TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIỀN HẢI TỈNH THÁI BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 107/2024/HSST Ngày: 12 - 11 - 2024. |
NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIỀN HẢI - TỈNH THÁI BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Lương Hải Yến.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Đặng Thị Hòa;
- Ông Nguyễn Đức Dương.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Yến - Thư ký Toà án nhân dân huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa: Ông Phạm Quang Huy - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 11 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 105/2024/HSST ngày 18 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 109/2024/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo:
Vũ Minh H, sinh năm 1981 Giới tính: Nam
Nơi cư trú: Thôn Đ, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 09/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông Vũ Tuấn V (đã chết) và bà Lương Thị N; Vợ: chị Nguyễn Thị T; Con: 02 con, con lớn sinh năm 2017, con nhỏ sinh năm 2019; Tiền án, Tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 14/4/2009 bị Công an huyện T xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy; Bản án số 38/2009/HSST ngày 28/7/2009 Tòa án nhân dân huyện Tiền Hải xử phạt 27 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; Ngày 27/12/2017 bị Công an huyện T xử phạt hành chính về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 09/8/2024 đến ngày 15/8/2024 chuyển tạm giam, hiện đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện T (có mặt).
*Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Bà Lương Thị N, sinh năm 1960 (có mặt)
Nơi cư trú: Tổ dân phố B, thị trấn T, huyện T, tỉnh Thái Bình.
* Người chứng kiến:
- Ông Nguyễn Văn T1, sinh năm 1963 (vắng mặt).
- Ông Chu Văn N1, sinh năm 1954 (vắng mặt).
Đều trú tại: Thôn T, xã A, huyện T, tỉnh Thái Bình.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do có nhu cầu sử dụng ma túy nên khoảng 11 giờ 00 phút ngày 09/8/2024, Vũ Minh H điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirus màu trắng đen biển kiểm soát 17N8 – 1959 đi từ nhà đến khu vực cầu C, thuộc phường Q, thành phố T mục đích tìm mua ma túy. Tại đây, H gặp một người đàn ông không biết tên, tuổi, địa chỉ, nghi ngờ người này có ma túy bán nên H hỏi mua 300.000 đồng tiền ma túy loại Heroin. Người này nhận tiền và đưa cho H 03 gói ma túy loại Heroin có tổng khối lượng 0,1750 gam bên ngoài được gói bằng giấy bạc màu trắng. Nhận 03 gói ma túy, H cất giấu vào túi quần phía sau bên trái đang mặc rồi điều khiển xe mô tô đi về. Khoàng 12 giờ 10 phút cùng ngày khi H đi đến km 23+300, quốc lộ C thuộc địa phận thôn T, xã A thì bị tổ công tác Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T phối hợp với phòng Cảnh sát giao thông Công an tỉnh T phát hiện, yêu cầu dừng lại để làm việc. Quá trình làm việc H đã tự giác lấy 03 gói ma túy trong túi quần phía sau bên trái ra giao nộp cho tổ công tác.
Tại bản Kết luận giám định số 1238/KL – KTHS ngày 13/8/2024 của Phòng K - Công an tỉnh T, kết luận: “Mẫu gửi giám định là ma túy, loại Heroin (Heroine), có khối lượng 0,1750 gam”.
Bản cáo trạng số 113/CT-VKSTH ngày 18/10/2024 Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình truy tố bị cáo Vũ Minh H về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà, bị cáo Vũ Minh H khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như bản cáo trạng đã truy tố. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố: bị cáo Vũ Minh H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Vũ Minh H từ 01 (một) năm 09 (chín) tháng đến 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 09/8/2024. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Ngoài ra còn đề nghị xử lý vật chứng và án phí.
Bị cáo không có ý kiến gì tranh luận với Kiểm sát viên về bản luận tội.
Kết thúc phần tranh luận, bị cáo nói lời sau cùng: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng: Quyết định tố tụng, hành vi tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiền Hải, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tại phiên tòa, không ai có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về căn cứ kết tội đối với bị cáo: Xét thấy lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai trong giai đoạn điều tra, truy tố và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ được thu thập hợp pháp có trong hồ sơ vụ án như:
- Biên bản bắt người phạm tội quả tang; Biên bản tạm giữ tài sản, đồ vật, tài liệu và biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ do Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T lập cùng ngày 09/8/2024 tại trụ sở Ủy ban nhân dân xã A, huyện T;
- Quyết định tạm giữ tài sản, đồ vật, tài liệu do cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T lập ngày 09/8/2024;
- Bản kết luận giám định số 1238/KL – KTHS ngày 13/8/2024 của Phòng K Công an tỉnh T;
- Biên bản ghi lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Lương Thị N và những người chứng kiến là ông Nguyễn Văn T1 và ông Chu Văn N1.
Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 12 giờ 10 phút ngày 09/8/2024, tại khu vực km 23+ 300, quốc lộ C thuộc địa phận thôn T, xã A, huyện T, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T phối hợp cùng phòng C1 Công an tỉnh T phát hiện bắt quả tang Vũ Minh H đang tàng trữ trái phép 03 gói ma túy loại Heroin, có khối lượng 0,1750 gam trong túi quần phía sau bên trái đang mặc mục đích để sử dụng cho bản thân.
Hành vi của bị cáo Vũ Minh H đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” như cáo trạng mà Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiền Hải đã truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật. Tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 249 Bộ luật hình sự.
‘Điều 249: Tội tàng trữ trái phép chất ma túy:
1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
...
c) Heroine, C, Methamphetamine, Amphetamin, MDMA hoặc XLR – 11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;
...
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”.
[3] Về tính chất, mức độ hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý chất ma túy của nhà nước, ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự và an toàn xã hội tại địa phương. Bị cáo đã nhiều lần bị xử phạt vi phạm hành chính và xét xử về hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học mà vẫn tiếp tục phạm tội. Bị cáo tàng trữ 0,1750gam heroine với mục đích để sử dụng, vì vậy cần áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự để xét xử đối với bị cáo.
[4] Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
* Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu, đã 02 lần bị xử phạt hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, tàng trữ trái phép chất ma túy và 01 lần bị xét xử về tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
* Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo Vũ Minh H không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.
* Về tình tiết giảm nhẹ: Sau khi phạm tội, bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình. Vì vậy bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 điều 51 Bộ luật Hình sự.
[5] Về hình phạt:
- Về hình phạt chính chính: Căn cứ vào tính chất, mức độ hậu quả của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, cần xử phạt bị cáo mức án tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà là phù hợp pháp luật.
- Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, tàng trữ ma túy với mục đích sử dụng, không nhằm bán kiếm lời nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[6] Về vật chứng của vụ án:
- Đối với 0,1420 gam (không phẩy một nghìn bốn trăm hai mươi gam) Heroin hoàn lại sau giám định là vật nhà nước cấm tàng trữ nên cần tịch thu tiêu hủy cùng toàn bộ bao gói quản lý của Vũ Minh H được niêm phong trong phong bì hoàn trả mẫu vật giám định số 1238/KL – KTHS của phòng K Công an tỉnh T.
- Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirus, màu trắng đen, biển kiểm soát 17N8 – 1959, quá trình điều tra xác định chiếc xe này là của bà Lương Thị N, bà N đã mua của ông Trần Văn T2, địa chỉ: Tổ dân phố B, thị trấn T vào năm 2013. Ngày 09/8/2024, bà cho Vũ Minh H mượn xe để đi làm, không biết H mượn xe để đi mua ma túy nên cần trả lại chiếc xe này cho bà N là phù hợp.
[7] Về nguồn gốc số Heroine mà cơ quan Công an thu giữ của Vũ Minh H, H khai mua của một người đàn ông không rõ tên, tuổi, địa chỉ tại khu V thuộc phường Q, thành phố T. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T đã tiến hành xác minh nhưng không xác định được người đàn ông đã bán ma túy cho H để xử lý.
[8]. Về án phí: Bị cáo Vũ Minh H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[9]. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 50; Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106; khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
1/ Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Vũ Minh H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
2/ Về hình phạt:
Xử phạt bị cáo Vũ Minh H 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 09/8/2024.
3/ Về xử lý vật chứng:
- Tịch thu tiêu hủy 0,1420 gam (không phẩy một nghìn bốn trăm hai mươi gam) Heroin hoàn lại sau giám định và toàn bộ bao gói quản lý của Vũ Minh H.
- Trả lại cho bà Lương Thị N 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirus, biển kiểm soát 17N8 - 1959 màu đen trắng đã qua sử dụng.
(Thể hiện chi tiết biên bản giao nhận vật chứng ngày 18/10/2024 giữa Công an huyện T và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tiền Hải).
4/ Về án phí: Bị cáo Vũ Minh H phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
5/ Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (12/11/2024).
Nơi nhận:
| T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Lương Hải Yến |
Bản án số 107/2024/HSST ngày 12/11/2024 của Tòa án nhân dân huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình về tàng trữ trái phép chất ma túy (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 107/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vũ Minh H - Phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý
