp lại số tiền thu lợi bất chính để khắc phục hậu quả, được người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chị Lưu Thị G có đơn xin giảm nhẹ hình phạt nên bị cáo được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
-
Về hình phạt áp dụng đối với bị cáo:
Từ những đánh giá, phân tích nêu trên, căn cứ vào nhân thân, hành vi, tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo cũng như những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo Lê Thị T có nơi cư trú rõ ràng, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Do đó, không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội, mà chỉ cần giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân phường M, nơi bị cáo cư trú giám sát, giáo dục, cải tạo để giúp bị cáo sửa chữa sai lầm, trở thành công dân có ích cho xã hội.
- Về hình phạt bổ sung: xét cần áp dụng hình phạt bổ sung bằng hình thức phạt tiền là phù hợp với quy định tại khoản 3 Điều 201 Bộ luật Hình sự.
-
Về biện pháp tư pháp:
- * Về số tiền gốc 200.000.000 đồng bị cáo đã sử dụng để cho anh T1, chị G vay là phương tiện phạm tội, anh T1 chị G chưa trả cho bị cáo; số tiền 5.041.096 đồng là tiền lãi (chưa đến 20%/năm) mặc dù không tính để truy cứu trách nhiệm hình sự nhưng là thu lợi từ việc phạm tội cần tịch thu sung ngân sách Nhà nước.
- * Về số tiền 84.958.904 đồng lãi suất vượt quá 20%/năm là tiền thu lợi bất chính của anh T1 chị T, quá trình giải quyết vụ án bị cáo đã tự nguyện trả lại cho anh chị nên không đề cập giải quyết.
-
Về xử lý vật chứng:
- - 01 (một) điện thoại di dộng nhãn hiệu Realme, vỏ màu xanh, gắn sim số 0916.926.954 không liên quan đến hành vi phạm tội cần trả lại cho bị cáo.
- - 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 Promax của bị cáo liên quan đến hành vi phạm tội cần tịch thu sung ngân sách nhà nước; 01 (một) sim số 0981.922.762 không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.
- - Số tiền 40.100.000 đồng thu giữ của bị cáo trong quá trình bắt giữ, khám xét và số tiền 40.000.000 đồng bị cáo tác động ông Nguyễn Văn L nộp thay cho bị cáo để khắc phục hậu quả (tuy nhiên bị cáo đã trả cho người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan) không liên quan đến hành vi phạm tội, nên cần trả lại cho bị cáo.
- - Lưu kèm hồ sơ vụ án các giấy tờ liên quan đến hành vi phạm tội, thu giữ tại nhà Lê Thị T và 01 phong bì bên trong có đĩa DVD ghi âm, ghi hình đối với bị cáo Lê Thị Tuyết .
- Về các vấn đề khác: đối với hành vi cho vợ chồng anh Hà Xuân T1, chị Lưu Thị G vay tiền với lãi suất vượt quá 20%/năm, nhưng dưới 100%/năm của Lê Thị T: ngày 05/9/2024 Cơ quan điều tra C (nay là thành phố) Đông Triều đã chuyển hồ sơ đến Ủy ban nhân dân thị xã Đ, cùng ngày Chủ tịch Ủy ban nhân dân thị xã (nay là thành phố) Đông Triều đã ban hành Quyết định xử phạt hành chính đối với hành vi cho vay lãi của Lê Thị Tuyết .
- Về biện pháp ngăn chặn: do bị cáo không bị áp dụng hình phạt tù có thời hạn, vì vậy cần huỷ bỏ biện pháp ngăn chặn theo “Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú” và “Quyết định tạm hoãn xuất cảnh” đối với bị cáo.
- Về án phí: bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
- Về quyền kháng cáo: bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
-
Về tội danh và hình phạt:
Căn cứ: khoản 2, 3 Điều 201; khoản 2, 3 Điều 35; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, khoản 2 và khoản 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lê Thị T 09 (chín) tháng tù cho hưởng án treo về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”, thời gian thử thách 18 (mười tám) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 21 tháng 11 năm 2024).
Phạt bổ sung đối với bị cáo Lê Thị Tuyết 1 (mười triệu đồng) sung Ngân sách Nhà nước.
Giao bị cáo Lê Thị T cho Ủy ban nhân dân phường M, thành phố Đ, tỉnh Quảng Ninh giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân phường M, thành phố Đ, tỉnh Quảng Ninh trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
-
Về biện pháp tư pháp: áp dụng điểm a, b khoản 1 Điều 47, khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự:
- - Tịch thu bị cáo Lê Thị T số tiền 5.041.096đ (năm triệu không trăm bốn mươi mốt nghìn không trăm chín mươi sáu đồng) để sung ngân sách nhà nước.
- - Buộc anh Hà Xuân T1 và chị Lưu Thị G nộp lại số tiền 200.000.000₫ (hai trăm triệu đồng) để sung ngân sách nhà nước.
-
Về xử lý vật chứng: điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- + Trả lại bị cáo Lê Thị T 01 (một) điện thoại di dộng nhãn hiệu Realme, vỏ màu xanh, gắn sim số 0916.926.954.
- + Tịch thu sung ngân sách nhà nước 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 Promax, vỏ màu tím.
- + Tịch thu tiêu hủy sim điện thoại số 0981.922.xxx.
- (Số vật chứng, tài sản trên có tình trạng và đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng số 07 ngày 08 tháng 10 năm 2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Đ và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh).
- + Trả lại cho bị cáo Lê Thị T số tiền 80.100.000₫ (tám mươi triệu một trăm nghìn đồng).
- (Số tiền trên được đựng trong các gói niêm phong số 367 theo biên bản giao nhận tài sản số 20 ngày 25/6/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Đ và Kho bạc Nhà nước thành phố Đ).
-
Về xử lý biện pháp ngăn chặn: căn cứ điểm d khoản 1 Điều 125 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Hủy bỏ biện pháp ngăn chặn theo “Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú” số 99/2024/LC -ĐKNCT ngày 23/10/2024 và “Quyết định tạm hoãn xuất cảnh” số 209/2024/QĐ - THXC ngày 23/10/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Đông Triều đối với bị cáo Lê Thị T kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
-
Về án phí: căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án:
Bị cáo Lê Thị T phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: căn cứ Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự, bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Trần Thị Như Quỳnh |
Bản án số 107/2024/HS - ST ngày 21/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÔNG TRIỀU, TỈNH QUẢNG NINH về cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự (usury)
- Số bản án: 107/2024/HS - ST
- Quan hệ pháp luật: Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự (Usury)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÔNG TRIỀU, TỈNH QUẢNG NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lê Thị T
