Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN B

TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 107/2024/HS-ST

Ngày: 30 - 9 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN B, TỈNH LONG AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Thảnh.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Văn Luân

Bà Võ Thị Luynh Thuy

- Thư ký phiên tòa: Bà Lại Thị Anh Thư – Thư ký Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Long An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện B, tỉnh Long An tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Vũ - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 25 và 30 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 103/2024/TLST-HS ngày 12 tháng 9 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 108/2024/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 9 năm 2024 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn N, Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 28/7/1997, tại Đồng Tháp; Nơi ĐKTT: Tổ A, Ấp C, xã H, huyện T, tỉnh Đồng Tháp; chỗ ở: Khu phố H, thị trấn B, huyện B, tỉnh Long An; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: làm thuê; trình độ văn hóa (học vấn): 9/12; con ông Nguyễn Văn T và bà Phạm Thị Tuyết V; chưa có vợ, con; tiền sự, tiền án: Không.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 02/6/2024 đến ngày 07/6/2024 chuyển tạm giam cho đến nay tại Nhà tạm giữ Công an huyện B. (có mặt)

- Bị hại:

  1. Nguyễn Tấn B, sinh năm 1994; (Có mặt)
  2. Nơi ĐKTT: Ấp B, xã L, huyện C, tỉnh Long An.

    Chỗ ở hiện tại: Đường số A, KDC T, thị trấn B, huyện B, tỉnh Long An.

  3. Dương Thị Thanh T1, sinh năm 1971; (Xin vắng mặt)
  4. Địa chỉ: Ấp C, xã L, huyện C, tỉnh Long An.

  5. Lê Minh H, sinh năm 1979; (Xin vắng mặt)
  6. Địa chỉ: Số D N, thị trấn B, huyện B, tỉnh Long An.

  7. Nguyễn Văn S, sinh năm 1969; (Vắng mặt)
  8. Địa chỉ: Ấp A, xã A, huyện B, tỉnh Long An.

  9. Phạm Văn M, sinh năm 1959; (Xin vắng mặt)
  10. Địa chỉ: Ấp D, xã L, huyện C, tỉnh Long An.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

  1. Lê Công L, sinh năm 1997; (Xin vắng mặt)
  2. Địa chỉ: P, nhà T Đ, khu phố H, thị trấn B, huyện B, tỉnh Long An.

  3. Lê Văn C, sinh năm 1999; (Vắng mặt)
  4. Địa chỉ: Ấp A, xã T, huyện B, tỉnh Long An.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Từ ngày 30/4/2024 đến ngày 31/5/2024, Nguyễn Văn N thuê trọ ở Khu phố H, thị trấn B, huyện B do cần tiền tiêu xài nên một mình đi bộ trong khu vực Khu phố H, thị trấn B, huyện B tìm tài sản của người dân không quản lý trông coi trộm bán lấy tiền tiêu xài, N đã thực hiện 05 vụ trộm cắp tài sản, với tổng tài sản chiếm đoạt 29.500.000 đồng, cụ thể:

Vụ thứ nhất: Khoảng 12 giờ 30 phút ngày 30/4/2024, Nguyễn đi bộ từ nhà trọ đến khu vực chợ T6 thuộc Khu phố H, thị trấn B để ăn cơm trưa, trên đường đi Nguyễn nhìn thấy xe môtô loại Sirius, màu đen-đỏ, biển số 62AM-035.36 của anh Nguyễn Tấn B dựng trước nhà trên đường Số A, Khu dân cư T ở Khu phố H, thị trấn B, huyện B, đầu xe hướng vào nhà, chìa khóa gắn sẵn trên ổ khóa xe, không người trông giữ xe, N đi lại xe 62AM-035.36 mở chìa khóa xe, lên xe nổ máy tẩu thoát. Sau đó, Nguyễn bán xe cho người thanh niên (không rõ lai lịch) ở khu vực trạm thu phí Đ2 được 700.000đ, Nguyễn tiêu X cá nhân hết. Khoảng 12 giờ 40 phút cùng ngày anh B phát hiện xe mô tô bị mất trộm, đến ngày 20/6/2024 anh B đến công an thị trấn B trình báo sự việc mình bị mất trộm xe mô tô trên.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 38/KL-HĐĐG ngày 02/7/2024 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự huyện B, định giá và kết luận: xe môtô loại Sirius màu đen-đỏ, biển số 62AM-035.36 tại thời điểm bị chiếm đoạt có giá trị là 4.500.000đ.

Đối với xe mô tô biển số 62AM-035.36 Nguyễn không cung cấp được thông tin người mua xe nên CQĐT không xác minh, thu hồi xe được.

Vụ thứ hai: Khoảng 14 giờ ngày 06/5/2024, Nguyễn từ nhà trọ đi bộ đến tiệm T7 ở Chợ T thuộc Khu phố H, thị trấn B để mua thuốc lá thì thấy xe môtô loại Wave Alpha, màu xanh, biển số 62V1-5341 của chị Dương Thị Thanh Thủy Đ trước tiệm tạp hóa, đầu xe hướng vào trong, chìa khóa gắn sẵn trên ổ khóa xe, không người trông giữ xe. Sau khi mua thuốc lá, Nguyễn quan S1 không có ai nên đi lại xe môtô biển số 62V1-5341 mở chìa khóa, nổ máy xe tẩu thoát về phòng trọ cất giấu xe. Sau đó, Nguyễn đem bán xe môtô biển số 62V1-5341 cho một người đàn ông khoảng 50 tuổi (không rõ nhân thân) được 1.500.000đ và tiêu xài cá nhân hết. Khoảng 14 giờ 15 phút cùng ngày chị T1 phát hiện bị mất trộm xe mô tô, đến ngày 20/6/2024, chị T1 đến Công an thị trấn B trình báo sự việc mình bị mất trộm xe mô tô trên.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 39/KL-HĐĐG ngày 03/7/2024 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự huyện B, định giá và kết luận: xe môtô loại Wave alpha, màu xanh, biển số 62V1-5341 tại thời điểm bị chiếm đoạt có giá trị là 4.250.000đ.

Đối với xe mô tô biển số 62V1-5341 Nguyễn không cung cấp được thông tin người mua xe nên CQĐT không xác minh, thu hồi xe được.

Vụ thứ ba: Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 07/5/2024, Nguyễn đi bộ từ phòng trọ đến tiệm cơm trên đường số H chợ T6 thuộc Khu phố H, thị trấn B để ăn cơm. Sau khi ăn cơm xong, Nguyễn Đ1 bộ về lại phòng trọ thì thấy xe môtô loại Wave alpha, màu trắng, biển số 62AP-063.08 của anh Lê Minh H đậu trước nhà cạnh quán cơm, đầu xe hướng vào nhà, chìa khóa gắn sẵn trên ổ khóa xe, Nguyễn quan sát xung quanh không có ai nên đi lại xe môtô biển số 62AP-063.08 mở khóa xe, lên xe nổ máy tẩu thoát. Đến khoảng 20 giờ 30 phút cùng ngày, Nguyễn đến khu vực huyện Đ (cách trạm thu phí Đ2 khoảng 1,5km) bán xe môtô biển số 62AP-063.08 cho một người đàn ông khoảng 30 tuổi (không rõ nhân thân) được 6.000.000đ và tiêu xài cá nhân hết. Khoảng 12 giờ 45 phút cùng ngày anh H phát hiện mình bị mất xe mô tô, đến ngày 20/6/2024, anh H đến Công an thị trấn B trình báo sự việc mình bị mất trộm xe mô tô trên.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 40/KL-HĐĐG ngày 04/7/20234 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự huyện B, định giá và kết luận: xe môtô loại Wave alpha, màu trắng, biển số 62AP-063.08 tại thời điểm bị chiếm đoạt trị giá 10.500.000đ.

Đối với xe mô tô biển số 62AP-063.08 Nguyễn không cung cấp được thông tin người mua xe nên CQĐT không xác minh, thu hồi xe được.

Vụ thứ tư: Khoảng 23 giờ 30 phút ngày 23/5/2024, Nguyễn đi bộ trong đường B thuộc Khu phố H, thị trấn B, thấy anh Nguyễn Văn S nằm ngủ cặp đường trước nhà dân và dựng xe môtô loại Wave RSX màu đỏ, biển số 59M2-184.36 của anh S bên cạnh, không có chìa khóa xe. N gọi anh S dậy thì anh S đứng dậy đi vệ sinh và tiếp tục nằm ngủ không phản ứng, Nguyễn lấy và đẩy bộ xe môtô biển số 59M2-184.36 về phòng trọ cất giấu. Sau đó, Nguyễn chạy xe môtô biển số 59M2-184.36 đến tiệm C1 10 thuộc Ấp A, xã T, huyện B do anh Trần Văn Bé T2 làm chủ, do nhân viên Lê Văn C trực tiếp nhận cầm với số tiền 2.000.000đ, Nguyễn nhận tiều tiêu xài cá nhân hết. Ngày 25/5/2024, Lê Công L đến phòng trọ gặp N yêu cầu trả nợ 3.000.000đ, Nguyễn nói L1 đến tiệm C1 10 chuộc xe môtô biển số 59M2-184.36 về và đưa cho L1 quản lý, sử dụng nên L1 đồng ý. Khoảng 04 giờ ngày 24/5/2024 anh S phát hiện mình bị mất trộm xe mô tô. Đến ngày 10/6/2024 anh S đến Công an thị trấn B trình báo sự việc mình bị mất trộm xe mô tô trên.

Trong quá trình điều tra, Cơ quan điều tra thu giữ đồ vật, tài liệu và xử lý vật chứng: 01 xe Wave RSX màu đỏ, biển số 59N2-184.36 do Lê Công L giao nộp, xe thuộc sở hữu của anh Nguyễn Văn S, hiện cơ quan điều tra đã trả lại cho anh S.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 41/HĐĐG ngày 05/7/2024 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự huyện B, định giá và kết luận giá trị xe môtô loại Wave RSX, màu đỏ, biển số 59N2-184.36 tại thời điểm bị chiếm đoạt là 4.750.000đ.

Vụ thứ 5: Khoảng 12 giờ 50 phút, ngày 31/5/2024, Nguyễn đi bộ đến chỗ làm thuê thì trời mưa nên Nguyễn tránh mưa trước cửa tiệm V1 tại đường số I, khu dân cư T thuộc Khu phố H, thị trấn B. Trong lúc tránh mưa, Nguyễn thấy xe môtô loại Wave màu bạc, biển số 51N3-8028 của anh Phạm Văn M đang đậu trước tiệm vàng có gắn sẵn chìa khóa trên ổ khóa xe, Nguyễn quan sát xung quanh không ai trông coi liền lên xe mở chìa khóa, nổ máy xe tẩu thoát. Nguyễn chạy đến tiệm C1 10 gặp anh Lê Văn C cầm xe được 3.000.000đ, Nguyễn tiêu X cá nhân hết. Khoảng 13 giờ 30 phút cùng ngày, ông M phát hiện mình bị mất xe, đến ngày 01/6/2024 anh M đến Công an thị trấn B trình báo sự việc mình bị mất trộm xe mô tô trên.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 31/KL-HĐĐG ngày 06/6/2024 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự huyện B, định giá và kết luận giá trị xe môtô loại Wave, màu bạc, biển số 51N3-8028 tại thời điểm bị chiếm đoạt là 5.500.000 đồng.

Trong quá trình điều tra, cơ quan điều tra tạm giữ đồ vật, tài liệu và xử lý vật chứng:

  • Xe mô tô 51N3-8028 do anh Lê Văn C giao nộp, xe thuộc sở hữu của anh Phạm Văn M, hiện CQĐT đã trả lại xe cho anh M.
  • 01 nón kết màu xám; 01 áo khoác màu xanh đậm; 01 đôi dép cao su màu đen-đỏ (đế màu đỏ) của N sử dụng khi trộm cắp tài sản.

Tại bản Cáo trạng số 103/CT-VKSBL ngày 11 tháng 9 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện B, tỉnh Long An truy tố bị cáo Nguyễn Văn N về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn N hoàn toàn nhìn nhận hành vi phạm tội như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện B truy tố, không đưa ra chứng cứ nào minh oan, không có ý kiến thắc mắc, đồng thời không khiếu nại đối với Cơ quan tiến hành tố tụng và người có thẩm quyền tiến hành tố tụng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện B, tỉnh Long An tham gia phiên tòa vẫn giữ y quan điểm như Cáo trạng đã truy tố bị cáo về tội danh và điều luật, đồng thời phân tích đánh giá tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn N phạm tội “Trộm cắp tài sản”; Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38, Điều 50 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn N mức hình phạt từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù.

Đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Nguyễn Văn N.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

  • Đối với 01 Wave RSX màu đỏ, biển số 59N2-184.36 do Lê Công L giao nộp, xe thuộc sở hữu của anh Nguyễn Văn S, hiện Cơ quan điều tra đã trả lại cho anh S là phù hợp nên không đề nghị xem xét.
  • Đối với xe mô tô 51N3-8028 do anh Lê Văn C giao nộp, xe thuộc sở hữu của anh Phạm Văn M, hiện Cơ quan điều tra đã trả lại xe cho anh M là phù hợp nên không đề nghị xem xét.
  • Đối với 01 nón kết màu xám; 01 áo khoác màu xanh đậm; 01 đôi dép cao su màu đen-đỏ (đế màu đỏ) của bị cáo N sử dụng khi trộm cắp tài sản, bị cáo không yêu cầu nhận lại và không còn giá trị nên đề nghị tịch thu tiêu hủy.

Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 Bộ luật Hình sự, Điều 584, 585, 589 Bộ luật Dân sự: Anh Nguyễn Văn S, ông Phạm Văn M và anh Lê Văn C không yêu cầu bồi thường. Riêng anh Nguyễn Tấn B yêu cầu bị cáo Nguyễn bồi T3 4.500.000đ; chị Dương Thị Thanh T1 yêu cầu bị cáo Nguyễn bồi T3 4.250.000đ; anh Lê Minh H yêu cầu bị cáo Nguyễn bồi T3 10.500.000đ, anh Lê Công L yêu cầu bị cáo Nguyễn trả 5.500.000đ. Tại phiên tòa bị cáo tác động gia đình bồi thường cho anh B xong số tiền 4.500.000đồng, anh H 2.000.000đ, còn lại 8.500.000đ. Anh L có đơn xin vắng mặt không yêu cầu bị cáo Nguyễn trả 5.500.000đ. Tại phiên tòa, bị cáo đồng ý bồi thường số tiền còn lại chị Dương Thị Thanh T1 4.250.000đ, anh Lê Minh H 8.500.000đ nên ghi nhận đề nghị Hội đồng xét xử buộc bị cáo bồi thường cho các bị hại T1, H.

Đối với Lê Công L không biết xe mô tô loại Wave RSX màu đỏ - đen, biển số 59M2-184.36 do bị cáo Nguyễn phạm T4 mà có đã lấy sử dụng; Lê Văn C nhận cầm các xe mô tô loại Wave màu đỏ - đen biển số 59N2-184.36 và xe mô tô loại Wave, màu bạc, biển số 51N3-8028, không biết các xe mô tô trên do bị cáo Nguyễn phạm T4 mà có nên CQĐT không xem xét xử lý là phù hợp nên không đề nghị xem xét.

Về án phí: Đề nghị áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23, 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc bị cáo Nguyễn Văn N chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo biết hành vi của bị cáo là vi phạm pháp luật, mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để bị cáo sớm về với gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện B, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt nhưng đã có lời khai trong quá trình điều tra và việc vắng mặt này không gây trở ngại cho việc xét xử nên căn cứ Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.

[2]. Về nội dung:

Lời khai nhận tội của bị cáo Nguyễn Văn N tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong quá trình điều tra, phù hợp với biên bản xác định hiện trường, sơ đồ xác định hiện trường, bản ảnh xác định hiện trường và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án, có đủ căn cứ xác định:

Từ ngày 30/4/2024 đến ngày 31/5/2024, bị cáo Nguyễn Văn N cần tiền tiêu xài nên đi bộ đến khu vực Khu phố H, thị trấn B, huyện B thực hiện 05 vụ trộm cắp tài sản, với tổng tài sản chiếm đoạt 29.500.000đ, cụ thể: Vụ thứ nhất: Khoảng 12 giờ 30 phút ngày 30/4/2024, bị cáo Nguyễn lén L2 lấy trộm xe môtô loại Sirius, màu đen-đỏ, biển số 62AM-035.36 trị giá 4.500.000đ của anh Nguyễn Tấn B dựng trước nhà trên đường Số A, Khu dân cư T; Vụ thứ 2: Khoảng 14 giờ, ngày 06/5/2024, bị cáo Nguyễn lén L2 lấy trộm xe mô tô loại Wave Alpha, màu xanh, biển số 62V1-5341 trị giá 4.250.000đ của chị Dương Thị Thanh T1 dựng trước tiệm T7 thuộc chợ T6; Vụ thứ 3: Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 07/5/2024, bị cáo Nguyễn lén L2 lấy trộm xe mô tô loại Wave Alpha màu trắng, biển số 62AP-063.08 trị giá 10.500.000đ của anh Lê Minh H dựng trước căn nhà cặp quán cơm trên đường Số H, chợ T6; Vụ thứ 4: Khoảng 23 giờ 30 phút ngày 23/5/2024, bị cáo Nguyễn lén L2 lấy trộm xe mô tô loại Wave RSX, màu đỏ, biển số 59M2-184.36, trị giá 4.750.000đ của anh Nguyễn Văn S dựng ở đường B, Khu phố H, thị trấn B; Vụ thứ 5: vào khoảng 13 giờ 45 phút, ngày 31/5/2024, bị cáo Nguyễn lén L2 lấy trộm xe mô tô loại Wave, màu bạc, biển số 51N3-8028 trị giá 5.500.000đ của ông Phạm Văn M dựng trước tiệm V1 tại đường số I, khu dân cư T.

Hành vi của bị cáo Nguyễn Văn N đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự nên Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện B, tỉnh Long An truy tố bị cáo Nguyễn Văn N về tội danh và điều luật là có căn cứ, đúng pháp luật, không oan sai.

Bị cáo N có tuổi đời còn trẻ nhưng không lo tu chí làm ăn, chây lười lao động, muốn có tiền tiêu xài mà không phải bỏ sức lao động nên bị cáo đã nãy sinh ý định lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác bán lấy tiền nhằm mục đích tiêu xài cá nhân. Do đó hành vi trái pháp luật của bị cáo Nguyễn Văn N là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến tài sản của bị hại mà còn gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự xã hội tại địa phương. Khi thực hiện hành vi, bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của bị cáo là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn bất chấp thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp.

Hành vi của bị cáo Nguyễn Văn N cần được xử lý nghiêm theo pháp luật hình sự, có mức án phù hợp, cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian nhất định mới có tác dụng trừng phạt, giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa chung.

[3]. Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử có xem xét cho bị cáo hưởng tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

[3.1] Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo Nguyễn Văn N phạm tội 02 lần trở lên thuộc tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định theo điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

[3.2] Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo Nguyễn Văn N trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tác động gia đình bồi thường một phần thiệt hại cho bị hại, bản thân đã thực hiện nghĩa vụ quân sự được đơn vị tặng giấy khen nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[4]. Xét lời đề nghị của Kiểm sát viên về áp dụng hình phạt tù có thời hạn và mức hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Văn N là phù hợp nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

[5]. Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật Hình sự thì hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Văn N còn có thể bị phạt tiền. Tuy nhiên, xét thấy bị cáo có lời trình bày hoàn cảnh khó khăn nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[6]. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

  • Đối với 01 Wave RSX màu đỏ, biển số 59N2-184.36 do Lê Công L giao nộp, xe thuộc sở hữu của anh Nguyễn Văn S, hiện Cơ quan điều tra đã trả lại cho anh S là phù hợp nên không xem xét.
  • Đối với xe mô tô 51N3-8028 do anh Lê Văn C giao nộp, xe thuộc sở hữu của anh Phạm Văn M, hiện Cơ quan điều tra đã trả lại xe cho anh M là phù hợp nên không xem xét.
  • Đối với 01 nón kết màu xám; 01 áo khoác màu xanh đậm; 01 đôi dép cao su màu đen-đỏ (đế màu đỏ) của bị cáo N sử dụng khi trộm cắp tài sản, bị cáo không yêu cầu nhận lại và không còn giá trị nên tịch thu tiêu hủy.

[7]. Về trách nhiệm dân sự: Anh Nguyễn Văn S, ông Phạm Văn M và anh Lê Văn C không yêu cầu bồi thường. Riêng anh Nguyễn Tấn B yêu cầu bị cáo Nguyễn bồi T3 4.500.000đ; chị Dương Thị Thanh T1 yêu cầu bị cáo Nguyễn bồi T3 4.250.000đ; anh Lê Minh H yêu cầu bị cáo Nguyễn bồi T3 10.500.000đ, anh Lê Công L yêu cầu bị cáo Nguyễn trả 5.500.000đ. Tại phiên tòa, bị cáo tác động gia đình bồi thường cho anh B xong 4.500.000đ, bồi thường cho anh H xong 2.000.000đ, còn lại 8.500.000đ. Anh L có đơn xin vắng mặt không yêu cầu bị cáo Nguyễn trả 5.500.000đ. Tại phiên tòa, bị cáo đồng ý bồi thường số tiền còn lại cho chị Dương Thị Thanh T1 4.250.000đ, anh Lê Minh H 8.500.000đ nên ghi nhận buộc bị cáo bồi thường cho các bị hại T1, H.

[8]. Đối với Lê Công L không biết xe mô tô loại Wave RSX màu đỏ - đen, biển số 59M2-184.36 do bị cáo Nguyễn phạm T4 mà có đã lấy sử dụng; Lê Văn C nhận cầm các xe mô tô loại Wave màu đỏ - đen biển số 59N2-184.36 và xe mô tô loại Wave, màu bạc, biển số 51N3-8028, không biết các xe mô tô trên do bị cáo Nguyễn phạm T4 mà có nên CQĐT không xem xét xử lý là phù hợp nên không đề cập xem xét.

[9]. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23, 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc bị cáo Nguyễn Văn N phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn N phạm tội “Trộm cắp tài sản”

- Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38, Điều 50 Bộ luật Hình sự

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn N 02 (hai) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 02/6/2024.

- Căn cứ khoản 1, 3 Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tiếp tục tạm giam bị cáo Nguyễn Văn N 45 ngày kể từ ngày tuyên án (30/9/2024) để đảm bảo thi hành án.

2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự:

Tịch thu tiêu hủy 01 nón kết màu xám; 01 áo khoác màu xanh đậm; 01 đôi dép cao su màu đen-đỏ (đế màu đỏ).

(Vật chứng trên do Chi cục Thi hành án dân sự huyện B tạm giữ theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 13/9/2024)

3. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 Bộ luật Hình sự, Điều 584, 585, 589 Bộ luật Dân sự

Buộc bị cáo Nguyễn Văn N bồi thường cho chị Dương Thị Thanh T1 4.250.000đ, anh Lê Minh H 8.500.000đ.

Khi án có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, bên có nghĩa vụ chậm thi hành sẽ phải chịu thêm khoản tiền lãi tính trên số tiền chậm trả theo quy định tại Điều 357, khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự số 91/2015/QH13 tương ứng với thời gian chưa thi hành án, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác.

4. Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23, 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, buộc bị cáo Nguyễn Văn N nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 637.500 đồng án phí dân sự sơ thẩm sung vào Ngân sách Nhà nước.

5. Án xử sơ thẩm công khai. Căn cứ Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự, bị cáo, bị hại có mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

“Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án là 05 năm theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án."

Nơi nhận:

  • - TAND, VKSND tỉnh Long An;
  • - VKSND huyện B;
  • - Cơ quan thi hành án hình sự Công an huyện Bến Lức; B
  • - Chi cục Thi hánh án dân sự huyện B;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Đồng Tháp;
  • - Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Trần Thị Kim Thảnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 107/2024/HS-ST ngày 30/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN B, TỈNH LONG AN về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 107/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN B, TỈNH LONG AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn N phạm tội “Trộm cắp tài sản”
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger