TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT TỈNH BÌNH DƯƠNG Bản án số: 107/2024/HNGĐ-ST Ngày: 17-9-2024 V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con. | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ————————— |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Minh Nga
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Đặng Minh Lý
- Ông Thái Bình Hoà
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Cẩm Thơ - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Diệp Ngọc Dinh - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 201/2024/TLST-HNGĐ, ngày 23 tháng 5 năm 2024 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 101/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 09 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 58/2024/QĐST-HNGĐ, ngày 30 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Trần Thị Như Y1, sinh năm 2003; địa chỉ thường trú: Ấp Phú H, xã Định M, huyện T, tỉnh An Giang; địa chỉ liên hệ: Số xx, khu phố Bình T, phường Thuận G, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Vắng mặt, có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.
- Bị đơn: Ông Huỳnh Hửu H, sinh năm 1998; địa chỉ thường trú: Số xx đường Thích Quảng Đ, Tổ 7, Khu phố 2, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Trần Thị Như Y1 trình bày:
Về hôn nhân: Bà Trần Thị Như Y1 và ông Huỳnh Hửu H là vợ chồng, hôn nhân tự nguyện, có đăng ký kết hôn theo giấy chứng nhận kết hôn số xx, ngày 01/3/2023 tại UBND phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương.
Sau khi kết hôn thì vợ chồng chung sống tại địa chỉ: Số xx đường Thích Quảng Đ, Tổ 7, Khu phố 2, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương.
Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, tuy nhiên qua một thời gian chung sống vợ chồng đã xảy ra nhiều mâu thuẫn, có nhiều bất đồng quan điểm, thường xuyên cải vã, hiện nay vợ chồng đã sống ly thân, bà Y1 và ông H không còn sống chung nhà gần nữa năm nay. Khi xảy ra mâu thuẫn vợ chồng tự hòa giải những mâu thuẫn trong gia đình, tuy nhiên mâu thuẫn vợ chồng vẫn không thể giải quyết được, tính tình không hợp nhau, cuộc sống vợ chồng trở nên căng thẳng.
Vì vậy, nay thấy mâu thuẫn vợ chồng đã đến mức trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, không thể hàn gắn được nên bà Ý yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với ông Huỳnh Hửu H. Khi xảy ra mâu thuẫn vợ chồng tự giải quyết không yêu cầu địa phương, gia đình hai bên hòa giải.
Về con chung: Qúa trình chung sống vợ chồng có 01 con chung: Huỳnh Bảo A, sinh ngày xx/3/2023. Hiện nay con chung đang sống cùng với bà Y1. Bà Y1 yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng chăm sóc con chung Huỳnh Bảo A, sinh ngày xx/3/2023 sau khi ly hôn.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Bà Y1 không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con chung.
Hiện nay bà Y1 làm công việc tự do thu nhập khoảng 10.000.000 đồng/tháng. Ông H làm công nhân, thu nhập như thế nào bà Y1 không rõ.
Về tài sản chung, nợ chung: Bà Y1 không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Kèm theo đơn khởi kiện nguyên đơn giao nộp các tài liệu chứng cứ sau: Căn cước công dân của bà Trần Thị Như Y1, ông Huỳnh Hửu H (bản sao); Giấy chứng nhận kết hôn (bản sao); Giấy khai sinh của Huỳnh Bảo A (bản sao).
- Bị đơn ông Huỳnh Hửu H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần để làm việc, tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không có lý do và không gửi văn bản trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị Như Y1 cho Tòa án nên Tòa án không thể ghi nhận ý kiến của bị đơn ông Huỳnh Hửu H.
Bị đơn không giao nộp tài liệu chứng cứ.
Tại phiên tòa,
- - Nguyên đơn bà Trần Thị Như Y1 vắng mặt, có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.
- - Bị đơn ông Huỳnh Hửu H vắng mặt, không có lý do.
- - Phát biểu ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:
- + Về việc tuân theo pháp luật tố tụng:
Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa.
* Việc tuân theo pháp luật trong thời gian chuẩn bị xét xử:
Thẩm phán đã thực hiện đúng, đầy đủ các quy định tại Điều 203 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
* Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa:
Tại phiên tòa Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng về việc xét xử sơ thẩm vụ án.
* Việc tuân theo pháp luật tố tụng của những người tham gia tố tụng:
Nguyên đơn chấp hành đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định tại Điều 70, 71 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn không thực hiện các quyền và nghĩa vụ tố tụng tại Điều 70, 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- + Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 56, 81, 82 của Luật hôn nhân và Gia đình, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trần Thị Như Y1 đối với bị đơn ông Huỳnh Hửu H về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”.
- + Những yêu cầu, kiến nghị để khắc phục vi phạm tố tụng: Không
- + Về việc tuân theo pháp luật tố tụng:
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1]. Về tố tụng:
[1.1]. Về quan hệ pháp luật: Ngày 08 tháng 4 năm 2024, bà Trần Thị Như Y1 có đơn khởi kiện ly hôn, tranh chấp về nuôi con đối với ông Huỳnh Hửu H. Từ những nội dung tranh chấp nêu trên, Hội đồng xét xử xác định đây là vụ án “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo quy định tại Điều 51, Điều 53 của Luật Hôn nhân và Gia đình.
[1.2]. Về thẩm quyền: Bà Trần Thị Như Y1 khởi kiện về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con đối với ông Huỳnh Hửu H, đây là loại việc thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Tại thời điểm thụ lý, bị đơn Huỳnh Hửu H có địa chỉ cư trú tại phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[1.3]. Về việc tham gia phiên tòa của đương sự:
Tại phiên tòa nguyên đơn bà Trần Thị Như Y1 có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt, bị đơn ông Huỳnh Hửu H vắng mặt không có lý do mặc dù đã được triệu tập tham gia phiên tòa lần thứ hai. Vì vậy căn cứ vào khoản 2 Điều 227, 228 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với các đương sự.
[2]. Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, Hội đồng xét xử xét thấy:
[2.1]. Về quan hệ hôn nhân:
Bà Trần Thị Như Y1 và ông Huỳnh Hửu H chung sống với nhau vào năm 2023, có đăng ký kết hôn, theo Giấy chứng nhận kết hôn số 14, ngày 01/3/2023 tại UBND phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Việc chung sống và đăng ký kết hôn giữa bà Y1 và ông H là hoàn toàn tự nguyện, không bên nào bị ép buộc, đã tuân thủ đúng quy định tại Điều 8, 9 của Luật hôn nhân và Gia đình năm 2014 nên hôn nhân giữa bà Y và ông H là hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ.
Nay bà Y1 yêu cầu ly hôn với ông H vì lý do vợ chồng có nhiều mâu thuẫn, bất đồng quan điểm, thường xuyên cải vã, vợ chồng chung sống không có hạnh phúc, không còn quan tâm, yêu thương, chăm sóc lẫn nhau.
Qúa trình tham gia tố tụng, Tòa án đã triệu tập hợp lệ nhiều lần để làm việc, tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng ông H đều vắng mặt nên được xem là từ bỏ quyền trình bày, đưa ra chứng cứ chứng minh để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình; điều này cũng chứng tỏ ông H không mong muốn vợ chồng đoàn tụ. Xét thấy, mục đích của hôn nhân là nhằm xây dựng gia đình ấm no, bình đẳng, tiến bộ và hạnh phúc nên vợ chồng phải có trách nhiệm chăm sóc, giúp đỡ nhau về mọi mặt, tin tưởng yêu thương nhau, những mâu thuẫn trong cuộc sống vợ chồng cần phải tìm cách giải quyết để xây dựng gia đình hạnh phúc.
Việc bà Y1 và ông H không còn quan tâm, yêu thương, chăm sóc và giúp đỡ lẫn nhau và không cùng nhau chia sẽ, thực hiện các công việc trong gia đình dẫn đến tình cảm vợ chồng không còn nên vi phạm nghiêm trọng quyền và nghĩa vụ của vợ chồng theo quy định tại Điều 19 của Luật Hôn nhân và Gia đình.
Qua xác minh tại địa phương nơi bà Y1, ông H cư trú cho biết: Bà Y1 và ông H là vợ chồng, quá trình chung sống vợ chồng bà Y1 và ông H có phát sinh mâu thuẫn hay không thì địa phương không rõ vì bà Y1 và ông H không thông báo với địa phương.
Bà Y1 xác định hiện nay không còn tình cảm với ông H, vợ chồng không thể nào có cơ hội hàn gắn. Như vậy, có đủ cơ sở khẳng định mâu thuẫn giữa bà Y1 và ông H đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên bà Y1 yêu cầu được ly hôn với ông H là có cơ sở. Do vậy, căn cứ khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình, chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Trần Thị Như Y1 đối với ông Huỳnh Hửu H.
[2.2]. Về con chung: Qúa trình chung sống bà Y1 và ông H có 01 con chung là: Huỳnh Bảo A, sinh ngày xx/3/2023. Hiện nay con chung đang sống cùng bà Y1. Sau khi ly hôn bà Y1 yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.
Xét thấy, con chung là Huỳnh Bảo A, sinh ngày xx/3/2023, còn nhỏ (dưới 36 tháng tuổi), bà Y1 có nguyện vọng được nuôi con và không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con. Ông H không có văn bản trình bày về nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng con chung. Hiện nay, bà Y1 có công việc và thu nhập ổn định đủ điều kiện để nuôi dưỡng con chung. Vì vậy, để con chung phát triển ổn định, toàn diện cần giao con chung là Huỳnh Bảo A, sinh ngày xx/3/2023 cho bà Trần Thị Như Y1 trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục là phù hợp nên yêu cầu của bà Ý về việc trực tiếp nuôi dưỡng con chung được chấp nhận.
[2.3]. Về cấp dưỡng nuôi con: Bà Y1 không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con nên ông H không phải cấp dưỡng nuôi con.
[2.4]. Về tài sản chung, nợ chung: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét giải quyết.
[3]. Tại phiên tòa, phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án của Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một là có cơ sở, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.
[4]. Về án phí sơ thẩm: Căn cứ Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Bà Trần Thị Như Y1 phải chịu 300.000 đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- - Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, các điều 147, 227, 228, 238, 266, 271 và 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- - Căn cứ các điều 51, 53, 56, 57, 81, 82, 83 và 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình;
- - Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trần Thị Như Y1 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” đối với bị đơn ông Huỳnh Hửu H.
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Trần Thị Như Y1 được ly hôn với ông Huỳnh Hửu H.
- Về con chung: Giao con chung là Huỳnh Bảo A, sinh ngày xx/3/2023 cho bà Trần Thị Như Y1 trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục.
- Về cấp dưỡng nuôi con chung: Ông Huỳnh Hửu H không phải cấp dưỡng nuôi con.
Ông Huỳnh Hửu H có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con chung mà không ai được cản trở. Vì lợi ích hợp pháp của con chung, khi đương sự có yêu cầu Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc mức cấp dưỡng nuôi con nếu cần thiết.
- Về tài sản chung, nợ chung: Đương sự không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
- Về án phí sơ thẩm: Bà Trần Thị Như Y1 phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án ký hiệu BLTU/24 số 0002620, ngày 16/5/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương.
- Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Minh Nga |
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
Bản án số 107/2024/HNGĐ-ST ngày 17/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT TỈNH BÌNH DƯƠNG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con.
- Số bản án: 107/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con.
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bà Trần Thị Như Y1 khởi kiện ly hôn, tranh châp về nuôi con
