|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ SƠN TÂY THÀNH PHỐ HÀ NỘI Số: 107/2024/HSST Ngày 08/11/2024. |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ SƠN TÂY, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Với Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm:
- + Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lã Hùng Cường
- + Các Hội thẩm nhân dân: Bà Đào Thị Minh Nguyệt; Ông Đào Huy Dương.
Đại diện Viện kiểm sát nhân thị xã Sơn Tây tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy Dịu - Kiểm sát viên sơ cấp.
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Tiến Dũng – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Sơn Tây.
Ngày 08 tháng 11 năm 2024 tại phòng xử án hình sự Tòa án nhân dân thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội. Tòa án nhân dân thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội tiến hành mở phiên tòa sơ thẩm công khai xét xử vụ án hình sự thụ lý số: 102/2024/HSST ngày 04 tháng 10 năm 2024 đối với các bị cáo:
- Nguyễn Thành L, sinh năm 1992; Tên gọi khác: không; Nơi ĐKNKTT và trú tại: Thôn F, xã Y, huyện T, t.p Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Nghề nghiệp: Công nhân; Trình độ văn hoá: 12/12; Con ông: Nguyễn Tiến S, sinh năm: 1957; Con bà: Đỗ Thị N, sinh năm: 1968; Vợ: Đinh Thị H, sinh năm: 1990; Có 01 con sinh năm 2022; - Nhân thân: Bản án số 41/2018/HSST, ngày 15/3/2018, Toà án nhân dân huyện Chương Mỹ, Hà Nội xử 06 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách 12 tháng-Về tội “Trộm cắp tài sản”; Bị cáo đã thi hành án xong phần hình phạt và dân sự; Tiền án; Tiền sự: không; Bị cáo L bị bắt tạm giữ từ ngày 05/7/2024 đến ngày 14/7/2024 được áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú.
- Nguyễn Văn H1, sinh năm 1999; Tên gọi khác: không; Nơi ĐKNKTTvà trú tại: Thôn H, xã T, huyện B, t.p Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Nghề nghiệp: Công nhân; Trình độ văn hoá: 12/12; Con ông: Nguyễn Văn H2, sinh năm: 1974; Con bà: Hoàng Thị L1, sinh năm: 1976; Vợ, con: chưa có; Tiền án; tiền sự: không; Bị cáo H1 bị bắt tạm giữ từ ngày 05/7/2024 đến ngày 14/7/2024 được áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú.
- Lý Văn C, sinh năm 2001; Tên gọi khác: không; Nơi ĐKNKTT: Bản N, xã B, huyện M, tỉnh Lai Châu; Chỗ ở hiện nay: Số B đường Đ, phường X, thị xã S, t.p Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam, Dân tộc: Thái; Tôn giáo: không; Nghề nghiệp: Công nhân; Trình độ văn hoá: 12/12; Con ông: Lý Văn T (đã chết); Con bà: Lù Thị P, sinh năm: 1969; Vợ, con: chưa có; Tiền án; tiền sự: không; Bị cáo C bị bắt tạm giữ từ ngày 06/7/2024 đến ngày 14/7/2024 được áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú.
- Nguyễn Mạnh L2, sinh năm 1993; Tên gọi khác: không; Nơi ĐKNKTT và trú tại: Thôn V, xã X, thị xã S, t.p Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam, Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Nghề nghiệp: Công nhân; Trình độ văn hoá: 12/12; Con ông: Nguyễn Văn L3, sinh năm: 1965; Con bà: Nguyễn Thị H3, sinh năm: 1968; Vợ, con: chưa có; Tiền án; tiền sự: không; Bị cáo L2 bị bắt tạm giữ từ ngày 06/7/2024 đến ngày 14/7/2024 được áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú.
- Nguyễn Mạnh N1, sinh năm 1996; Tên gọi khác: không; Nơi ĐKNKTT và trú tại: Thôn V, xã X, thị xã S, t.p Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam, Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 9/12; Con ông: Nguyễn Văn T1 (đã chết); Con bà: Chu Thị N2, sinh năm: 1969; Vợ: Nguyễn Thị H4, sinh năm 1998;Có 02 con, con lớn sinh năm 2016, con nhỏ sinh năm 2017; Nhân thân: Bản án số 33/2017/HSST, ngày 31/03/2017, Tòa án nhân dân thị xã Sơn Tây xử phạt 7.000.000 đồng - Về tội “Đánh bạc”; Đã thi hành án xong; Tiền án; Tiền sự: không; Bị cáo tại ngoại, bị áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú.
- Cao Văn B, sinh năm 2001; Tên gọi khác: không; Nơi ĐKNKTT và trú tại: Thôn H, xã T, huyện B, t.p Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Nghề nghiệp: Công nhân; Trình độ văn hoá: 12/12; Con ông: Cao Văn T2, sinh năm 1961; Con bà: Kim Thị V, sinh năm: 1965; Vợ: Phạm Thị Tuyết N3, sinh năm 2000; Có 01 con sinh năm 2023; Tiền án; tiền sự: không; Bị cáo B bị bắt tạm giữ từ ngày 05/7/2024 đến ngày 14/7/2024 được áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú.
- Phan Thế H5, sinh năm 1998; Tên gọi khác: không; Nơi ĐKNKTT và trú tại: Thôn Đ, xã Đ, S, t.p Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Nghề nghiệp: Công nhân; Trình độ văn hoá: 9/12; Con ông: Phan Văn M, sinh năm 1962; Con bà: Kiều Thị T3, sinh năm: 1965; Vợ: Lê Thị Ngọc P1, sinh năm 1996; Con: chưa có; Tiền án; tiền sự: không; Bị cáo H5 bị bắt tạm giữ từ ngày 05/7/2024 đến ngày 14/7/2024 được áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú.
- Khuất Tiến L4, sinh năm 1996; Tên gọi khác: không; Nơi ĐKNKTT và trú tại: thôn G, xã B, huyện B, t.p Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Nghề nghiệp:Công nhân; Trình độ văn hoá: 12/12; Con ông: Khuất Văn H6, sinh năm 1967; Con bà: Phạm Thị N4, sinh năm: 1967; Vợ: Nguyễn Hồng P2, sinh năm 1997; Có 01 con sinh năm 2021; Tiền án; tiền sự: không; Bị cáo tại ngoại, bị áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú.
Các bị cáo đều có mặt tại phiên tòa;
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 18 giờ 00 ngày 05/7/2024, Nguyễn Thành L ( sinh năm 1992, trú tại: Thôn F, xã Y, huyện T, Hà Nội); Phan Thế H5 ( sinh năm 1998, trú tại: Thôn Đ, xã Đ, TX S); Nguyễn Văn H1 ( sinh năm 1999, Trú tại: Thôn H, xã T, huyện B, Hà Nội); Cao Văn B (sinh năm 2001, T4 tại: Thôn H, xã T, huyện B, Hà Nội); Nguyễn Mạnh L2 (sinh năm: 1993, trú tại: Thôn V, xã X, TX S, Hà Nội); Khuất Tiến L4 (sinh năm: 1996, trú tại: Thôn G, xã B, huyện B, Hà Nội); Nguyễn Mạnh N1 ( sinh năm: 1996, trú tại: Thôn V, xã X, TX S) cùng nhau đi uống bia tại cổng làng thôn H, xã T, B Hà Nội. Trong khi uống bia Nguyễn Thành L rủ các đối tượng về phòng trọ của Lý Văn C, địa chỉ: 2 đường Đ, phường X, TX S, Hà Nội để đánh bạc. Khi đó Lý Văn C ( sinh năm: 2001, nơi thường trú: Bản N, xã B, huyện M, tỉnh Lai Châu), đang thuê phòng trọ tại địa chỉ: Số nhà B đường Đ, phường X, TX S, có mặt ở đó và C đồng ý và nói: tí em có việc, các anh cứ về phòng em mà chơi. Sau đó Nguyễn Văn H1 bảo C đưa chìa khóa cho H1, rồi tất cả cùng nhau đi về phòng trọ của C, để đánh bạc được thua bằng tiền dưới hình thức đánh “liêng”. Trên đường đi H5 vào tiệm tạp hóa mua 02 bộ bài tú lơ khơ để đánh bạc. Khi về đến phòng trọ của C lúc này có 06 người gồm: Mạnh L2, C, L, Tiến L4, B và N1 về trước do không có chìa khoá phòng nên đợi bên ngoài. Một lúc sau H5, H1 về đến, H1 đưa lại chìa khoá phòng cho C mở cửa, bật điện, bật quạt. Sau đó Mạnh L2, L, H5, H1, Tiến L4, B, N1 ngồi lên giường, H5 lấy 01 bộ bài tú lơ khơ để xuống giường, L chia bài cho các đối tượng để cùng nhau đánh “liêng”. Lý Văn C là chủ nhà đứng phía sau lưng của H1 và không tham gia đánh bạc. Trước khi vào đánh bạc, H1 có hỏi vay C số tiền 100.000 đồng, C đồng ý và đưa cho H1 tờ tiền có mệnh giá 100.000 đồng H1 sử dụng vào đánh bạc.
Hình thức đánh bạc quy ước như sau:
- - Quy định về “sáp”, “liêng” và cách tính điểm như sau: Tiền “gà” 20.000 đồng và “tố” cao nhất là 200.000 đồng;
- + Cách tính điểm: Tính điểm 03 quân bài và người chơi có điểm cao nhất sẽ thắng (các quân bài 10, J, Q, K sẽ được tính là 0 điểm). Điểm cao nhất là 9 nếu cùng điểm sẽ xét theo chất rô, cơ, tép, bích.
- + “Sáp” là 03 quân bài cùng giá trị, nếu có người cùng có sáp thì người nào có sáp lớn hơn sẽ thắng, đi từ 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, J, Q, K, A (sáp A là cao nhất)
- + “Liêng” là 03 quân bài liên tiếp nhau (ví dụ: 1 2 3), nếu hai người chơi có liêng cùng giá trị thì sẽ tính theo chất như cùng là liêng 6, 7, 8 nhưng so theo chất rô, cơ, tép, bích bên nào có chất lớn hơn sẽ thắng.
- - Quy ước về mức sát phạt thắng, thua như sau: mỗi ván gà là 20.000 đồng, “tố” cao nhất là 200.000 đồng, “đồng hoa” là 60.000 đồng và “sáp” là 100.000 đồng.
Khi các đối tượng đánh bạc được khoảng 20 phút thì Lý Văn C có việc nên đi ra người và bảo H1 trả lại số tiền 100.000 đồng C vừa cho vay, H1 đưa trả C 100.000 đồng. Sau đó, C dặn H1: “Lúc nào nghỉ thì tắt điện, quạt đi nhé, khóa phòng khi nào về em qua nhà anh lấy”.
Đến khoảng 19 giờ 30 phút cùng ngày, do bị thua hết tiền nên Khuất Tiến L4 về trước. Đến khoảng 20 giờ 00 cùng ngày, thì N1 và Mạnh L2 cũng bị thua hết số tiền mang theo nên cũng đi về nhà. Lúc này, còn lại 04 người gồm: L, H5, H1, B tiếp tục đánh bạc đến 21 giờ 00 phút ngày 05/7/2024,thì bị Đội CSHS Công an T5 bắt quả tang
Vật chứng thu giữ gồm: - Tổng số tiền: 6.760.000 đồng (Sáu triệu bảy trăm sáu mươi nghìn đồng), trong đó: - 01 (một) bộ tú lơ khơ gồm 52 quân;
- - 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A14, vỏ ngoài màu tím, bên trong lắp 02 sim: 0982215693 và 0985699190; SỐ I: 357865262368009; Số I 2: 358164362368005, đã qua sử dụng, của Nguyễn Thành L.
- - 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Redmi Note 10s, vỏ ngoài màu xanh, bên trong lắp sim số: 0961760743; Số Imei 1: 860364050536803, số Imei 2: 860364050536811, đã qua sử dụng. Tạm giữ của Cao Văn B.
- - 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11, vỏ ngoài màu xanh, bên trong lắp sim số: 0368861089;SỐ I: 35029372195389; SỐ I 2: 350293721602727, đã qua sử dụng. Tạm giữ của Phan Thế H5.
- - 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11, bên trong lắp 01 sim số: 0965.513.654; vỏ ngoài màu đen, số Imei: 352737591988689; số Imei 2: 352737593320394, đã qua sử dụng. Tạm giữ của Nguyễn Văn H1.
Quá trình điều tra, ngày 30/7/20204 Nguyễn Mạnh L2 đã nộp số tiền 2.000.000 đồng trong tài khoản Linh mục đích sử dụng để đánh bạc
- - 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone Xsmax, màu gold bên trong lắp 01 sim số: 0357542547; số Imei: 353096105747340; số Imeid: 35309610574734, đã qua sử dụng. Tạm giữ của Lý Văn C.
Các đối tượng khai nhận: L mang theo khoảng 1.000.000 đồng; H1 mang theo 500.000 đồng; N1 mang theo khoảng 3.000.000 đồng; Tiến L4 mang theo 200.000 đồng và sử dụng toàn bộ để đánh bạc;
- - H5 vì không mang theo tiền mặt, nên thỏa thuận rồi chuyển khoản cho Mạnh L2 số tiền 2.000.000 đồng. Sau khi được Mạnh L2 đưa cho số tiền 2.000.000 đồng, thì H5 cho B vay số tiền 1.000.000 đồng; rồi cả H5 và B mỗi người có 1.000.000 đồng sử dụng toàn bộ để đánh bạc; Mạnh L2 mang theo số tiền 2.300.000 đồng để sử dụng đánh bạc. Sau khi đổi số tiền 2.000.000 đồng, Mạnh L2 còn lại 300.000 đồng và sử dụng toàn bộ số tiền này để đánh bạc
Về vật chứng Tổng số tiền: 8.760.000 đồng (Tám triệu bảy trăm sáu mươi nghìn đồng); 01 (một) bộ tú lơ khơ gồm 52 quân; 03 chiếc điện thoại, đã qua sử dụng, chuyển đến Chi cục thi hành án dân sự thị xã Sơn Tây để xử lý theo quy định của pháp luật.
Tại bản cáo trạng số 103/CT-VKS ngày 03/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Sơn Tây, t.p Hà Nội truy tố các bị cáo Nguyễn Thành Long, Nguyễn Văn H1, Lý Văn C, Nguyễn Mạnh L2, Nguyễn Mạnh N1, Cao Văn B, Phan Thế H5 và Khuất Tiến L4 -Về tội: “Đánh bạc”, theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Tại phiên tòa, các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân thị xã Sơn Tây truy tố.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Sơn Tây tham gia phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo có tên trên về tội danh, điều luật như cáo trạng đã nêu.
Đề nghị HĐXX: Căn cứ Khoản 1 Điều 321; Điểm s Khoản 1; Khoản 2 Điều 51; Điều 65 – Bộ luật hình sự năm 2015; - Xử phạt bị cáo Nguyễn Thành L, Nguyễn Mạnh N1 từ 09 đến 12 thánh tù. Nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 đến 24 tháng. Miễn hình phạt bổ sung cho các bị cáo.
Căn cứ Khoản 1 Điều 321; Điểm s, Điểm i khoản 1; Khoản 2 Điều 51; Điều 65 - Bộ luật hình sự năm 2015; Xử phạt bị cáo Lý Văn C 07 đến 09 tháng tù. Nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 14 đến 18 tháng.Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
Căn cứ Khoản 1 Điều 321; Điểm s, Đi khoản 1 Điều 51; Điều 65 . Bộ luật hình sự năm 2015; Xử phạt bị cáo Cao Văn B, Phan Thế H5 từ 07 đến 09 tháng tù. Nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 14 đến 18 tháng, kể từ ngày tuyên án . Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H1, Nguyễn Mạnh L2, Khuất Tiến L4 từ 06 đến 08 tháng tù. Nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 đến 16 tháng, kể từ ngày tuyên án . Miễn hình phạt bổ sung cho các bị cáo.
Về tang vật, vật chứng : Đề nghị HĐXX áp dụng Điều 47 BLHS năm 2015; Điều 89, Điều 106 BLTTHS năm 2015:
Tịch thu tiêu hủy : 01 (một) bộ tú lơ khơ gồm 52 quân bài. Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản của Chi cục Thi hành án thị xã Sơn Tây, t.p Hà Nội lập ngày 09/10/2024.
Hoàn trả cho các bị cáo: Nguyễn Thành L, Cao Văn B, Phan Thế H5, Nguyễn Văn H1, Lý Văn C các điện thoại sau không sử dụng vào việc phạm tội :
- - 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A14, vỏ ngoài màu tím, bên trong lắp 02 sim: 0982215693 và 0985699190; SỐ I: 357865262368009; SỐ I 2: 358164362368005, đã qua sử dụng, của Nguyễn Thành L.
- - 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Redmi Note 10s, vỏ ngoài màu xanh, bên trong lắp sim số: 0961760743; Số Imei 1: 860364050536803, số Imei 2: 860364050536811, đã qua sử dụng. Tạm giữ của Cao Văn B.
- - 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11, vỏ ngoài màu xanh, bên trong lắp sim số: 0368861089;SỐ I: 35029372195389; SỐ I 2: 350293721602727, đã qua sử dụng. Tạm giữ của Phan Thế H5.
- - 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11, bên trong lắp 01 sim số: 0965.513.654; vỏ ngoài màu đen, số Imei: 352737591988689; số Imei 2: 352737593320394, đã qua sử dụng. Tạm giữ của Nguyễn Văn H1. Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản của Chi cục Thi hành án thị xã Sơn Tây, t.p Hà Nội lập ngày 09/10/2024.
- + Tịch thu sung công quỹ Nhà Nước số tiền : 8.760.000 đồng (Tám triệu bảy trăm sáu mươi nghìn đồng). Tiền Ngân hàng N6. Theo giấy nộp vào tài khoản số3949.0.1052740, tại KBNN thị xã S của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Sơn Tây, lập ngày 15/10/2024.
Các bị cáo Nguyễn Thành L, Nguyễn Văn H1, Lý Văn C, Nguyễn Mạnh L2, Nguyễn Mạnh N1, Cao Văn B, Phan Thế H5 và Khuất Tiến L4 phải chịu án phí theo quy định của pháp luật .
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
Trên cở sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra Công an thị xã S, thành phố Hà Nội, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội, Kiêm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp, đúng quy định của pháp luật.
Về hành vi phạm tội của các bị cáo:
Tại phiên tòa các bị cáo Nguyễn Thành L, Nguyễn Văn H1, Lý Văn C, Nguyễn Mạnh L2, Nguyễn Mạnh N1, Cao Văn B, Phan Thế H5 và Khuất Tiến L4 đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội đã nêu. Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ. Như vậy, Hội đồng xét xử đã có đủ cơ sở để xác định:
Khoảng 18 giờ 00 ngày 05/7/2024, các bị cáo Nguyễn Thành L, Phan Thế H5, Nguyễn Văn H1, Cao Văn B, Nguyễn Mạnh L2, Khuất Tiến L4, Nguyễn Mạnh N1, cùng nhau đi uống bia tại cổng làng thôn H, xã T, B Hà Nội. Trong khi uống bia bị cáo Nguyễn Thành L rủ các bị cáo có tên trên về phòng trọ của bị cáo Lý Văn C, địa chỉ: 2 đường Đ, phường X, t.x S, t.p Hà Nội để đánh bạc. Khi đó bị cáo Lý Văn C có mặt ở đó đồng ý và nói: Tí em có việc, các anh cứ về phòng em mà chơi. Sau đó bị cáo Nguyễn Văn H1 bảo bị cáo C đưa chìa khóa cho bị cáo H1, rồi tất cả cùng nhau đi về phòng trọ của C, để đánh bạc được thua bằng tiền dưới hình thức đánh “liêng”.
Trên đường đi bị cáo H5 vào tiệm tạp hóa mua 02 bộ bài tú lơ khơ để đánh bạc. Khi về đến phòng trọ của C lúc này có 06 bị cáo là: Mạnh L2, C, L, Tiến L4, B và N1 về trước do không có chìa khoá phòng nên đợi bên ngoài. Một lúc sau bị cáo H5, H1 về, bị cáo H1 đưa lại chìa khoá phòng cho bị cáo C mở cửa, bật điện, bật quạt. Sau đó các bị cáo Mạnh L2, L, H5, H1, Tiến L4, B, N1 ngồi lên giường, bị cáo H5 lấy 01 bộ bài tú lơ khơ để xuống giường, bị cáo L chia bài cho các đối tượng để cùng nhau đánh “liêng”. Bị cáo Lý Văn C là chủ nhà đứng phía sau lưng của bị cáo H1 và không tham gia đánh bạc. Trước khi vào đánh bạc, bị cáo H1 có hỏi vay của bị cáo C số tiền 100.000 đồng, C đồng ý và đưa cho H1 tờ tiền có mệnh giá 100.000 đồng, bị cáo H1 sử dụng vào đánh bạc.
Khi các đối tượng đánh bạc được khoảng 20 phút thì bị cáo Lý Văn C có việc nên đi ra ngoài và bảo bị cáo H1 trả lại số tiền 100.000 đồng, bị cáo C vừa cho vay, bị cáo H1 đưa trả cho bị cáo C 100.000 đồng. Sau đó, bị cáo C dặn bị cáo H1: “Lúc nào nghỉ thì tắt điện, quạt đi nhé, khóa phòng khi nào về em qua nhà anh lấy”.
Đến khoảng 19 giờ 30 phút cùng ngày, do bị thua hết tiền nên bị cáo Khuất Tiến L4 về trước. Đến khoảng 20 giờ 00 cùng ngày, thì bị cáo N1 và Mạnh L2 cũng bị thua hết số tiền mang theo nên cũng đi về nhà. Lúc này, còn lại 04 bị cáo gồm: L, H5, H1, B tiếp tục đánh bạc đến 21 giờ 00 phút ngày 05/7/2024,thì bị Đội CSHS Công an T5 bắt quả tang.
Vật chứng thu giữ gồm:
- - Tổng số tiền: 6.760.000 đồng (Sáu triệu bảy trăm sáu mươi nghìn đồng), trong đó:
- - 01 (một) bộ tú lơ khơ gồm 52 quân; - 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A14, vỏ ngoài màu tím, bên trong lắp 02 sim: 0982215693 và 0985699190; Số I: 357865262368009; Số I 2: 358164362368005, đã qua sử dụng, của Nguyễn Thành L.
- - 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Redmi Note 10s, vỏ ngoài màu xanh, bên trong lắp sim số: 0961760743; Số Imei 1: 860364050536803, số Imei 2: 860364050536811, đã qua sử dụng. Tạm giữ của Cao Văn B.
- - 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11, vỏ ngoài màu xanh, bên trong lắp sim số: 0368861089;SỐ I: 35029372195389; SỐ I 2: 350293721602727, đã qua sử dụng. Tạm giữ của Phan Thế H5.
- - 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11, bên trong lắp 01 sim số: 0965.513.654; vỏ ngoài màu đen, số Imei: 352737591988689; số Imei 2: 352737593320394, đã qua sử dụng. Tạm giữ của Nguyễn Văn H1.
- - 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone Xsmax, màu gold bên trong lắp 01 sim số: 0357542547; số Imei: 353096105747340; số Imeid: 35309610574734, đã qua sử dụng. Tạm giữ của Lý Văn C.
Quá trình điều tra, ngày 30/7/20204 bị cáo Nguyễn Mạnh L2 đã nộp số tiền 2.000.000 đồng trong tài khoản Linh mục đích sử dụng để đánh bạc .
Các bị cáo khai nhận: Bị cáo L mang theo khoảng 1.000.000 đồng; Bị cáo H1 mang theo 500.000 đồng; Bị cáo N1 mang theo khoảng 3.000.000 đồng; Bị cáo Tiến L4 mang theo 200.000 đồng và sử dụng toàn bộ để đánh bạc;
- - Bị cáo H5 vì không mang theo tiền mặt, nên thỏa thuận rồi chuyển khoản cho bị cáo Mạnh L2 số tiền 2.000.000 đồng. Sau khi được bị cáo Mạnh L2 đưa cho số tiền 2.000.000 đồng, thì bị cáo H5 cho bị cáo B vay số tiền 1.000.000 đồng; rồi cả bị cáo H5 và B mỗi bị cáo có 1.000.000 đồng sử dụng toàn bộ để đánh bạc; Bị cáo Mạnh L2 mang theo số tiền mặt là 2.300.000 đồng để sử dụng đánh bạc. Sau khi đổi số tiền 2.000.000 đồng, bị cáo Mạnh L2 còn lại 300.000 đồng và sử dụng toàn bộ số tiền này để đánh bạc.
Về vật chứng Tổng số tiền: 8.760.000 đồng (Tám triệu bảy trăm sáu mươi nghìn đồng); 01 (một) bộ tú lơ khơ gồm 52 quân; 05 chiếc điện thoại, đã qua sử dụng.
Hành vi đánh bạc được thua bằng tiền dưới hình thức chơi “đánh liêng” bằng tú lơ khơ, với tổng số tiền giữa các bị cáo Nguyễn Thành L, Nguyễn Văn H1, Nguyễn Mạnh L2, Nguyễn Mạnh N1, Cao Văn B, Phan Thế H5 và Khuất Tiến L4, tham gia sát phạt nhau là 8.760.000 đồng (Tám triệu bảy trăm sáu mươi nghìn đồng).
Bị cáo Lý Văn C mặc dù không tham gia đánh bạc nhưng bị cáo là người đồng ý cho các con bạc đánh bạc, cho người khác vay tiền để đánh bạc tại nhà mình đã đi thuê người khác làm nơi ăn ở hàng ngày để đánh bạc. Bị cáo C không thu phế tiền đánh bạc, số lượng tiền các bị cáo dùng để đánh bạc dưới 20.000.000 đồng và số lượng người tham gia đánh bạc là dưới 10 người nên hành vi của bị cáo C không cấu thành tội: Tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc, mà chỉ đồng phạm với các bị cáo có tên nêu trên về tội đánh bạc.
Bị cáo Phan Thế H5 chuyển khoản số tiền 2.000.000,đ trên điện thoại cho bị cáo Nguyễn Mạnh L2, khi bị cáo Mạnh L2 nhận được đã đưa cho bị cáo H5 2.000.000,đ để bị cáo H5 sử dụng vào việc đánh bạc 1.000.000,đ và cho bị cáo Cao Văn B vay 1.000.000,đ để tham gia đánh bạc. Nay Cơ quan Điều tra đã thu giữ của bị cáo Mạnh L2 số tiền 2.000.000,đ. HĐXX tuyên bố sung công quỹ số tiền này là có căn cứ.
Do vậy có đủ căn cứ xác định bị cáo Nguyễn Thành L, Nguyễn Văn H1, Nguyễn Mạnh L2, Nguyễn Mạnh N1, Cao Văn B, Phan Thế H5 và Khuất Tiến L4 và Lý Văn C, tham gia phạm tội là có căn cứ. Hành vi của các bị cáo có tên nêu trên đã cấu thành tội: "Đánh bạc". Do vậy Viện kiểm sát nhân dân thị xã Sơn Tây, t.p Hà Nội đã truy tố các bị cáo về tội: "Đánh bạc". theo Khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi bổ sung năm 2017 là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Xét tính chất của vụ án là nghiêm trọng, hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây mất trật tự công cộng, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự địa phương. Tệ nạn cờ bạc cũng là mầm mống phát sinh nhiều các tệ nạn xã hội và các tội phạm khác. Do vậy cần phải có mức án nghiêm khắc tương xứng với hành vi phạm tội của các bị cáo để giáo dục riêng và bài học cảnh tỉnh chung.
Trong vụ án này có nhiều bị cáo cùng tham gia có tính đồng phạm, mang tính bột phát, phạm tội không có tổ chức, không có sự chuẩn bị công cụ phương tiện đánh bạc. Do vậy cần phải đánh giá tính chất, mức độ phạm tội của từng bị cáo để áp dụng hình phạt. Trong tội đánh bạc cần đánh giá vai trò của từng bị cáo mức độ hành vi phạm tội cho phù hợp :
Vai trò cao nhất là: Bị cáo Nguyễn Thành L rủ các bị cáo có tên trên về phòng trọ của bị cáo Lý Văn C để đánh bạc. Bị cáo N1 mang theo khoảng 3.000.000 đồng vào mục đích đánh bạc, nên các bị cáo L và N1 là vai trò đầu vụ .
Vai trò thứ hai : Bị cáo Lý Văn C lấy nhà mình đã đi thuê làm địa điểm đánh bạc; Bị cáo Phan Thế H5 là người đi mua bài, chuẩn bị công cụ phạm tội đồng thời chuyển khoản cho bị cáo Mạnh L2 số tiền 2.000.000 đồng số tiền này đưa cho bị cáo B vay 1.000.000,đ để tham gia đánh bạc. Các bị cáo C, H5 và B giữ vai trò thứ hai đồng phạm tích cực.
Vai trò thứ ba các bị cáo còn lại gồm: Bị cáo Mạnh L2 mang theo số tiền 300.000 đồng để sử dụng đánh bạc. Nguyễn Văn H1 và Khuất Tiến L4 khi tham gia đánh bạc mang theo 500.000,đ và 200.000,đ. Các bị cáo giữ vai trò thứ ba đồng phạm tích cực.
Do vậy khi lượng hình, ngoài hành vi, nhân thân các bị cáo, Hội đồng xét xử xem xét đầy đủ các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để quyết định mức hình phạt phù hợp.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo: Nguyễn Văn H1, Nguyễn Mạnh L2, Cao Văn B, Phan Thế H5 và Khuất Tiến L4 và Lý Văn C, đều tỏ ra thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Các bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, Do vậy các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại Điểm s, Điểm i khoản 1 Điều 51 – BLHS năm 2015;
Các bị cáo Nguyễn Thành L, Nguyễn Mạnh N1, đều tỏ ra thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Do vậy các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại Điểm s Khoản 1 Điều 51 – BLHS năm 2015;
Các bị cáo Nguyễn Thành L, Nguyễn Mạnh N1, Lý Văn C đều có hoàn cảnh gia đình khó khăn; Đối với bị cáo N1 bố mất sớm, nuôi con nhỏ; Bị cáo C là người dân tộc thiểu số có mẹ đẻ là công dân hỏa tuyến là người có công với Nhà N5; Bị cáo L có hoàn cảnh khó khăn, vợ thường đau yếu phải đi điều trị tại bệnh viện. Các bị cáo đều là lao động chính của gia đình có hoàn cảnh neo đơn, khó khăn; Đều có xác nhận của chính quyền địa phương, nên các bị cáo Nguyễn Thành L, Nguyễn Mạnh N1, Lý Văn C được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo K 2 Điều 51- Bộ luật hình sự năm 2015.
Về các tình tiết tăng nặng: Các bị cáo có tên trên đều không phải chịu tình tiết tăng nặng.
Đối với các bị cáo Nguyễn Thành L, Nguyễn Mạnh N1 đều có nhân thân xấu do trước đây vi phạm pháp luật, đã được xóa án tích nhiều năm nay, các bị cáo đều tỏ ra thành khẩn và ăn năn hối cải, có nơi ở và cư trú rõ ràng. Các bị cáo bột phát phạm tội không có sự chuẩn bị từ trước, tham gia phạm tội số tiền ít, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, các bị cáo đều là lao động chính có hoàn cảnh gia đình đặc biệt khó khăn, có xác nhận của chính quyền địa phương. Nên chỉ cần áp dụng Điều 65- BLHS năm 2015 cho bị cáo, được hưởng án treo cải tạo tại địa phương, với thời gian thử thách nhất định đối với các bị cáo cũng đủ điều kiện cải tạo chịu thử thách theo pháp luật. Các bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn nên HĐXX miễn hình phạt bổ sung cho các bị cáo .
Bị cáo Lý Văn C không tham gia đánh bạc nhưng lấy nhà mình thuê trọ làm nơi cho các bị cáo đánh bạc, tạo điều kiện cho các bị cáo sát phạt nhau, nên bị cáo đồng phạm với tội đánh bạc. Các bị cáo Lý Văn C, Nguyễn Văn H1, Nguyễn Mạnh L2, Cao Văn B, Phan Thế H5 và Khuất Tiến L4 phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, quá trình điều tra và tại phiên tòa đã thành khẩn khai báo tỏ ra ăn năn hối cải, có nơi ở và cư trú rõ ràng. Nên chỉ cần áp dụng Điều 65- BLHS năm 2015 cho bị cáo, được hưởng án treo cải tạo tại địa phương, với thời gian thử thách nhất định đối với các bị cáo cũng đủ điều kiện cải tạo chịu thử thách theo pháp luật. Các bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn nên HĐXX miễn hình phạt bổ sung cho các bị cáo .
Quá trình điều tra đã xác định: Đối với địa điểm điểm đánh bạc tại phòng trọ của bị cáo Lý Văn C tại địa chỉ: Số B đường Đ, phường X, TX S, Hà Nội. Là nhà của bà Phan Thị Hồng S1, sinh năm: 1975, trú tại: Thôn H, xã V, huyện B, Hà Nội, bà S1 cho bị cáo C thuê phòng để làm chỗ ở. Bà S1 không biết việc bị cáo C sử dụng phòng trọ để cho các bị cáo trong vụ án sử dụng đánh bạc, vì vậy không có căn cứ xử lý đối với bà S1 là có căn cứ. Nên HĐXX không xét.
Về tang vật, vật chứng : Cần áp dụng Điều 47 BLHS năm 2015; Điều 89, Điều 106 BLTTHS năm 2015:
Tịch thu tiêu hủy : 01 (một) bộ tú lơ khơ gồm 52 quân bài. Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản của Chi cục Thi hành án thị xã Sơn Tây, t.p Hà Nội lập ngày 09/10/2024.
Hoàn trả cho các bị cáo: Nguyễn Thành L, Cao Văn B, Phan Thế H5, Nguyễn Văn H1, Lý Văn C các điện thoại sau không sử dụng vào việc phạm tội :
- - 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A14, vỏ ngoài màu tím, bên trong lắp 02 sim: 0982215693 và 0985699190; SỐ I: 357865262368009; Số I 2: 358164362368005, đã qua sử dụng, của Nguyễn Thành L.
- - 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Redmi Note 10s, vỏ ngoài màu xanh, bên trong lắp sim số: 0961760743; Số Imei 1: 860364050536803, số Imei 2: 860364050536811, đã qua sử dụng. Tạm giữ của Cao Văn B.
- - 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11, vỏ ngoài màu xanh, bên trong lắp sim số: 0368861089;SỐ I: 35029372195389; SỐ I 2: 350293721602727, đã qua sử dụng. Tạm giữ của Phan Thế H5.
- - 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11, bên trong lắp 01 sim số: 0965.513.654; vỏ ngoài màu đen, số Imei: 352737591988689; số Imei 2: 352737593320394, đã qua sử dụng. Tạm giữ của Nguyễn Văn H1. Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản của Chi cục Thi hành án thị xã Sơn Tây, t.p Hà Nội lập ngày 09/10/2024.
- + Tịch thu sung công quỹ Nhà Nước số tiền : 8.760.000 đồng (Tám triệu bảy trăm sáu mươi nghìn đồng). Tiền Ngân hàng N6. Theo giấy nộp vào tài khoản số3949.0.1052740, tại KBNN thị xã S của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Sơn Tây, lập ngày 15/10/2024.
Các bị cáo Nguyễn Thành L, Nguyễn Văn H1, Lý Văn C, Nguyễn Mạnh L2, Nguyễn Mạnh N1, Cao Văn B, Phan Thế H5 và Khuất Tiến L4 phải chịu án phí theo quy định của pháp luật .
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH
1./Căn cứ Khoản 1 Điều 321- Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Các bị cáo Nguyễn Thành L, Nguyễn Văn H1, Lý Văn C, Nguyễn Mạnh L2, Nguyễn Mạnh N1, Cao Văn B, Phan Thế H5 và Khuất Tiến L4 phạm tội : “Đánh bạc”.
2./ Căn cứ Khoản 1 Điều 321; Điểm s Khoản 1; Khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 65 – Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
- Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Thành L 09 (Chín) tháng tù. Nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 (Mười tám) tháng, kể từ ngày tuyên án . Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo. Giao bị cáo Nguyễn Thành L về UBND xã xã Y, huyện T, t.p Hà Nội, giám sát và giáo dục trong thời gian chấp hành án. Miễn hình phạt bổ sung cho các bị cáo. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Mạnh N1 09 (Chín) tháng tù. Nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 (Mười tám) tháng, kể từ ngày tuyên án . Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo. Giao bị cáo Nguyễn Mạnh N1 về UBND xã X, thị xã S,t.p Hà Nội, giám sát và giáo dục trong thời gian chấp hành án. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo”.
3./ Căn cứ Khoản 1 Điều 321; Điểm s, Điểm i khoản 1; Khoản 2 Điều 51;Điều 17; Điều 65 - Bộ luật hình sự năm 2015;
Xử phạt bị cáo Lý Văn C 07 (Bảy) tháng tù. Nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 14 (Mười bốn) tháng, kể từ ngày tuyên án . Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo. Giao bị cáo Lý Văn C về UBND xã B, huyện M, tỉnh Lai Châu, giám sát và giáo dục trong thời gian chấp hành án. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo”.
4./ Căn cứ Khoản 1 Điều 321; Điểm s, Đi khoản 1 Điều 51;Điều 17; Điều 65 - Bộ luật hình sự năm 2015;
Xử phạt bị cáo Cao Văn B 07 (Bảy) tháng tù. Nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 14 (Mười bốn) tháng, kể từ ngày tuyên án . Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo. Giao bị cáo Cao Văn B về UBND xã T, huyện B, t.p Hà Nội, giám sát và giáo dục trong thời gian chấp hành án. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo”.
Xử phạt bị cáo Phan Thế H5 07 (B1) tháng tù. Nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 14 (Mười bốn) tháng, kể từ ngày tuyên án . Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo. Giao bị cáo Phan Thế H5 về UBND xã Đ, thị xã S, t.p Hà Nội, giám sát và giáo dục trong thời gian chấp hành án. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H1 06 (Sáu) tháng tù. Nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 (Mười hai) tháng, kể từ ngày tuyên án . Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo. Giao bị cáo Nguyễn Văn H1 về UBND xã T, huyện B, t.p Hà Nội, giám sát và giáo dục trong thời gian chấp hành án. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Mạnh L2 06 (Sáu) tháng tù. Nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 (Mười hai) tháng, kể từ ngày tuyên án . Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo. Giao bị cáo Nguyễn Mạnh L2 về UBND xã X, thị xã S, t.p Hà Nội, giám sát và giáo dục trong thời gian chấp hành án. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo”.
Xử phạt bị cáo Khuất Tiến L4 06 (Sáu) tháng tù. Nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 (Mười hai) tháng, kể từ ngày tuyên án . Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo. Giao bị cáo Khuất Tiến L4 về UBND xã B, huyện B, t.p Hà Nội, giám sát và giáo dục trong thời gian chấp hành án. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo”.
5./ Về vật chứng vụ án: Áp dụng Điều 47 – BLHS 2015;Điều 106 BLTTHS năm 2015.
Tịch thu tiêu hủy : 01 (một) bộ tú lơ khơ gồm 52 quân bài. Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản của Chi cục Thi hành án thị xã Sơn Tây, t.p Hà Nội lập ngày 09/10/2024.
Hoàn trả cho các bị cáo: Nguyễn Thành L, Cao Văn B, Phan Thế H5, Nguyễn Văn H1, Lý Văn C các điện thoại sau không sử dụng vào việc phạm tội :
- - 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A14, vỏ ngoài màu tím, bên trong lắp 02 sim: 0982215693 và 0985699190; SỐ I: 357865262368009; Số I 2: 358164362368005, đã qua sử dụng, của Nguyễn Thành L.
- - 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Redmi Note 10s, vỏ ngoài màu xanh, bên trong lắp sim số: 0961760743; Số Imei 1: 860364050536803, số Imei 2: 860364050536811, đã qua sử dụng. Tạm giữ của Cao Văn B.
- - 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11, vỏ ngoài màu xanh, bên trong lắp sim số: 0368861089;SỐ I: 35029372195389; SỐ I 2: 350293721602727, đã qua sử dụng. Tạm giữ của Phan Thế H5.
- - 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11, bên trong lắp 01 sim số: 0965.513.654; vỏ ngoài màu đen, số Imei: 352737591988689; số Imei 2: 352737593320394, đã qua sử dụng. Tạm giữ của Nguyễn Văn H1. Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản của Chi cục Thi hành án thị xã Sơn Tây, t.p Hà Nội lập ngày 09/10/2024.
- + Tịch thu sung công quỹ Nhà Nước số tiền : 8.760.000 đồng (Tám triệu bảy trăm sáu mươi nghìn đồng). Tiền Ngân hàng N6. Theo giấy nộp vào tài khoản số3949.0.1052740, tại KBNN thị xã S của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Sơn Tây, lập ngày 15/10/2024.
6./ Án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136- BLTTHS 2015; Điều 23 Nghị quyết số 326 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội .
Buộc các bị cáo Nguyễn Thành L, Nguyễn Văn H1, Lý Văn C, Nguyễn Mạnh L2, Nguyễn Mạnh N1, Cao Văn B, Phan Thế H5 và Khuất Tiến L4. Mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
7./ Q kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận
|
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa Lã Hùng Cường |
Bản án số 107/2024/HSST ngày 08/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ SƠN TÂY, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về hình sự - đánh bạc
- Số bản án: 107/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự - Đánh bạc
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 08/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ SƠN TÂY, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: L và đồng bọn phạm tội đánh bạc
