|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẨM PHẢ TỈNH QUẢNG NINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 107/2024/HS-ST
Ngày 17-9-2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẨM PHẢ, TỈNH QUẢNG NINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Quýnh.
Các hội thẩm nhân dân: Ông Lại Văn Bảo và Bà Nguyễn Thị Hiền.
Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thanh Thảo - Là Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cẩm Phả.
Đại diện viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả tham gia phiên tòa: Bà Đinh Thị Bích Hằng và Bà Phạm Thu H - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 9 năm 2024, tại Tòa án nhân dân thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 93/2024/TLST-HS ngày 09 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 98/2024/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 9 năm 2024, đối với bị cáo:
Họ và tên: Đàm Duy H1, tên gọi khác: không; Sinh ngày: 25/6/1985 tại thành phố C, tỉnh Quảng Ninh; Nơi cư trú: tổ F, khu C, phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: lớp 9/12; Dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông: Đàm Văn C và bà: Nguyễn Thị T; vợ: Lưu Kiều H2 (đã ly hôn), có 01 con, sinh năm 2015; tiền án: ngày 28/10/2016, bị Tòa án nhân dân thành phố Cẩm Phả xử phạt 07 năm 03 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, ngày 25/8/2021 chấp hành xong bản án; tiền sự: không; nhân thân: ngày 08/6/2005, bị Tòa án nhân dân thị xã (nay là thành phố) Cẩm Phả xử phạt 24 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, ngày 02/3/2007 chấp hành xong bản án; ngày 12/02/2014, bị Công an thành phố C xử phạt hành chính về hành vi Cố ý gây thương tích; bị cáo bị bắt tạm giam ngày 01/5/2024, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Q, có mặt tại phiên tòa.
* Bị hại: chị Vũ Thị Tuyết N, sinh năm: 1986; nơi cư trú: tổ F, khu T, phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh, có mặt tại phiên tòa.
* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1961; nơi cư trú: tổ F, khu C, phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh, có mặt tại phiên tòa.
* Người làm chứng: các anh Đỗ Quang N1, Hoàng Trung H3, Nguyễn Mạnh H4, đều vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN
2
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 23 giờ 00 phút ngày 05/01/2024, tại quán T6 ở tổ D, khu C, phường C, thành phố C, sau khi uống bia và nghe nhạc chị Vũ Thị Tuyết N và Đàm Duy H1 đã xảy ra mâu thuẫn, có lời qua tiếng lại cãi, chửi nhau, H1 dùng tay túm tóc và tát chị N, chị N cũng dùng tay đánh nhiều lần vào người H1. Chị N lấy 01 cốc thủy tinh ở trên bàn trước cửa quán ném trúng vào người H1, thì được can ngăn nên đi về phía bãi để xe bên cạnh quán nhặt viên gạch ở vỉa hè ném trúng vào người H1. H1 nhặt lại viên gạch ném về phía chị N, trúng vào đầu nhưng không bị thương tích. Anh Đỗ Quang N1 (là người được chị N gọi điện thoại đến đón về) đã đi đến can ngăn, thì giữa H1 và anh N1 xảy ra xô xát nhau, H1 lấy 01 con dao gấp bằng kim loại có mũi nhọn ở trong chùm chìa khóa ra dọa chị N và anh N1. Được mọi người can ngăn, H1 chuẩn bị lên xe taxi để đi về, thì chị N chạy đến dùng tay đấm vào mặt H1, H1 bực tức xoay người lại, tay phải đang cầm dao rồi giơ lên đâm 01 nhát từ trên xuống trúng vào khuỷu tay phải của chị N. Chị N bỏ chạy, H1 đuổi theo đến cửa quán, thì chị N bị ngã, H1 dùng chân đá 02 phát vào vùng mắt phải chị N, rồi H1 lên xe bỏ đi còn chị N được đưa đi Bệnh viện cấp cứu. Đến ngày 08/01/2024, chị N đến Công an phường C trình báo.
Cơ quan cảnh sát điều tra thu giữ: 01 con dao gấp bằng kim loại màu trắng dài 14,5cm, lưỡi dao bằng kim loại màu trắng dài 06cm (phần rộng nhất của lưỡi dao là 1,5cm), mũi nhọn, cán bằng kim loại màu trắng dài 8,5cm, rộng 01cm, trên cán dao khắc in số 555 do Đàm Duy H1 giao nộp vào ngày 08/01/2024.
Sau khi xảy ra vụ án, Cơ quan Cảnh sát điều tra công an thành phố C đã tiến hành khám nghiệm hiện trường, xác định: hiện trường xảy ra vụ “Cố ý gây thương tích” tại quán T6 ở tổ D, khu C, phường C, thành phố C, tại quán có camera nhưng không có đầu thu lưu trữ dữ liệu.
Tại Giấy chứng nhận thương tích ngày 06/01/2024 của Bệnh viện Đ1, thể hiện: chị Vũ Thị Tuyết N bị thương tích bàn tay phải tê bì, lạnh. Mạch quay, mạch trụ bên phải không bắt được. Vết thương mặt trước cánh – cẳng tay phải dài 8cm sâu 3cm, sắc gọn, đứt động mạch cánh tay, đứt thần kinh giữa.
Tại bản Kết luận giám định số 109/KLTTCT-TTPY ngày 23/02/2024 của Trung tâm pháp y Sở Y, kết luận: chị Vũ Thị Tuyết N bị chấn thương phần mềm vùng quanh mắt phải và vùng thái dương phải hiện đã khỏi, không để lại dấu vết bên ngoài, không để lại di chứng: 0%; vết thương mặt trước khuỷu tay phải tổn thương như sau: đứt tĩnh mạch trụ trung gian đã được thắt tĩnh mạch trụ, hiện tại siêu âm mạch máu bình thường: 3,5%; đứt động mạch cánh tay đã được nối động mạch cánh tay hiện tại siêu âm mạch máu bên phải bình thường: 07%; tổn thương thần kinh giữa tay phải 31%; sẹo vết thương vùng khuỷu tay phải kích thước lớn 3%. Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của chị Vũ Thị Tuyết N tại thời điểm giám định là 40%. Vết thương khuỷu tay phải do vật sắc nhọn; các tổn thương còn lại do vật tày gây nên.
Tại bản cáo trạng số 1818/CT-VKSCP ngày 07/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả đã truy tố bị cáo Đàm Duy H1 về tội: "Cố ý gây thương tích" theo điểm c khoản 3 (thuộc trường hợp quy định tại điểm a khoản 1) Điều 134 Bộ luật Hình sự.
3
Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo Đàm Duy H1 đã khai nhận: bị cáo và chị Vũ Thị Tuyết N có quan hệ tình cảm yêu đương nhau từ giữa năm 2023 nhưng sau đó dừng lại chỉ chơi cùng với nhau. Vào tối ngày 05/01/2024, chị N rủ bị cáo đi uống bia, nghe nhạc tại quán T6 ở tổ D, khu C, phường C, thành phố C, bị cáo có rủ thêm anh H5, trú tại thành phố H (bị cáo không rõ họ tên và địa chỉ cụ thể) đến uống cùng, sau đó chị N có gọi thêm anh N1. Đến 23 giờ cùng ngày sau khi ra thanh toán tiền để về thì chị N có chửi bới anh H5 nhiều nên bị cáo và chị N xảy ra cãi, chửi nhau, bị cáo tức giận túm tóc tát chị N một cái, chị N dùng tay để đánh lại bị cáo. Anh N1 và nhân viên trong quán có can ngăn đẩy bị cáo và chị N ra, anh N1 vẫn tiếp tục giữ bị cáo, chị N đã lấy một chiếc cốc thủy tinh ném vào ngực bị cáo sau đó còn nhặt viên gạch ném vào bụng bị cáo (nhưng không gây thương tích) nên bị cáo đã nhặt viên gạch này đuổi theo và đập vào đầu chị N. Anh N1 can ngăn nhưng chỉ giữ bị cáo để chị N ném gạch và cốc vào người bị cáo nên bị cáo đã chửi và đánh nhau cả với anh N1. Bị hai người đánh nên bị cáo đã dùng tay phải rút một con dao gấp từ chùm chìa khóa ra để dọa. Anh H5 kéo bị cáo ra xe taxi đỗ trước cửa quán để đi về, bị cáo bước một chân lên xe, tay vẫn đang cầm dao thì chị N chạy đến đấm một cái vào mồm bị cáo, vì bị đánh bị cáo đã xuống xe cầm dao bấm ở tay phải rồi giơ lên đâm một nhát theo hướng từ trên xuống dưới, từ phải qua trái thì chị N giơ tay đỡ nên bị đâm trúng vào cánh tay phải chảy máu. Chị N bỏ chạy, bị cáo đuổi theo đến cửa quán, thì chị N bị ngã, bị cáo còn dùng chân đá 02 phát vào vùng mắt phải chị N, sau đó bị cáo lên xe đi về. Con dao bấm dùng để gây thương tích cho chị N là của bị cáo nhặt được rồi mang theo để tự vệ, phòng thân. Bị cáo có tiền án và nhân thân xấu đúng như phần lý lịch đã nêu, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả truy tố bị cáo về tội: "Cố ý gây thương tích" theo điểm c khoản 3 (thuộc trường hợp quy định tại điểm a khoản 1) Điều 134 Bộ luật Hình sự là đúng, không bị oan. Sau khi sự việc xảy ra bị cáo đã cùng với gia đình bồi thường cho chị N số tiền 50.000.000 đồng. Hiện hoàn cảnh gia đình bị cáo hết sức khó khăn do vậy đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt đến mức thấp nhất.
Tại Cơ quan điều tra và tại phiên toà, bị hại là chị Vũ Thị Tuyết N có lời khai thể hiện: trước đây chị và bị cáo H1 từng có quan hệ tình cảm với nhau, khoảng 20 giờ ngày 05/01/2024 chị có rủ H1 đến uống bia tại quán T6 ở tổ D, khu C, phường C, thành phố C, khi uống bia say chị có gọi cho anh N1 đến đón về nên giữa chị và H1 xảy ra mâu thuẫn. Sau đó H1 dùng tay chân đánh chị trước thì chị mới đánh lại về phía người H1. H1 còn dùng 01 con dao bấm bằng kim loại đâm về phía chị theo hướng từ trên xuống dưới, từ phải qua trái (do H1 đang đứng còn chị ngồi bệt dưới lòng đường) chị giơ tay lên đỡ dao của H1 nên bị chém trúng vào căng tay phải chảy máu, chị được anh N1 và anh H4 đưa đến Bệnh viện Đ1 để cấp cứu. Quá trình điều tra chị đã được gia đình bị cáo thăm hỏi, bồi thường số tiền 50.000.000 đồng, chị thấy mình cũng có một phần lỗi nên đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo đến mức thấp nhất.
Tại phiên tòa, người có quyền, lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án là bà Nguyễn Thị T có lời khai thể hiện: bà là mẹ đẻ của bị cáo, sau khi sự việc xảy ra bị cáo đã tác động gia đình nên bà bỏ ra số tiền 38.000.000 đồng cùng với bị cáo có
4
12.000.000 đồng để bồi thường cho chị N tổng số tiền 50.000.000 đồng, bà không đề nghị bị cáo trả lại số tiền đã bỏ ra.
Người làm chứng là các anh Đỗ Quang N1, Hoàng Trung H3, Nguyễn Mạnh H4 đều vắng mặt tại phiên tòa nhưng có lời khai trong hồ sơ vụ án thể hiện: các anh chứng kiến việc bị cáo H3 và chị N xô xát với nhau nên có vào can ngăn, sau đó H3 đã dùng dao bấm đâm vào tay phải của chị N gây thương tích. Anh N1 còn khai do tức giận nên giữa anh N1 và H3 cũng sử dụng tay, chân đấm đá vào người nhau nhưng không gây thương tích gì.
Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội: “Cố ý gây thương tích”, đề nghị Hội đồng xét xử: áp dụng điểm c khoản 3 (thuộc trường hợp quy định tại điểm a khoản 1) Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự; xử phạt Đàm Duy H1 từ 05 (năm) năm đến 05 (năm) 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt (01/5/2024).
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; tịch thu tiêu hủy: 01 (một) con dao gấp bằng kim loại màu trắng thu giữ của bị cáo Đàm Duy H1.
Tại phần tranh luận, bị cáo, bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án không tranh luận với lời luận tội của Đại diện Viện kiểm sát, không tranh luận với nhau, riêng bị cáo thấy ân hận với hành vi phạm tội của mình và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt đến mức thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục được qui định trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 và Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Đàm Duy H1, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và người làm chứng không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng; do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
5
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: tại phiên toà bị cáo Đàm Duy H1 khai nhận về hành vi phạm tội đúng với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án và người làm chứng, phù hợp với nội dung bản Cáo trạng và còn phù hợp với: Biên bản tiếp nhận nguồn tin về tội phạm; Biên bản khám nghiệm hiện trường; Sơ đồ hiện trường vụ cố ý gây thương tích và bản ảnh; Bản ảnh thương tích; Hồ sơ bệnh án của bị hại; Giấy chứng nhận thương tích của Bệnh viện Đ1 cấp cho chị N; bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống 109/KLTTCT-TTPY ngày 23/02/2024 của Trung tâm Y; cùng với các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận: khoảng 23 giờ ngày 05/01/2024 tại khu vực tổ D, khu C, phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh, do có mâu thuẫn cãi chửi nhau nên Đàm Duy H1 và chị Vũ Thị Tuyết N xảy ra xô xát đánh nhau; bị cáo H1 đã dùng dao gấp kim loại mũi nhọn đâm vào khuỷu tay phải và dùng chân đá 02 phát vào vùng mắt phải chị N gây thương tích, làm tổn hại 40% sức khỏe. Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội “Cố ý gây thương tích” với tình tiết định khung tăng nặng là dùng hung khí nguy hiểm, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 3 (thuộc trường hợp quy định tại điểm a khoản 1) Điều 134 Bộ luật Hình sự, đúng như nội dung bản Cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả đã truy tố đối với bị cáo.
[3] Hành vi phạm tội của bị cáo là rất nghiêm trọng, đã xâm phạm an toàn về sức khoẻ của anh H1 và còn gây mất trật tự trị an xã hội, do vậy cần phải áp dụng hình phạt nghiêm minh phù hợp với tính chất mức độ phạm tội và nhân thân của bị cáo.
[4] Về tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: bị cáo có nhân thân xấu, lại có tiền án: ngày 28/10/2016, bị Tòa án nhân dân thành phố Cẩm Phả xử phạt 07 năm 03 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” chưa được xóa án tích lại tiếp tục phạm tội rất nghiêm trọng chứng tỏ bị cáo thiếu ý thức rèn luyện bản thân thành công dân tốt, do vậy bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Tái phạm nguy hiểm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử có xem xét, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Bị cáo đã tự nguyện và còn tác động gia đình cùng bồi thường thiệt hại cho bị hại, tại phiên tòa bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; mặt khác trong vụ án này cũng xác định nguyên nhân dẫn đến việc bị cáo thực hiện hành vi phạm tội là do có một phần lỗi của bị hại, hai bên xảy ra mâu thuẫn đã được mọi người can ngăn, bị cáo lên xe taxi để về bị hại còn có hành vi xông vào đánh khiến bị cáo bức xúc dùng dao đâm gây thương tích cho bị hại; đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Nhưng dù xem xét đến đâu cũng cần bắt bị cáo phải cách ly khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ để cải tạo, giáo dục bị cáo thành công dân có ích cho gia đình và xã hội đúng như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.
[5] Về trách nhiệm dân sự: bị cáo cùng với gia đình đã bồi thường số tiền 50.000.000 đồng thiệt hại về sức khỏe cho chị N, bị hại không yêu cầu gì khác nên Hội đồng xét xử không xem xét, bà Nguyễn Thị T (mẹ đẻ bị cáo) không yêu cầu bị cáo hoàn trả lại số tiền đã bỏ ra để bồi thường cho bị hại nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[6] Về xử lý vật chứng: con dao gấp bằng kim loại bị cáo dùng để gây thương tích cho chị N, đây là công cụ phạm tội nên cần tịch thu tiêu hủy.
[7] Về các vấn đề khác: đối với hành vi chị Vũ Thị Tuyết N đánh nhau với Đàm Duy H1 tại khu vực vỉa hè trước cửa quán T6 nơi đông người qua lại nhưng do sự việc xảy ra nhanh và được mọi người can ngăn kịp thời, không gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội nên hành vi không cấu thành tội Gây rối trật tự công cộng. Đàm Duy H1 còn xô xát với anh Đỗ Quang N1, chị N nhưng do bị cáo và anh N1 không bị thương tích và không có yêu cầu, đề nghị gì nên
6
không đề cập xử lý.
[8] Về án phí: bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật.
[9] Về quyền kháng cáo: bị cáo, bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào điểm c khoản 3 (thuộc trường hợp quy định tại điểm a khoản 1) Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự;
Tuyên bố: Bị cáo Đàm Duy H1 phạm tội "Cố ý gây thương tích".
Xử phạt: Đàm Duy H1 05 (năm) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt (ngày 01/5/2024).
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) con dao gấp bằng kim loại màu trắng dài 14,5cm, lưỡi dao nhọn bằng kim loại màu trắng dài 06cm, thu giữ của bị cáo Đàm Duy H1
Tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số: 150/BB - THA ngày 16/8/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cẩm Phả.
Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Buộc bị cáo Đàm Duy H1 phải nộp: 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Căn cứ vào các Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Án xử sơ thẩm công khai có mặt bị cáo, bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án; báo cho biết có quyền kháng cáo trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyễn Thị Quýnh |
Khoảng 23 giờ 10 phút ngày 29/4/2024, tại tổ A, khu H, phường C, thành phố C, Dương Thanh T1 đã có hành vi bán trái phép 0,363 gam thực vật khô là ma tuý
7
loại cần sa với giá 300.000 đồng cho anh Triệu Anh T2 để anh T3 sử dụng, vừa giao dịch xong thì bị Công an bắt quả tang, vật chứng thu giữ của Triệu Anh T2: một vỏ hộp giấy bên trong có một túi nilon, kích thước khoảng (4x7cm) chứa thực vật khô, số tiền 150.000 đồng và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung vỏ màu đen cùng sim; thu giữ của Dương Thanh T1 01 điện thoại di động nhãn hiệu POCO, vỏ màu xanh kèm sim, 500.000 đồng; tạm giữ của T1 01 xe ô tô nhãn hiệu Vinfast VF8, biển kiểm soát 14E – 009.88.
Tại các bản Kết luận giám định số: 607/KL-KTHS ngày 06/5/2024 và số 623/ KL-KTHS ngày 08/5/2024 của Phòng K Công an tỉnh Q kết luận: thực vật khô thu giữ của Triệu Anh T2 gửi giám định là ma tuý, loại cần sa, khối lượng 0,363g; Tìm thấy chất 9-cacboxy-THC là sản phẩm chuyển hóa của chất ma túy cần sa trong mẫu nước tiểu của Triệu Anh T2 và Dương Thanh T1.
Bản Cáo trạng số 1881/CT-VKSCP ngày 12/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh đã truy tố bị cáo Dương Thanh T1 về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
Tại Cơ quan điều tra, tại phiên tòa bị cáo Dương Thanh T1 đều khai nhận: bị cáo làm nghề lái xe taxi cho Công ty cổ phần D và Thông minh GSM, khoảng 11 giờ 30 ngày 29/4/2024 bị cáo nhận được điện thoại của Triệu Anh T2 hỏi mua ma tuý loại cần sa, bị cáo cũng thường sử dụng loại ma tuý này nên nhận lời bán cho anh T2 và hẹn giao dịch tại quán K1 Đ. Do bận chở khách nên phải đến hơn 23 giờ cùng ngày thì bị cáo điều khiển xe ô tô biển số 14E – 009.88 đến điểm hẹn, tại đây T2 đưa cho bị cáo một tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng, do lượng ma tuý cần sa không còn nhiều nên bị cáo đã bán cho T2 với giá 350.000 đồng gồm cả phí xe taxi 50.000 đồng. Bị cáo đưa lại cho T2 số tiền 150.000 đồng, khi vừa giao dịch xong thì bị Công an phát hiện bắt quả tang và thu giữ vật chứng như nội dung vụ án đã nêu. Bị cáo có nhân thân xấu đúng như phần lý lịch đã nêu, bị cáo sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu POCO màu xanh bị Công an thu giữ vào việc liên lạc mua bán ma tuý, số tiền 500.000 đồng gồm tiền bán ma tuý cho anh T2 và tiền bị cáo lao động có được; chiếc xe ô tô là của Công ty cổ phần D. Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả truy tố bị cáo về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, không bị oan. Bị cáo thấy ân hận về hành vi phạm tội của mình, hoàn cảnh gia đình hiện nay rất khó khăn nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
* Anh Triệu Anh T2 – là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và là người làm chứng trong vụ án vắng mặt tại phiên toà nhưng có lời khai tại hồ sơ vụ án thể hiện: anh sử dụng ma tuý loại cần sa từ tháng 02/2024 đến nay, vào khoảng 11 giờ 30 phút ngày 29/4/2024 anh đã gọi điện thoại cho Dương Thanh T1 để hỏi mua 500.000 đồng ma tuý, anh và bị cáo T1 hẹn nhau đến tối giao dịch tại khu vực cửa quán K1 Đ thuộc tổ A, khu H, phường C, thành phố C để giao nhận, khoảng 23 giờ cùng ngày thì T1 điều khiển xe ô tô biển số 14E – 009.88 đến điểm hẹn, khi gặp T1 anh đưa 500.000 đồng thì T1 đưa lại cho anh một hộp giấy màu trắng bên trong chứa ma tuý cần sa, T1 nói với anh là chỉ còn ít ma tuý cần sa nên bán với giá
8
300.000 đồng và lấy thêm 50.000 đồng tiền phí taxi. T1 đưa lại cho anh 150.000 đồng, hai bên vừa giao dịch xong thì bị Công an bắt quả tang. Công an đưa anh về trụ sở để làm việc và thu giữ vật chứng là ma tuý cần sa theo đúng quy định, Công an thu giữ của anh 150.000 đồng và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung cùng sim, anh đã được trả lại điện thoại.
* Ông Nguyễn Cảnh T4 – người đại diện theo uỷ quyền của Công ty cổ phần D là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án có lời khai tại hồ sơ và đơn xin xử án vắng mặt, có quan điểm:
Anh Nguyễn Văn B là người làm chứng trong vụ án vắng mặt tại phiên tòa có lời khai tại Cơ quan điều tra thể hiện: anh là bạn của anh Triệu Anh T2, vào khoảng 23 giờ ngày 29/4/2024 anh được anh T2 mời đến quán K1 Đ ở tổ A, khu H, phường C, thành phố C, tại đây anh thấy có một chiếc xe ô tô biển kiểm soát 14E – 009.88 đi đến, anh thấy T2 đưa cho người lái xe một tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng thì người này đưa lại cho T2 một hộp giấy màu trắng và số tiền 150.000 đồng, khi họ vừa trao đổi với nhau xong thì Công an đến bắt giữ cả hai về hành vi mua bán trái phép chất ma tuý và thu giữ vật chứng theo đúng quy định.
Ông Bùi Lã T5 là người chứng kiến trong vụ án vắng mặt tại phiên tòa có lời khai tại Cơ quan điều tra thể hiện: ông chứng kiến Công an bắt quả giữ, thu trong tay trái của Triệu Anh T2 01 (một) hộp giấy bên trong có một túi nilon chứa thực vật khô, T2 khai nhận đó là ma túy loại cần sa vừa mua của T1 để về sử dụng. Công an đã tiến hành lập biên bản, niêm phong số ma túy và thu giữ các vật chứng của T1 là 500.000 đồng là số tiền mà T2 mua ma tuý của T1, 01 điện thoại di động nhãn hiệu POCO vỏ màu xanh, tạm giữ xe ô tô nhãn hiệu Vinfast VF8 theo đúng quy định.
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Dương Thanh T1 về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, đề nghị Hội đồng xét xử: áp dụng khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự; xử phạt Dương Thanh T1 từ ................................. tháng đến ................................. tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 30/4/2024; không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.
Áp dụng: điểm a, b, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, b, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; tịch thu nộp ngân sách nhà nước số tiền 350.000 đồng và 01 điện thoại di động nhãn hiệu POCO thu giữ của bị cáo T1; tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong bên trong có chứa số ma tuý hoàn lại sau giám định và 01 chiếc sim điện thoại thu giữ của bị cáo T1. Trả lại cho anh Triệu Anh T2 số tiền 150.000 đồng.
Tại phần tranh luận, bị cáo không tranh luận gì thêm, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt đến mức thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
9
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục được qui định trong Bộ luật Tố tụng hình sự; quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Dương Thanh T1, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người làm chứng, người chứng kiến không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng; do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: tại phiên toà bị cáo Dương Thanh T1 khai nhận về hành vi phạm tội đúng với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với nội dung bản Cáo trạng và các tài liệu như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang lập hồi 23 giờ 30 phút ngày 29/4/2024; Biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ; các bản kết luận giám định của Phòng K Công an tỉnh Q; phù hợp với lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người làm chứng, người chứng kiến và các tài liệu điều tra khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: ngày 29/4/2024, tại tổ A, khu H, phường C, thành phố C, Dương Thanh T1 đã có hành vi bán trái phép 0,363 gam ma túy, loại cần sa cho anh Triệu Anh T2 với giá 300.000 đồng để anh T2 sử dụng thì bị Công an bắt giữ. Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả truy tố bị cáo về hành vi “Mua bán trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự, do vậy cần chấp nhận lời luận tội của Kiểm sát viên đối với bị cáo.
[3] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về ma tuý, gây mất trật tự trị an xã hội. Việc mua bán, sử dụng trái phép chất ma tuý không chỉ ảnh hưởng xấu đến sức khỏe, trí lực của con người, mà còn làm phát sinh nhiều tội phạm khác và là hiểm hoạ đối với mọi gia đình và xã hội. Chính vì vậy hành vi phạm tội của bị cáo cần phải được xử phạt nghiêm mới có tác dụng giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: bị cáo có nhân thân xấu đã từng bị bị Công an thành phố C xử phạt vi phạm hành chính về hành vi gây thương tích cho người khác nhưng không lấy đó làm bài học rút kinh nghiệm mà vẫn phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” nhằm mục đích kiếm lời, chứng tỏ bị cáo thiếu ý thức rèn luyện bản thân trở thành công dân tốt. Hội đồng xét xử có xem xét tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã khai báo thành khẩn, ăn năn hối hận về hành vi phạm tội đã gây ra nên áp dụng tình tiết quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho bị cáo, nhưng dù xem xét đến đâu cũng cần bắt phải cách ly ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội.
[5] Về hình phạt bổ sung: bị cáo không có nghề nghiệp ổn định vì vậy không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
10
[6] Về xử lý vật chứng: đối với số ma tuý thu giữ trong vụ án được hoàn lại mẫu vật sau giám định cần tịch thu tiêu huỷ. Công an thu giữ của bị cáo T1 số tiền 500.000 đồng trong đó có 350.000 đồng do bị cáo phạm tội mà có và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu POCO bị cáo sử dụng vào việc phạm tội nên cần tịch thu nộp ngân sách Nhà nước; số tiền 150.000 đồng còn lại không liên quan đến việc phạm tội nên trả lại cho bị cáo. Công an thu giữ của anh Triệu Anh T2 số tiền 150.000 đồng cần trả lại cho anh T2. Công an còn thu giữ của bị cáo T1 01 chiếc sim điện thoại không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu huỷ. Chiếc xe ô tô nhãn hiệu Vinfast VF8, biển kiểm soát 14E – 009.88 của Công ty cổ phần D, Cơ quan cảnh sát điều tra đã trả lại cho Công ty nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[7] Đối với người bán ma tuý cho bị cáo, do không biết lý lịch địa chỉ nên không có cơ sở điều tra làm rõ.
[8] Về án phí: bị cáo Dương Thanh T1 phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
[9] Về quyền kháng cáo: bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự;
Tuyên bố: bị cáo Dương Thanh T1 phạm tội "Mua bán trái phép chất ma tuý".
Xử phạt: Dương Thanh T1 (.........................) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 30/4/2024;
Căn cứ vào điểm a, b, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, b, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Tịch thu nộp ngân sách nhà nước số tiền 350.000 đồng (ba trăm năm mươi nghìn đồng) và 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu POCO, màu xanh, điện thoại đã cũ, đã qua sử dụng thu giữ của bị cáo Dương Thanh T1.
Trả lại cho bị cáo Dương Thanh T1 số tiền 150.000 đồng; trả lại cho anh Triệu Anh T2 số tiền 150.000 đồng.
Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì còn nguyên dấu niêm phong số ......./KL-KTHS của phòng K Công an tỉnh Q và 01 (một) chiếc sim (không xác định số sim) trên sim có 4 dãy số: ................................. thu giữ của bị cáo Dương Thanh T1.
(Tiền vật chứng thu giữ theo Biên bản giao nhận tài sản số ...../2024/BBBG- CQCSĐTCATPCP ngày ...../......../2024 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố C và Kho bạc nhà nước thành phố C. Tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số: ......./BB -THA ngày ..../....../2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cẩm Phả).
Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
11
Buộc bị cáo Dương Thanh T1 phải nộp: 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Căn cứ vào các Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Án xử sơ thẩm công khai có mặt bị cáo, vắng mặt người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án. Báo cho bị cáo biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, người vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyễn Thị Quýnh |
|
CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN |
THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN |
|
Đinh Quốc Vương – Lê Thị Thanh Thủy |
Nguyễn Thị Quýnh |
Bản án số 107/2024/HS-ST ngày 17/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẨM PHẢ, TỈNH QUẢNG NINH về cố ý gây thương tích
- Số bản án: 107/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẨM PHẢ, TỈNH QUẢNG NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Căn cứ vào điểm c khoản 3 (thuộc trường hợp quy định tại điểm a khoản 1) Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự; Tuyên bố: Bị cáo Đàm Duy H phạm tội "Cố ý gây thương tích". Xử phạt: Đàm Duy H 05 (năm) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt (ngày 01/5/2024).
