Hệ thống pháp luật

1

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN THOẠI SƠN

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 107/2024/HS-ST

Ngày 28 tháng 9 năm 2024.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN - TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Triều.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Đình Chưởng và ông Đỗ Ngọc Nam.

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Khuyên - Thư ký Toà án nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Thoại Sơn tham gia phiên tòa: Ông Dương Ngọc Sử - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 86/2024/TLST-HS ngày 12 tháng 9 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 110/2024/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 9 năm 2024, đối với bị cáo:

Nguyễn Văn Đ (Đ),

sinh ngày 01/01/1980. Nơi cư trú: ấp B, xã M, thành phố L, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: Không biết chữ; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Đạo Phật; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn B và bà Nguyễn Thị Tuyết A; A, chị, em có 04 người, bị cáo là người thứ tư; Vợ tên Hồ Thị Thu V, sinh năm 1976; Con có 2 người, lớn sinh năm 1999, nhỏ sinh năm 2011. Ngày 20/5/1996, bị Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn xử phạt 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 tháng về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản công dân”, đã chấp hành xong. Ngày 05/7/2004, bị Ủy ban nhân dân tỉnh A áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục, thời hạn 24 tháng, về hành vi “Gây rối trật tự công cộng”, đến ngày 28/4/2006 chấp hành xong. Ngày 11/7/2019, bị Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời gian 16 tháng, về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”, đến ngày 24/9/2020 chấp hành xong. Ngày 01/6/2021, bị Công an thành phố L ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000 đồng, về hành vi “Đánh bạc”, ngày 03/6/2021 nộp phạt xong.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 14/7/2024 đến ngày 23/7/2024 tạm giam cho đến nay.

2

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Bị hại: Anh Trần Hoài H, sinh ngày 01/01/1984. Nơi cư trú: khóm P, thị trấn P, huyện T, tỉnh An Giang (vắng mặt).

Người làm chứng:

  1. Anh Nguyễn Hiếu Đ1 (vắng mặt).
  2. Anh Đặng Hoàng K (vắng mặt).
  3. Anh Đỗ Văn P (vắng mặt).
  4. Bà Nguyễn Thị Tuyết M (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 18 giờ ngày 13/7/2024, Nguyễn Văn Đ đi bộ từ nhà ở ấp B, xã M, thành phố L đến thị trấn P, huyện T để tìm tài sản trộm. Khi đến khu vực khóm P, thị trấn P, huyện T, Đ phát hiện xe mô tô biển số 67M1-490.64 của Trần Hoài H, dựng trên vỉa hè bên hông quán K1, trên ổ khóa xe có ghim sẵn chìa khóa, không ai trông giữ nên Đ đi đến mở khóa, nổ máy điều khiển chạy đi bị H, Nguyễn Hiếu Đ1 phát hiện tri hô và dùng xe mô tô đuổi theo Đ đến khu vực Công ty A1 ở khóm T, thị trấn P, huyện T. Do Đ sợ H và Đ1 đuổi kịp nên bỏ xe 67M1-490.64 trên đường L rồi đi bộ đến quán C của Nguyễn Thị Tuyết M ở khóm P, thị trấn P uống nước. Còn H, Đ1 điều khiển xe đến đường L phát hiện xe của Đ để tại đây nên H lấy xe điều khiển về quán karaoke Ánh D nhờ Đặng Hoàng K nhân viên quán trích xuất camera an ninh trong quán, thấy đặc điểm của Đ là người lấy trộm xe mô tô 67M1-490.64 nên đến Công an thị trấn P trình báo.

Ngày 14/7/2024, biết hành vi lấy trộm xe mô tô 67M1-490.64 bị phát hiện, Đ đến Công an thị trấn P đầu thú. Hành vi trên của Đ đã được camera của quán K1 ghi lại, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã thu giữa đoạn video này.

Vật chứng thu giữ: 01 xe mô tô biển số 67M1-490.64; 01 áo thun tay ngắn, sọc ngang, màu xanh - trắng - đen; 01 quần vải dài đen; 01 đôi dép vai kẹp màu đen.

Ngày 13/8/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã trao trả xe mô tô biển số 67M1-490.64 cho Trần Hoài H.

Tại Bản định giá tài sản số 37/KL-HĐĐGTS ngày 17/7/2024 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự huyện T, kết luận: 01 (một) xe mô tô biển số 67M1-490.64, nhãn hiệu Honda, màu sơn xanh, số máy HC08E0119290, số khung 08022Y119283, trị giá 10.000.000 đồng.

Tại Cáo trạng số 90/CT-VKSTS ngày 11/9/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thoại Sơn đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn Đ về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015.

3

Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa, Nguyễn Văn Đ khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung vụ án đã nêu trên và xin giảm nhẹ hình phạt.

Bị hại Trần Hoài H trình bày như nội dung vụ án đã nêu. Về hình phạt đề nghị xử phạt bị cáo theo quy định pháp luật. Đối với phần trách nhiệm dân sự, do đã nhận lại tài sản nên không yêu cầu bồi thường gì khác.

Những người làm chứng Nguyễn Hiếu Đ1, Đặng Hoàng K, Đỗ Văn P, Nguyễn Thị Tuyết M đều trình bày như nội dung vụ án đã nêu.

Đại diện Viện Kiểm sát luận tội đối với bị cáo giữ nguyên truy tố như Cáo trạng. Căn cứ vào tính chất của vụ án, hành vi phạm tội của bị cáo, xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ hình phạt, nhân thân bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Đ mức án từ 06 tháng đến 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Về hình phạt bổ sung do hoàn cảnh bị cáo khó khăn, không có việc làm và thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung bị cáo. Về trách nhiệm dân sự bị hại đã nhận lại tài sản và không yêu cầu gì nên không đề cập xem xét. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự xử lý theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình điều tra, truy tố, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện T, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Thoại Sơn, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người bị hại, người làm chứng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa, bị hại Trần Hoài H và tất cả người làm chứng vắng mặt không rõ lý do, mặc dù Tòa án đã tống đạt giấy triệu tập hợp lệ. Xét thấy, sau khi vụ án xảy ra những người này đã có lời khai trong quá trình điều tra, khi cần thiết Hội đồng xét xử sẽ công bố lời khai của họ trước tòa. Căn cứ Điều 292, Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.

[2] Về nội dung: Quá trình điều tra cũng như tại phiên toà bị cáo Nguyễn Văn Đ đều khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu. Lời khai nhận tội của bị cáo tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của bị hại, lời khai của người làm chứng về thời gian, địa điểm, thủ đoạn, mục đích, động cơ phạm tội và hậu quả do tội phạm gây ra, cùng các tang vật đã thu giữ, các tài liệu chứng cứ khác được thu

4

thập khách quan đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ căn cứ để kết luận:

Khoảng 18 giờ ngày 13/7/2024, bị cáo Nguyễn Văn Đ đi bộ từ nhà ở ấp B, xã M, thành phố L đến khu vực khóm P, thị trấn P, huyện T, lén lút lấy xe mô tô biển số 67M1-490.64 của Trần Hoài H trị giá 10.000.000 đồng.

Hành vi nêu trên của bị cáo Nguyễn Văn Đ đã phạm tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, có khung hình phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

[3] Hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Văn Đ là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của bị hại được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương, làm cho quần chúng nhân dân bất bình. Do đó, cần phải xử phạt bị cáo mức án nghiêm để răn đe và phòng ngừa tội phạm.

[4] Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Bị cáo Nguyễn Văn Đ là người đã thành niên, bản thân có sức khỏe và có hiểu biết nhất định về pháp luật nhưng không chịu tu dưỡng, rèn luyện để làm ăn chân chính và hướng thiện. Trong vụ án này, hành vi của bị cáo được thực hiện với lỗi cố ý, động cơ mục đích của tội phạm là chiếm đoạt tài sản bán lấy tiền tiêu xài cá nhân.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, sau khi gây án đến Công an đầu thú. Đây là các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Xét thấy: Bị cáo Nguyễn Văn Đ là người có nhân thân rất xấu, nhưng không chịu lo tu dưỡng, rèn luyện bản thân để giúp ích cho gia đình, nay lại tiếp tục phạm tội, điều đó chứng tỏ bị cáo là người xem thường pháp luật, không biết ăn năn, hối cải để hoàn lương. Cần chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù một thời gian để giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành người lương thiện, người công dân có ích cho xã hội.

[5] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 thì người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng. Xét thấy, bị cáo không có tài sản, nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử quyết định miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

5

[6] Về trách nhiệm dân sự: Sau khi vụ án xảy ra, bị hại Trần Hoài H đã nhận lại tài sản là xe mô tô biển số 67M1-490.64 và không yêu cầu gì khác nên Hội đồng xét xử không đề cập xem xét.

Về vật chứng: Đối với 01 áo thun tay ngắn, sọc ngang, màu xanh - trắng - đen; 01 quần vải dài đen; 01 đôi dép vai kẹp màu đen không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.

[7] Về các vấn đề khác: Bị cáo Nguyễn Văn Đ phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Đ (Đ) phạm tội “Trộm cắp tài sản”

Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Đ 01 (một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 14 tháng 7 năm 2024.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015. Tịch thu tiêu hủy 01 (một) áo thun tay ngắn, sọc ngang, màu xanh - trắng - đen; 01 (một) quần vải dài đen và 01 (một) đôi dép quai kẹp màu đen. Tất cả đã qua sử dụng. (Đặc điểm tang vật như Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 11 tháng 9 năm 2024 giữa Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thoại Sơn với Công an huyện T)

Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/ 12/ 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Nguyễn Văn Đ (Đ) phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với bị hại vắng mặt tại phiên tòa thời hạn kháng cáo là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh An Giang;
  • - VKSND tỉnh An Giang;
  • - Sở Tư pháp An Giang;
  • - Phòng PV 06 - Công an tỉnh An Giang;
  • - VKSND huyện Thoại Sơn;
  • - Cơ quan điều tra CA huyện Thoại Sơn;
  • - Cơ quan THA hình sự huyện Thoại Sơn;
  • - Chi cục THADS huyện Thoại Sơn;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu: Hồ sơ, Văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Văn Triều

6

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 107/2024/HS-ST ngày 28/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN TỈNH AN GIANG về trộm cắp tài sản (hình sự)

  • Số bản án: 107/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn Đ phạm tội trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger