|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỒNG PHÚ TỈNH BÌNH PHƯỚC |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 107/2024/HS-ST Ngày: 27-9-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỒNG PHÚ, TỈNH BÌNH PHƯỚC
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hương
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Đăng Thường
Ông Phạm Văn Giới
Thư ký phiên tòa: Bà Hồ Thị Bình - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước tham gia phiên tòa: Ông Lê Hoàng Anh - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 92/2024/TLST-HS ngày 11/8/2024, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 103/2024/QĐXXST-HS ngày 10/9/2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Sơn Thành V, sinh năm 1950 tại tỉnh Bình Dương; Nơi thường trú: Khu phố A, phường L, thị xã P, tỉnh Bình Phước; nghề nghiệp: Thợ sửa ô tô; trình độ học vấn: 0/12; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Sơn Q (đã chết) và bà Nguyễn Thị B (đã chết); bị cáo có vợ là Nguyễn Thị Q1, sinh năm 1963; bị cáo có 01 con, sinh năm 2003; tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 17/4/2024 cho đến nay, (bị cáo có mặt tại phiên tòa).
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: bà Lê Thị Thúy L, sinh năm 1979; Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện Đ, tỉnh Bình Phước. (có mặt)
Ông Nguyễn Văn D, sinh năm 1980; Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện Đ, tỉnh Bình Phước. (vắng mặt)
Bà Nguyễn Thị Q1, sinh năm 1963; Địa chỉ: Khu phố A, phường L, thị xã P, tỉnh Bình Phước.(vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Bị cáo Sơn Thành V bị Viện kiểm sát nhân dân (KSND) huyện Đ, tỉnh Bình Phước truy tố về hành vi phạm tội như sau:
Ngày 21/3/2020, Sơn Thành V sinh năm 1950, trú tại khu phố A, phường L, thị xã P, tỉnh Bình Phước mua 01 xe ô tô nhãn hiệu HONDA, số loại ACCORD, biển kiểm soát (BKS): 29M-2089 của ông Nguyễn Chí T tại tỉnh Vĩnh Phúc. Hai bên lập hợp đồng mua bán có công chứng tại Văn phòng C1, thành phố Hà Nội. Sau khi nhận được xe và hồ sơ gốc, V không làm thủ tục đăng ký, đăng kiểm tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền mà lên mạng internet tìm thông tin thì thấy số điện thoại 0935.392.xxx nhận làm giấy tờ xe nên V gọi thì gặp một người đàn ông (không rõ lai lịch) và thuê người này làm giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô và giấy chứng nhận kiểm định xe ô tô mà V mua của ông T với giá 6.000.000 đồng. Khi thuê người làm giấy tờ xe, V không bàn giao hồ sơ gốc, không làm giấy ủy quyền, không giao phương tiện cho người này. Khoảng 10 ngày sau, có 01 người đàn ông (không rõ lai lịch) đến nhà đưa cho V 01 (một) cặp BKS 93A- 847.31, 01(một) giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 096433 của Phòng C2 (CSGT) Công an tỉnh B, mang tên Sơn Thành V, cấp ngày 13/01/2020 BKS 93A- 847.31 và 01 (một) giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường phương tiện giao thông đường bộ số KC 8560758 do Trung tâm đăng kiểm xe cơ giới 93.01S tỉnh Bình Phước cấp ngày 05/4/2020 mang tên Sơn Thành V và V trả cho người này 6.000.000 đồng.
Ngày 09/6/2020, V cùng vợ là Nguyễn Thị Q1, sinh năm 1963, trú tại khu phố A, phường L, thị xã P, tỉnh Bình Phước lập hợp đồng ủy quyền có công chứng tại Văn phòng C3, địa chỉ: ấp T, xã T, huyện Đ, tỉnh Bình Phước cho bà Lê Thị Thúy L sinh năm 1979, trú tại ấp L, xã L, huyện T, tỉnh Vĩnh Long được toàn quyền sử dụng, định đoạt xe ô tô BKS 93A-847.31. Sau đó, V giao giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 096433 và giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường phương tiện giao thông đường bộ số KC 8560758 cho bà L.
Sau đó, bà L bán lại xe ô tô trên cho anh Ngô Văn L1, sinh năm 1975, tại thôn P, xã P, thị xã P, tỉnh Bình Phước nhưng khi anh L1 nhờ người đi đăng kiểm thì không thấy dữ liệu về xe ô tô BKS 93A- 847.31 và qua kiểm tra tại Phòng C2 Công an tỉnh B cũng không có dữ liệu nên anh L1 trả lại xe ô tô cho bà L.
Do nghi ngờ giấy tờ xe của V là giả nên ngày 28/8/2020, bà L đã làm đơn tố cáo V đến Công an xã T.
Tại kết luận giám định số 06 ngày 29/01/2021, của Phòng K Công an tỉnh B, kết luận: - 01 (một) "GIẤY CHỨNG NHẬN ĐĂNG KÝ XE Ô TÔ" số 096433, đề ngày 13/01/2020, nhãn hiệu "HONDA", biển số đăng ký: 93A-847.31, tên chủ xe SƠN THÀNH VƯƠNG, địa chỉ: K, L, P, BP (ký hiệu A1) là giả.
- 01 (một) "GIẤY CHỨNG NHẬN KIỂM ĐỊNH AN TOÀN KỸ THUẬT VÀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG PHƯƠNG TIỆN GIAO THÔNG CƠ GIỚI ĐƯỜNG BỘ" số No: KC 8560758, đề ngày 05/4/2020, nhãn hiệu "HONDA", biển đăng ký: 93A-847.31 (ký hiệu A2) là giả (Bút lục số 58).
Theo kết luận giám định số 785/KL-KTHS ngày 20/7/2023 của Phòng K Công an tỉnh B, kết luận: 01 xe Honda Accord, màu đen, chưa cấp biển kiểm soát, số khung: JHMCB7561LC-094713 và số máy: F22A41321587 không thay đổi (Bút lục số 61).
Tại Cáo trạng số 90/CT-VKS ngày 14/8/2024, Viện KSND huyện Đ, tỉnh Bình Phước đã truy tố bị cáo Sơn Thành V về tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” theo quy định tại khoản 1 Điều 341 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 (BLHS);
Tại phiên tòa: Đại diện Viện KSND huyện Đ, tỉnh Bình Phước giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo; đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Sơn Thành V phạm tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”.
Về hình phạt: Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 341; điểm i, o, s khoản 1 Điều 51; Điều 36, 50 BLHS: xử phạt bị cáo Sơn Thành V từ 01năm đến 01 năm 03 tháng tù, cho hưởng án treo; thời gian thử thách từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tính từ ngày tuyên án. Giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú quản lý giáo dục trong thời gian thử thách.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị tuyên giao cho Công an huyện Đ tiếp tục xác minh làm rõ và xử lý theo thẩm quyền 01 (một) xe ô tô con, màu đen, nhãn hiệu HONDA, số loại: ACCORD, chưa cấp biển kiểm soát, số khung JHMCB7561LC-094713, số máy: F22A4132158702, xe đã qua sử dụng, hiện không hoạt động được; Một hộ hồ sơ xe chuyển vùng, có phiếu thống kê riêng kèm theo hồ sơ (bản gốc); 01 hợp đồng mua bán oto giữa Dương Đức T1 và Nguyễn Chí T lập ngày 10/03/2020 tại Văn phòng C4- Nam Định, số công chứng 1844 quyển số 01/2020/TPCC-SCC-HĐGD (bản gốc); Một hợp đồng mua bán ô tô giữa Nguyễn Chí T và Sơn Thành V lập ngày 21/3/2020 tại Văn phòng C5, thành phố Hà Nội, số công chứng 3323/2020//HĐMB (bản gốc). Đề nghị tuyên tịch thu tiêu hủy 01 (một) cặp biển kiểm soát 93A-847.31.
Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Trong phần tranh luận, sau khi nghe đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước công bố bản luận tội, bị cáo không có tranh luận gì về phần tội danh mà chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ mức hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng và Người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự (TTHS). Quá trình điều tra và tại phiên tòa, không có ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định trên. Do đó, các hành vi và quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, Người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều là đúng pháp luật.
[2] Tại phiên tòa, bị cáo Sơn Thành V khai nhận hành vi phạm tội như cáo trạng số 90/CT-VKS ngày 14/8/2024, Viện KSND huyện Đ, tỉnh Bình Phước đã truy tố. Xét lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố; lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; Kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm vấn công khai tại phiên tòa. Như vậy, Hội đồng xét xử đủ cơ sở kết luận: Ngày 09/6/2020, Sơn Thành V có hành vi sử dụng các giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 096433 giả và giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường phương tiện giao thông đường bộ xe ô tô số KC 8560758 giả để làm hợp đồng ủy quyền cho bà Lê Thị Thúy L được toàn quyền sử dụng, định đoạt xe ô tô màu đen, nhãn hiệu HONDA, số loại: ACCORD gắn biển kiểm soát giả 93A-847.3, hợp đồng ủy quyền được công chứng tại Văn phòng C3 thuộc ấp T, xã T, huyện Đ, tỉnh Bình Phước. Hành vi của bị cáo Sơn Thành V đủ yếu tố cấu thành tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” theo quy định tại khoản 1 Điều 341 BLHS.
[3] Bị cáo thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự quản lý hành chính Nhà nước, gây ảnh hưởng đến các hoạt động của cơ quan Nhà nước và các tổ chức. Ngoài ra, hành vi của bị cáo còn tiếp tay tạo điều kiện thúc đẩy cho các đối tượng xấu trong xã hội thực hiện các hành vi phạm tội khác ảnh hưởng đến nhiều lĩnh vực của cộng đồng dân cư trong xã hội. Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo có đủ năng lực nhận thức để biết rõ hành vi làm giả, sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức nhà nước là vi phạm pháp luật nhưng vì không muốn mất thời gian đi lại để làm thủ tục đăng ký, đăng kiểm xe ô tô tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền nên bị cáo đã lên mạng internet tìm thông tin để nhờ người làm giấy tờ xe ô tô với số tiền 6.000.000 đồng, bị cáo biết rõ đó là giấy tờ giả nhưng vẫn sử dụng các giấy tờ giả lưu hành và làm thủ tục ủy quyền cho người khác quản lý, sử dụng, lưu hành và định đoạt tài sản. Hành vi của bị cáo cần phải xử mức hình phạt nghiêm, tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo để răn đe và phòng ngừa chung.
[4] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo có nhân thân tốt và không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo là người đủ 70 tuổi trở lên, hiện tại bị cáo đã già yếu (trên 74 tuổi); gia đình bị cáo có hoàn cảnh khó khăn. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm i, o, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của BLHS được xem xét khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.
[5] Căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội; các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo. Xét thấy, bị cáo là người có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng; hành vi phạm tội của bị cáo chưa gây ra thiệt hại; bị cáo là người đã già yếu (trên 74 tuổi) không còn nguy hiểm cho xã hội nên không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà chỉ cần giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú và gia đình quản lý giáo dục bị cáo là đủ.
Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo trên 74 tuổi, không còn khả năng lao động nên cần miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đồng Phú truy tố bị cáo Sơn Thành V1 về tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” theo quy định tại khoản 1 Điều 341 BLHS là có căn cứ, đúng người đúng tội và đúng pháp luật.
Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[6] Các vấn đề khác:
Đối với người làm giả các giấy tờ và người giao các giấy tờ trên cho Sơn Thành V; Cơ quan CSĐT Công an huyện Đ chưa xác minh được nhân thân, lai lịch Viện kiểm sát không đề cập xử lý trong vụ án nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Đối với bà Nguyễn Thị Q1 (vợ của bị cáo V) khi ký hợp đồng ủy quyền cho bà Lê Thị Thúy L, bà Q1 không biết các Giấy chứng nhận đăng ký xe, Giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường phương tiện giao thông đường bộ là giả nên hành vi không cấu thành phạm tội, Viện kiểm sát không đề cập xử lý nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Đối với Công chứng viên Đỗ Mạnh C là người ký công chứng hợp đồng ủy quyền giữa Sơn Thành V, bà Nguyễn Thị Q1 và bà Lê Thị Thúy L, do Công chứng viên đã chết Viện kiểm sát không đề cập xử lý trong vụ án nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Đối với lời trình bày của bà Lê Thị Thúy L về việc đổi xe giữa bà L và Sơn Thành V, tuy nhiên bà L không cung cấp được các chứng cứ chứng minh; Quá trình điều tra cũng không chứng minh được hai bên có việc đổi chác xe cho nhau nên không có cơ sở để xác định bị cáo V có hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát không đề cập xử lý trong vụ án nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Tại phiên tòa bà Lê Thị Thúy L yêu cầu bị cáo V trả lại giá trị chiếc xe ô tô mà bị cáo đã ủy quyền cho bà L định đoạt. Tuy nhiên, khôn có căn cứ về việc giữa các bên có sự mua bán đổi chác xe ô tô cho nhau như đã phân tích ở trên, tại phiên tòa bị cáo cũng không đồng ý với yêu cầu của bà L nên không có căn cứ để xem xét giải quyết trong vụ án này. Trường hợp sau này có căn cứ để chứng minh thì bà L có thể khởi kiện bằng vụ kiện dân sự khác.
[7] Về xử lý vật chứng:
Đối với 01 (một) xe ô tô con, màu đen, nhãn hiệu HONDA, số loại: ACCORD, chưa cấp biển kiểm soát, số khung JHMCB7561LC-094713, số máy: F22A4132158702, xe đã qua sử dụng, hiện không hoạt động được; Một hộ hồ sơ xe chuyển vùng, có phiếu thống kê riêng kèm theo hồ sơ (bản gốc); 01 hợp đồng mua bán oto giữa Dương Đức T1 và Nguyễn Chí T lập ngày 10/03/2020 tại Văn phòng C4- Nam Định, số công chứng 1844 quyển số 01/2020/TPCC-SCC-HĐGD (bản gốc); Một hợp đồng mua bán ô tô giữa Nguyễn Chí T và Sơn Thành V lập ngày 21/3/2020 tại Văn phòng C5, thành phố Hà Nội, số công chứng 3323/2020//HĐMB (bản gốc). Đây là xe ô tô và giấy tờ liên quan đến xe ô tô mà bị cáo đã ủy quyền cho bà L định đoạt, tuy nhiên quá trình điều tra cơ quan điều tra chưa xác minh, làm rõ được hồ sơ gốc của chiếc xe ô tô nói trên nên chưa có căn cứ để xử lý trong vụ án. Do đó cần tuyên giao xe ô tô và các giấy tờ liên quan đến xe ô tô nói trên cho Công an huyện Đ tiếp tục xác minh làm rõ và xử lý theo thẩm quyền.
Đối với 01 (một) "GIẤY CHỨNG NHẬN ĐĂNG KÝ XE Ô TÔ" số 096433, đề ngày 13/01/2020, nhãn hiệu "HONDA", biển số đăng ký: 93A-847.31, tên chủ xe SƠN THÀNH VƯƠNG, địa chỉ: K, L, P, BP (ký hiệu A1); 01 (một) "GIẤY CHỨNG NHẬN KIỂM ĐỊNH AN TOÀN KỸ THUẬT VÀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG PHƯƠNG TIỆN GIAO THÔNG CƠ GIỚI ĐƯỜNG BỘ" số No: KC 8560758, đề ngày 05/4/2020, nhãn hiệu "HONDA", biển đăng ký: 93A-847.31, đây là tài liệu, chứng cứ chứng minh tội phạm đang được lưu trữ tại hồ sơ vụ án nên không xem xét xử lý.
Đối với 01 (một) cặp biển kiểm soát 93A-847.31, đây xác định là biển số giả, không có giá trị sử dụng nên cần tuyên tịch thu tiêu hủy.
[7] Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố bị cáo Sơn Thành V phạm tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”.
- Áp dụng khoản 1 Điều 341; các điểm i, o, s khoản 1 Điều 51; các Điều 36, 50 BLHS Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Sơn Thành V 01 (một) năm tù, cho hưởng án treo; thời gian thử thách là 02 năm tính từ ngày tuyên án 27/9/2024.
Giao bị cáo Sơn Thành V cho Ủy ban nhân dân phường L, thị xã P, tỉnh Bình Phước và gia đình quản lý giáo dục trong thời gian thử thách.
Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
- Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 107 Bộ luật Tố tụng hình sự, tuyên:
Giao Công an huyện Đ tiếp tục xác minh và xử lý theo quy định của pháp luật đối với: 01 (một) xe ô tô con, màu đen, nhãn hiệu HONDA, số loại: ACCORD, chưa cấp biển kiểm soát, số khung JHMCB7561LC-094713, số máy: F22A4132158702, xe đã qua sử dụng, hiện không hoạt động được; Một hộ hồ sơ xe chuyển vùng, có phiếu thống kê riêng kèm theo hồ sơ (bản gốc); 01 hợp đồng mua bán oto giữa Dương Đức T1 và Nguyễn Chí T lập ngày 10/03/2020 tại văn phòng C4- Nam Định, số công chứng 1844 quyển số 01/2020/TPCC-SCC-HĐGD (bản gốc); Một hợp đồng mua bán ô tô giữa Nguyễn Chí T và Sơn Thành V lập ngày 21/3/2020 tại Văn phòng C5, thành phố Hà Nội, số công chứng 3323/2020//HĐMB (bản gốc).
Tịch thu tiêu hủy 01 (một) cặp biển kiểm soát 93A-847.31.
- Án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Sơn Thành V phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).
- Bị cáo được quyền kháng cáo Bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo Bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được tống đạt theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Hương |
Bản án số 107/2024/HS-ST ngày 27/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỒNG PHÚ, TỈNH BÌNH PHƯỚC về sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức
- Số bản án: 107/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỒNG PHÚ, TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: tuyên bị cáo phạm tội Sử dụng tài liệu giả của cơ quan tổ chức
