Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ CAI LẬY

TỈNH TIỀN GIANG

Bản án số: 107/2024/HS-ST

Ngày: 05/11/2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc Lập – Tự do – Hạnh Phúc

----------

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CAI LẬY-TỈNH TIỀN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Kim Thoa.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Đoàn Văn Phồi

Ông Trần Văn Tám

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Phạm Kiều Nhi – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang tham gia phiên tòa: Ông Đặng Duy Thanh – Kiểm sát viên.

Trong ngày 05 tháng 11 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 93/2024/TLST-HS ngày 10 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 104/2024/QĐXXST- HS ngày 21 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo:

1/ Trương Huy T, sinh ngày 06 tháng 4 năm 1987 tại tỉnh Tiền Giang. Căn cước công dân: [...]. Nơi cư trú: số A, đường B, khu phố B, phường A, thị xã C, tỉnh Tiền Giang; nghề nghiệp: làm thuê; trình độ văn hóa (học vấn): 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trương Văn T1, sinh năm 1960 và bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1954; anh chị em ruột có 02 người, bị cáo là con lớn nhất trong gia đình; vợ Trần Thị Thùy T2, sinh năm 1987, con có 02 người lớn nhất sinh năm 2011 nhỏ nhất sinh năm 2021; tiền án: không; tiền sự: không; bị tạm giữ ngày 25/02/2024, chuyển tạm giam ngày 28/02/2024 (có mặt).

2/ Phạm Nguyễn Trường D, sinh ngày 01 tháng 01 năm 1990 tại tỉnh Tiền Giang. Căn cước công dân: [...]. Nơi cư trú: số F, quốc lộ A, khu phố B, phường E, thị xã C, tỉnh Tiền Giang; nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa (học vấn): 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Minh S, sinh năm 1956 và bà Nguyễn Huế L, sinh năm 1959; anh chị em có 03, bị cáo là con lớn nhất trong gia đình; bị cáo chưa có vợ con; tiền án: không. Tiền sự: không; bị tạm giữ ngày 25/02/2024, chuyển tạm giam ngày 28/02/2024 (có mặt).

Bị hại :

Lê Thị L1, sinh năm 1968 (có đơn xin vắng mặt);

Địa chỉ: ấp H, xã L, thị xã C, tỉnh Tiền Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Phạm Nguyễn Trường D và Trương Huy T là bạn bè với nhau ngoài xã hội. Sáng ngày 23/02/2024, D và T cùng đi uống cà phê thì T nói với D đi ra hướng C để tìm tài sản giật thì D đồng ý. D điều khiển xe mô tô Yamaha Nouvo, biển kiểm soát 69L1 – 1827 chở T đi từ thị xã C theo hướng xã C, huyện C, tỉnh Tiền Giang trên tuyến đường huyện lộ 60. Khi cả hai đi đến đoạn xã L, thị xã C, tỉnh Tiền Giang T nhìn thì thấy bà Lê Thị L1, sinh năm 1968, nơi cư trú: ấp H, xã H, thị xã C, tỉnh Tiền Giang đang điều khiển xe đạp lưu thông phía trước cùng chiều với xe của D và T nhìn thấy trên cổ của bà L1 có đeo sợi dây chuyền vàng nên T nói với D “Bà đó có đồ kìa”. Nghe vậy, D điều khiển xe mô tô chạy theo bà L1, khi bà L1 dừng lại trước cổng nhà thì D điều khiển xe chạy vượt lên, áp sát còn T ngồi phía sau dùng tay phải giật lấy sợi dây chuyền vàng trên cổ bà L1. Khi T giật được sợi dây chuyền trên cổ bà L1 thì D tăng tốc bỏ chạy và trong lúc T giật sợi dây chuyền đã làm rớt mặt dây chuyền tại hiện trường nên bà L1 nhặt lại được.

Sau khi cướp giật được sợi dây chuyền D điều khiển xe chở T về công viên P, thị xã C, tỉnh Tiền Giang (ngay cầu C), T kêu D ngồi đợi còn T lấy xe 69L1 – 1827 của D chạy đến tiệm vàng “Phan N” có địa chỉ tại Phường A, thị xã C, tỉnh Tiền Giang do chị Phạm Thanh T3, sinh năm 1980, nơi cư trú khu phố B, phường A, thị xã C, tỉnh Tiền Giang làm chủ gặp anh Đinh Công N1, sinh năm 2007, nơi cư trú ấp L, xã L, huyện C, tỉnh Tiền Giang là nhân viên của tiệm V và bán được số tiền 12.033.000 đồng. T yêu cầu tiệm vàng “Phan Ngọc” cho nhận số tiền mặt là 5.033.000 đồng, số tiền còn lại là 7.000.000 đồng T yêu cầu tiệm V1 vào số tài khoản 108872605407 mở tại Ngân hàng V2 do T đứng tên chủ thẻ. Khi đã giao dịch bán sợi dây chuyền đã cướp giật xong, T quay lại đón D và nói với D bán dây chuyền vàng được 5.033.000 đồng rồi chia cho D số tiền 2.500.000 đồng, cả hai dùng tiêu xài cá nhân. Sau khi bị D và T giật sợi dây chuyền, bà L1 đến Công an xã L trình báo.

Bản kết luận định giá tài sản số 27/KL-HĐĐGTS ngày 21/3/2024 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự thị xã C kết luận: một sợi dây chuyền bằng vàng, loại 18 Kara, trọng lượng 03 chỉ 06 phân 06 li 06 trị giá 13.784.160 đ (Mười ba triệu bảy trăm tám mươi bốn ngàn một trăm sáu mươi đồng); một mặt dây chuyền bằng C, hình trái tim, có khoen bằng Vàng trị giá 715.000 đ (Bảy trăm mười lăm ngàn đồng).

Tổng tài sản bị thiệt hại trị giá 14.499.160 đ (Mười bốn triệu bốn trăm chín mươi chín ngàn một trăm sáu mươi đồng).

Tại cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã C, bị cáo Trương Huy T và Phạm Nguyễn Trường D đã khai nhận toàn bộ hành vi cướp tài sản trên của mình.

Vật chứng thu giữ gồm:

  • - Một nón bảo hiểm màu đen;
  • - Một cái nón lưỡi trai có thêu chữ TOMMY JEANS;
  • - Một áo sơ mi dài tay, màu đen;
  • - Một áo thun ngắn tay, màu đen, có họa tiết sọc màu trắng;
  • - Một quần Kaki màu xám;
  • - Một đôi dép xỏ ngón, màu xám đen;
  • - Một nón bảo hiểm màu đỏ;
  • - Một áo sơ mi dài tay, sọc ca rô nhiều màu sắc;
  • - Một quần Jean dài màu xanh đen;
  • - Một xe mô tô Yamaha Nouvo, màu sơn đen bạc, mang biển kiểm soát 69L1 – 1827, số khung RLCNSP1109Y079335, số máy D208253612;
  • - Một chiếc dép xỏ ngón màu đỏ;
  • - Tiền Việt Nam 629.000 đ (Sáu trăm hai mươi chín ngàn đồng);
  • - Một mặt dây chuyền bằng cẩm thạch;
  • - Hai đoạn video thu giữ tại Công an xã L, thị xã C, tỉnh Tiền Giang ghi nhận hình ảnh D và T thực hiện hành vi cướp giật tài sản;
  • - Một đoạn video ghi nhận hình ảnh T đến T4 vàng “P” để bán đoạn dây chuyền bằng vàng.

Xử lý vật chứng:

- Ngày 23/3/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã C đã trao trả: một mặt dây chuyền bằng cẩm thạch, hình trái tim, có khoen bằng vàng cho bà Lê Thị L1, sinh năm 1968; Địa chỉ: ấp H, xã L, thị xã C, tỉnh Tiền Giang.

- Hai đoạn video thu giữ tại Công an xã L, thị xã C, tỉnh Tiền Giang ghi nhận hình ảnh D và T thực hiện hành vi cướp giật tài sản; Một đoạn video ghi nhận hình ảnh T đến T4 vàng “P” để bán đoạn dây chuyền bằng vàng. Kèm theo hồ sơ vụ án.

Về trách nhiệm dân sự:

trong giai đoạn điều tra bị hại bà Lê Thị L1 yêu bị cáo D, T phải bồi thường giá trị tài sản thiệt hại là 12.000.000 đồng. Chị Trần Thị Huỳnh T5 là vợ của bị cáo T đã bồi thường cho bà L1 số tiền 9.500.000 đồng và ông Phạm Minh S là cha của bị cáo D đã bồi thường số tiền 2.500.000 đồng cho bà L1. Bà L1 đã nhận đủ số tiền không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm và có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo T và D.

Tại bản cáo trạng số 96/CT-VKSTXCL ngày 10/10/2024 Viện kiểm sát nhân dân thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang truy tố bị cáo Trương Huy T và bị cáo Phạm Nguyễn Trường D về tội “Cướp giật tài sản” theo điểm d khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa bị cáo Trương Huy T và Phạm Nguyễn Trường D khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã truy tố. Bị cáo không khiếu nại các quyết định cũng như hành vi của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát thị xã C, điều tra viên, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đối với vụ án.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Cai Lậy giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Bị cáo Trương Huy T và Phạm Nguyễn Trường D thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng đã truy tố, nên Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố. Bị cáo Trương Huy T và Phạm Nguyễn Trường D thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do vậy, đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 171; Điều 17, điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Trương Huy T từ 04 (bốn) năm đến 05 (năm) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 25/02/2024 về tội “Cướp giật tài sản”.

Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 171; Điều 17, điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Phạm Nguyễn Trường D 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng đến 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 25/02/2024 về tội “Cướp giật tài sản”.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự và khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự.

- Tịch thu tiêu hủy đối với một nón bảo hiểm màu đen; một cái nón lưỡi trai có thêu chữ TOMMY JEANS; một áo sơ mi dài tay, màu đen; một áo thun ngắn tay, màu đen, có họa tiết sọc màu trắng; một quần Kaki màu xám; một đôi dép xỏ ngón, màu xám đen; Một nón bảo hiểm màu đỏ; một áo sơ mi dài tay, sọc ca rô nhiều màu sắc; một quần Jean dài màu xanh đen; một chiếc dép xỏ ngón màu đỏ.

- Đối với một xe mô tô Yamaha Nouvo, màu sơn đen bạc, mang biển kiểm soát 69L1 – 1827 thu giữ của bị cáo D sử dụng vào việc phạm tội nên tịch thu sung quỹ nhà nước.

- Đối với số tiền 629.000 đồng bị cáo D phạm tội mà có nên tịch thu, sung quỹ nhà nước.

Về trách nhiệm dân sự: đã giải quyết xong trong quá trình điều tra nên không đặt ra xem xét.

Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Các bị cáo nói lời sau cùng: bị cáo sẽ sửa sai, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Cai Lậy, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra, tại phiên tòa, bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo Trương Huy T và Phạm Nguyễn Trường D đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình là: vào khoảng 07 giờ 00 phút ngày 23/02/2024 tại ấp H, xã L, thị xã C, tỉnh Tiền Giang, bị cáo Phạm Nguyễn Trường D điều khiển xe mô tô biển số 69L1 – 1827 là nguồn nguy hiểm cao độ chở phía sau là bị cáo Trương Huy T để thực hiện hành vi cướp giật một sợi dây chuyền bằng vàng, loại 18 Kara, trọng lượng 03 chỉ 06 phân 06 li 06 và một mặt dây chuyền bằng cẩm thạch, hình trái tim có khoen bằng vàng của bà Lê Thị L1 với tổng giá trị tài sản bị cướp giật là 14.499.160 đồng. Lời trình bày của bị cáo T, bị cáo D tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại và tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Cho nên Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận bị cáo Trương Huy T và Phạm Nguyễn Trường D phạm tội “Cướp giật tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm d khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự. Đúng với kết luận luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Cai Lậy giữ quyền công tố tại phiên tòa hôm nay.

[3] Về tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo: Hành vi phạm tội của bị cáo T, bị cáo D là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo đã lợi dụng sơ hở trong quản lý, bảo vệ tài sản của người tham gia giao thông, sử dụng xe mô tô chạy với tốc độ cao để cướp giật tài sản và nhanh chống tẩu thoát, hành vi của hai bị cáo đã xâm phạm trực tiếp đến quan hệ tài sản, nhân thân, quyền sở hữu tài sản của công dân là khách thể được pháp luật hình sự bảo vệ. Hành vi của bị cáo thể hiện sự xem thường pháp luật, gây mất trật tự trị an, gây tâm lý hoang mang cho quần chúng nhân dân. Bị cáo T và bị cáo D là người có năng lực hành vi dân sự. Vì vậy, cần xử phạt bị cáo T bị cáo D nghiêm minh trước pháp luật thì mới có tác tụng giáo dục, cải tạo bị cáo và răn đe phòng ngừa chung cho toàn xã hội.

[4] Bị cáo T, bị cáo D khi thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý nhưng khi thực hiện tội phạm không có sự bàn bạc, phân công trước, không có sự cấu kết chặc chẽ nên thuộc trường hợp phạm tội có tính chất đồng phạm giản đơn. Cụ thể, vai trò của từng bị cáo như sau: Đối với bị cáo Trương Huy T là người rủ rê trong việc thực hiện tội phạm và là người trực tiếp thực hiện tội phạm. Đối với bị cáo Phạm Nguyễn Trường D là người giúp sức thực hiện tội phạm. Cho nên, cần xử phạt bị cáo T, D với mức án tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo nhằm giáo dục cải tạo bị cáo và răn đe phòng ngừa chung cho toàn xã hội.

[5] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo T và bị cáo D không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[6] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo T, bị cáo D khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải; bồi thường thiệt hại khắc phục hậu quả, bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo T bị cáo D. Do đó, bị cáo T và bị cáo D được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

[7] Về nhân thân của bị cáo:

[7.1] Đối với bị cáo Trương Huy T: Ngày 19/12/2012, bị Tòa án nhân dân huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang xử 03 năm tù về tội “Cướp giật tài sản” theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Hình sự tại Bản án số 78/2012/HSST, chấp hành xong hình phạt tù ngày 01/10/2014. Ngày 20/11/2015, bị Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xử 07 năm tù về tội “Cướp giật tài sản” theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Hình sự tại Bản án số 153/2015/HSPT, chấp hành xong hình phạt tù ngày 04/11/2020, chấp hành xong án phí 23/02/2016. Do đó, bị cáo T có nhân dân xấu.

[7.2] Đối với bị cáo Phạm Nguyễn Trường D: Ngày 05/4/2020, bị Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xử 04 năm tù về tội “Cướp giật tài sản” theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Hình sự tại Bản án số 42/2010/HSPT, chấp hành xong hình phạt tù ngày 28/4/2013. Do đó, bị cáo D có nhân dân xấu.

[8] Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của bị cáo T, bị cáo D, cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự áp dụng đối với các bị cáo. Hội đồng xét xử nhận thấy: cần phải cách ly bị cáo T bị cáo D ra khỏi xã hội một thời gian để nhằm răn đe, giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành công dân tốt giúp ích cho xã hội sau này.

[9] Đối với việc bị cáo T khai sau khi cướp giật được sợi dây chuyền của bà L1 có đem đến tiệm vàng “Phan N” do bà Phạm Thanh T3 là chủ và gặp anh Đinh Công Nghĩa L2 nhân viên tiệm vàng trao đổi bán tài sản này. Tuy nhiên, khi mua bà T3 anh N1 không biết sợi dây chuyền vàng do bị cáo T phạm tội mà có nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã C, tỉnh Tiền Giang không xem xét trách nhiệm hình sự về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” là có căn cứ.

[10] Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo T và bị cáo D đã bồi thường cho bị hại bà Lê Thị L1 số tiền 12.000.000 đồng, bà L1 đã nhận đủ số tiền và không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm về trách nhiệm dân sự. Nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

[11] Về xử lý vật chứng:

[11.1] Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã C đã trao trả một mặt dây chuyền bằng cẩm thạch, hình trái tim, có khoen bằng vàng cho bà Lê Thị L1, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[11.2] Đối với số tiền 629.000 đ (Sáu trăm hai mươi chín ngàn đồng) đây là số tiền thu lợi bất chính nên Hội đồng xét xử tuyên tịch thu, nộp ngân sách nhà nước.

[11.3] Đối với một nón bảo hiểm màu đen; một cái nón lưỡi trai có thêu chữ TOMMY JEANS; một áo sơ mi dài tay, màu đen; một áo thung ngắn tay, màu đen, có họa tiết sọc màu trắng; một quần Kaki màu xám; một đôi dép xỏ ngón, màu xám đen; Một nón bảo hiểm màu đỏ; một áo sơ mi dài tay, sọc ca rô nhiều màu sắc; một quần Jean dài màu xanh đen; một chiếc dép xỏ ngón màu đỏ không còn giá trị sử dụng, bị cáo không yêu cầu nhận lại nên Hội đồng xét xử tịch thu, tiêu hủy.

[11.4] Đối với một xe mô tô Yamaha Nouvo, màu sơn đen bạc, mang biển kiểm soát 69L1 – 1827 là phương tiện phạm tội nên tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước.

[12] Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo T và bị cáo D bị kết án về tội “Cướp giật tài sản” nên theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự và Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án nên buộc bị cáo T và bị cáo D mỗi bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[13] Xét đề nghị của phía đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang là có căn cứ và phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử, nên chấp nhận đề nghị của phía đại diện Viện kiểm sát.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

  1. Tuyên bố: Bị cáo Trương Huy T và Phạm Nguyễn Trường D phạm tội “Cướp giật tài sản”.

    Áp dụng: điểm d khoản 2 Điều 171; Điều 17, điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38; Điều 58 của Bộ luật Hình sự;

    Xử phạt: Bị cáo Trương Huy T 04 (bốn) năm tù về tội “Cướp giật tài sản”. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 25/02/2024.

    Áp dụng: điểm d khoản 2 Điều 171; Điều 17, điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38; Điều 58 của Bộ luật Hình sự;

    Xử phạt: Bị cáo Phạm Nguyễn Trường D 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Cướp giật tài sản”. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 25/02/2024.

  2. Về xử lý vật chứng:

    Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự.

    Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước số tiền 629.000 đ (Sáu trăm hai mươi chín ngàn đồng) và một xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Nouvo, màu sơn đen bạc, mang biển kiểm soát 69L1 – 1827.

    Tịch thu, tiêu hủy: một nón bảo hiểm màu đen; một cái nón lưỡi trai có thêu chữ TOMMY JEANS; một áo sơ mi dài tay, màu đen; một áo thung ngắn tay, màu đen, có họa tiết sọc màu trắng; một quần Kaki màu xám; một đôi dép xỏ ngón, màu xám đen; Một nón bảo hiểm màu đỏ; một áo sơ mi dài tay, sọc ca rô nhiều màu sắc; một quần Jean dài màu xanh đen; một chiếc dép xỏ ngón màu đỏ.

    (Theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 04/11/2024).

  3. Về án phí sơ thẩm:

    Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự và Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

    Buộc bị cáo Trương Huy T và Phạm Nguyễn Trường D mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

  4. Về quyền kháng cáo:

    Bị cáo Trương Huy T và Phạm Nguyễn Trường D được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại Lê Thị L1 có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ bản án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Tiền Giang;
  • - VKSND tỉnh Tiền Giang;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Tiền Giang;
  • - VKSND thị xã Cai Lậy;
  • (Đã ký)
  • - Cơ quan điều tra CA thị xã Cai Lậy;
  • - Chi cục THADS thị xã Cai Lậy;
  • - Bị cáo;
  • - Người tham gia tố tụng khác;
  • - Lưu hồ sơ, Văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Thị Kim Thoa

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 107/2024/HS-ST ngày 05/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CAI LẬY TỈNH TIỀN GIANG về hình sự về tội cướp giật tài sản

  • Số bản án: 107/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự về tội Cướp giật tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 05/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CAI LẬY TỈNH TIỀN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo phạm tội
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger