Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 107/2024/HS-ST

Ngày: 28/8/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Hiếu

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Ngọc Cang

Bà Đỗ Thị Lài

- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thanh Trúc - Thư ký Tòa án

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu tham gia

phiên tòa: Bà Hoàng Thị Hương - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 94/2024/TLST-HS ngày 24 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 110/2024/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 7 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 102/2024/HPT-QĐ ngày 24/7/2024; Thông báo mở lại phiên tòa số 59/2024/TB-TA ngày 05/8/2024, đối với bị cáo:

Nguyễn Thị L, sinh năm 1994 tại tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; Nơi đăng ký thường trú: Khu phố H, thị trấn L, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; Nơi ở hiện tại: Khu phố H, thị trấn L, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 08/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1958 và bà Lê Thị Đ, sinh năm 1965; Là con thứ sáu trong gia đình có 7 anh chị em; Sống như vợ chồng ở tỉnh Hà Nam, Trung Quốc.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo tại ngoại (có mặt tại phiên tòa).

Những người tham gia tố tụng khác:

* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

- Bà Trần Thị T1, sinh năm 1990; Nơi cư trú: Khu phố H, thị trấn L, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (có mặt).

- Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1958; Nơi cư trú: Khu phố H, thị trấn L, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (có mặt).

- Bà Nguyễn Thị T2, sinh năm 1958; Nơi cư trú: Khu phố H, thị trấn L, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (vắng mặt).

- Bà Trần Thị G, sinh năm 1992; Nơi cư trú: Khu phố H, thị trấn L, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1. Theo hồ sơ vụ án và theo diễn biến tại phiên tòa thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 08/8/2023, Cục Q Bộ C có văn bản số 20430/A08-P5 về việc T6 tại N, Trung Quốc có công hàm số 651/2023/NN ngày 07/8/2023 đề nghị xác minh nhân thân của hai công dân Việt Nam không được phía Trung Quốc cho cư trú gồm: Trần Thị T1 và Trần Thị G (HKTT: KP. H, TT. L, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu). Kết quả xác minh ban đầu, xác định Nguyễn Thị L (HKTT: KP. H, TT. L, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu) đã liên hệ với một số đối tượng tổ chức đưa Trần Thị T1 và Trần Thị G sang Trung Quốc bằng đường tiểu ngạch với mục đích lấy chồng. Đến ngày 15/7/2023, T1 và G đi về Việt Nam bằng đường tiểu ngạch, do không có giấy tờ hợp lệ nên bị Công an Trung Quốc bắt giam. Ngày 25/8/2023 và ngày 22/9/2023 T1 và G được Công an T7 bàn giao cho Đồn Biên phòng cửa khẩu tỉnh C.

Ngày 13/12/2023, Phòng Quản lý xuất nhập cảnh Công an tỉnh B làm việc và xử phạt hành chính số tiền 4.000.000 đồng đối với Trần Thị T1 và Trần Thị G về hành vi qua lại biên giới mà không làm thủ tục xuất cảnh theo quy định của pháp luật quy định tại điểm a khoản 3 Điều 18 Nghị định 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ. Ngày 29/01/2024, Phòng Q Công an tỉnh chuyển hồ sơ, tài liệu liên quan đến Cơ quan An ninh Điều tra để điều tra làm rõ sai phạm của những người liên quan.

Quá trình điều tra, Nguyễn Thị L khai nhận: Thông qua mối quan hệ xã hội, khoảng tháng 12/2014, Nguyễn Thị L quen biết người phụ nữ tên T3 (quê miền T, lấy chồng và sinh sống ở Trung Quốc). L đặt vấn đề nhờ T3 môi giới lấy chồng Trung Quốc để có tiền trả nợ và lo cho gia đình. T3 đồng ý giúp nhưng không hứa hẹn trả L bao nhiêu tiền nếu được gả chồng Trung Quốc thành công. L tự đón xe ô tô khách từ thị trấn L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu đến TP . gặp mẹ của T3 (không rõ nhân thân lai lịch) đón, đưa L đi bằng máy bay từ sân bay T, TP . đến sân bay N, TP .. Sau đó, tiếp tục đi xe ô tô khách đến khu vực biên giới thuộc thành phố M, tỉnh Quảng Ninh được người phụ nữ (thường gọi tên T4, không rõ nhân thân lai lịch) dẫn đi bằng đường tiểu ngạch qua Trung Quốc (không làm thủ tục

xuất cảnh qua cửa khẩu). Khi qua Trung Quốc có xe ô tô đón L đưa về nhà chồng T3 ở tỉnh Hà Nam, Trung Quốc. Một tuần sau, L được gả chồng cho người đàn ông Trung Quốc và nhận được 60.000.000 đồng. L nhờ T3 chuyển số tiền trên thông qua dịch vụ đổi tiền ở khu vực biên giới cho ông Nguyễn Văn T (bố L) để trả nợ. Quá trình chung sống với người chồng Trung Quốc, L có 01 con chung, hiện sống với gia đình chồng tại Trung Quốc.

Đến tháng 10 năm 2017, Trần Thị T1 liên hệ hỏi L về việc lấy chồng Trung Quốc nên L nảy sinh ý định giới thiệu cho T3 để được hưởng tiền hoa hồng. L chủ động liên hệ; gửi ảnh chụp dáng người, chứng minh nhân dân của T1 cho T3 xem. Tuyền thỏa thuận nếu T1 được gả chồng thành công thì T3 sẽ trả cho T1 60 triệu đồng; L 60 triệu đồng tiền công giới thiệu. L thông báo lại cho T1 về mức giá thì T1 đồng ý. L nhờ ông T (bố L) đưa T1 đến tỉnh Lạng Sơn để sang Trung Quốc (L nói dối ông T là T1 sang chơi cho biết Trung Quốc) và gửi 3000 nhân dân tệ (khoảng 10 triệu VNĐ) để ông T trả tiền xe và ăn uống, đi lại. Người của T3 đưa T1 sang nhà chồng L tại tỉnh Hà Nam, Trung Quốc. Sau khi T1 được gả chồng người Trung Quốc tên Trương Băng P, T3 đã trả cho T1 60 triệu đồng (đưa qua L), trả cho L 60 triệu đồng tiền công giới thiệu. Theo đề nghị của T1, L đã nhờ dịch vụ chuyển số tiền 60 triệu đồng về cho ông T đưa cho bà Nguyễn Thị T2 (mẹ của T1) để trả nợ thay cho T1. Đối với Trần Thị G sang Trung Quốc là do T1 chủ động nhờ ông T đưa đi cùng và việc G lấy chồng tên Lưu Văn L1 là do nhà chồng T1 mai mối, L chỉ giúp G chuyển tiền về cho ông T để đưa cho bà T2 (mẹ G). L không được hưởng lợi ích gì về việc trên.

Trần Thị T1 khai nhận: Do nợ nần nên T1 liên hệ với Nguyễn Thị L (là hàng xóm của T1, lấy chồng và sinh sống tại Trung Quốc) nhờ L giúp đưa qua Trung Quốc lấy chồng để có tiền trả nợ thì L đồng ý giúp. Tháng 10/2017, ông Nguyễn Văn T (bố L) đưa T1 đến tỉnh Lạng Sơn, sau đó có người đón đi đường tiểu ngạch qua Trung Quốc (không làm thủ tục xuất cảnh qua cửa khẩu). Khi qua bên Trung Quốc, có xe ô tô đón rồi đưa T1 đến nhà chồng L ở tỉnh Hà Nam, Trung Quốc. Khoảng 3 - 4 ngày sau, nhà chồng T1 đến xem mắt và trả 83.000 nhân dân tệ (khoảng 270 triệu đồng) cho nhà chồng L để lấy Thêm. Sau đó, L đưa cho T1 65 triệu đồng và T1 nhờ L chuyển số tiền trên về cho bà Nguyễn Thị T2 (mẹ T1) để trả nợ cho gia đình. Khoảng 6 tháng sau, biết ông Nguyễn Văn T chuẩn bị sang Trung Quốc để thăm L và Nguyễn Thị L2 (em gái L, đang sống tại Trung Quốc) nên T1 nhờ ông T dẫn G cùng đi. Ông T đồng ý nên T1 gửi 10 triệu đồng về cho G để chi trả tiền xe, ăn uống đi lại. Khi G sang đến Trung Quốc, T1 đón G đưa về nhà T1 chơi được một thời gian thì lấy người họ hàng nhà chồng T1 và G được gia đình chồng cho 70.000 nhân dân tệ (khoảng 230 triệu đồng). Thêm và G đều có một đứa con với người chồng Trung Quốc và mong nuốn được sinh sống và kết hôn hợp pháp nên đã liên hệ một số người Trung Quốc đưa về Việt Nam (chi phí

4000 nhân dân tệ/người) bằng đường tiểu ngạch. Ngày 15/7/2023, T1 và G đi về Việt Nam bằng đường tiểu ngạch thì bị Công an Trung Quốc bắt giam. Thêm bị giam đến ngày 25/8/2023 được trả về Việt Nam.

Trần Thị G khai nhận: Khoảng giữa năm 2018, T1 nói chuyện qua ứng dụng Zalo với G về cuộc sống ở Trung Quốc cũng tốt. Do đang buồn chuyện tình cảm, G nói T1 tìm cách đưa G sang chơi. Sau đó, T1 gọi về nói có ông T (tên thường gọi là T5, là hàng xóm gần nhà) chuẩn bị sang Trung Quốc chơi với con gái là L và L2 nên đã nhờ ông T cho G đi cùng. Thêm nhờ L chuyển 10.000.000 đồng cho ông T làm chi phí đi lại. Gấm đã liên hệ ông T và bắt xe ra thị trấn L, huyện T, tỉnh Bình Thuận rồi tiếp tục cùng ông T bắt xe từ Bình Thuận đi đến Lạng Sơn thì nghỉ lại. Sáng hôm sau, có người đến nhà nghỉ chở G và ông T đến biên giới rồi xuống xe đi bộ bằng đường mòn qua Trung Quốc thì có xe mô tô đón chở ra đường lớn bắt xe khách về bến xe C, tỉnh Hà Nam, Trung Quốc rồi có người đón đưa về nhà chồng L. Sau khi sang chơi ở nhà chồng Thêm khoảng 02 tháng, G được người họ hàng nhà chồng T1, tên là Lưu Văn L1 hỏi cưới và hứa cho Gấm 70.000 nhân dân tệ (khoảng 230 triệu đồng). Gia đình chồng G đã đưa toàn bộ số tiền trên cho nhà chồng T1 và chia làm 6 - 7 lần. Mỗi lần nhận được tiền G đều nhờ L đổi qua tiền Việt Nam và gửi về cho bà Nguyễn Thị T2 (mẹ G). Đến tháng 7/2023, G sinh 01 đứa con, T1 cũng sinh 01 đứa con nên gia đình nhà chồng cho tiền để G và T1 về Việt Nam làm hồ sơ đi bằng đường chính ngạch qua kết hôn hợp pháp. Do không có hộ chiếu nên khi đến tỉnh Quảng Tây, Trung Quốc thì bị Công an Trung Quốc bắt giữ cùng 02 người phụ nữ Việt Nam khác. Gấm bị Công an T7 giam giữ đến ngày 22/9/2023 thì được trả về Việt Nam qua đồn Biên phòng cửa khẩu tỉnh C.

* Kết quả xác minh của Phòng quản lý xuất nhập cảnh Công an tỉnh B-VT tại văn bản số 147/PA08-Đ1 ngày 22/02/2024 thể hiện:

- Trần Thị T1, Trần Thị G không có thông tin xuất nhập cảnh;

- Nguyễn Thị L thực hiện xuất nhập cảnh 03 lần, lần cuối sử dụng hộ chiếu C7827197 xuất cảnh ngày 11/9/2020 qua cửa khẩu M và hiện chưa có thông tin nhập cảnh;

- Ông Nguyễn Văn T thực hiện xuất nhập cảnh 04 lần, lần cuối sử dụng hộ chiếu B3727661 nhập cảnh vào Việt Nam ngày 26/6/2016 qua cửa khẩu Sân bay quốc tế T8.

* Các vấn đề có liên quan trong vụ án:

Đối với đối tượng tên T3: Theo lời khai của L thì T3 là người tổ chức đưa Nguyễn Thị L và Trần Thị T1 đi qua Trung Quốc. Sau khi gả chồng thành công cho T1, T3 đã trả tiền công môi giới cho L với số tiền 60.000.000 đồng. Tuy nhiên, L

không biết về nhân thân lai lịch và địa chỉ cụ thể của T3 tại Trung Quốc. Do đó, Cơ quan điều tra không có cơ sở để xác minh về đối tượng này.

Đối với người phụ nữ tên T4 (sống tại khu vực biên giới M, Quảng Ninh) do L liên hệ để đưa Trần Thị T1, Trần Thị G và Nguyễn Văn T bằng đường tiểu ngạch (không làm thủ tục xuất cảnh qua cửa khẩu). L khai, trước đây L có số điện thoại của T4 nhưng từ khi về Việt Nam đến nay, L không còn lưu số điện thoại của T4 và cũng không biết về nhân thân lai lịch của T4. Cơ quan điều tra thấy không có cơ sở xác minh về đối tượng này.

Đối với ông Nguyễn Văn T, là người đưa Trần Thị T1 đi đến khu vực biên giới tỉnh Lạng Sơn và đưa Trần Thị G đi cùng sang Trung Quốc. L và T1 khai việc nhờ ông T là do T1 không biết đường đi; ông T không biết L được hưởng lợi ích vật chất từ việc đưa T1 sang Trung Quốc gả chồng. Do đó, Cơ quan điều tra thấy không đủ cơ sở để xử lý hình sự đối với Nguyễn Văn T.

Đối với Trần Thị T1 nhờ ông Nguyễn Văn T và Nguyễn Thị L đưa Trần Thị G đi qua Trung Quốc rồi sau này lấy chồng tên Lưu Văn L1 (là chú họ của chồng Thêm). Quá trình điều tra chưa có tài liệu, chứng cứ về việc T1 đưa G sang lấy chồng để hưởng lợi ích vật chất. Do đó, Cơ quan điều tra xét thấy không đủ cơ sở để xử lý hình sự đối với Trần Thị T1.

Đối với hành vi của Trần Thị T1 và Trần Thị G về việc qua lại biên giới mà không làm thủ tục xuất nhập cảnh theo quy định của pháp luật. Ngày 13/12/2023, T1 và G bị Phòng Q - Công an tỉnh B-VT mời làm việc và bị xử phạt hành chính số tiền 4.000.000 đồng.

Đối với Nguyễn Thị L2 (em gái của L) có lấy chồng người Trung Quốc. Qua xác minh, L2 có làm thủ tục xuất, nhập cảnh hợp pháp qua các cửa khẩu (05 lần); có làm thủ tục để đăng ký kết hôn với người nước ngoài hợp pháp (được Ủy ban nhân dân thị trấn P, huyện Đ, tỉnh BR-VT cấp giấy xác nhận tình trạng hôn nhân số 27/UBND-XNTTHN ngày 10/01/2019 cho L2, mục đích đăng ký kết hôn với người tên SUN, XIANG CHAO, Nơi thường trú: 238 thôn Đ, thị trấn K, huyện N, tỉnh Hà Nam, Trung Quốc). Do đó, Cơ quan điều tra xác định không liên quan đến hành vi phạm tội của Nguyễn Thị L nên không xem xét xử lý.

2. Tại Cáo trạng số 91/CT-VKSBRVT-P1 ngày 14 tháng 6 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu truy tố bị cáo Nguyễn Thị L về tội “Tổ chức, môi giới cho người khác xuất cảnh trái phép” theo quy định tại khoản 1 Điều 348 Bộ luật Hình sự.

3. Tại phiên tòa:

3.1. Trong bản luận tội vị đại diện Viện kiểm sát đã nêu các tình tiết vụ án, tính chất nguy hiểm trong hành vi phạm tội của bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị L phạm tội “Tổ chức, môi giới cho người khác xuất cảnh trái phép”;

Áp dụng khoản 1 Điều 348; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Nguyễn Thị L từ 02 đến 03 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt chấp hành án.

Số tiền 60.000.000đ thu lợi bất chính đề nghị xử lý theo quy định của pháp luật.

3.2. Những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Trần Thị T1, Nguyễn Văn T, Trần Thị G đều xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

4. Bị cáo không tranh luận với đại diện Viện kiểm sát, nói lời sau cùng thể hiện thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu và chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác;

[1] Về tố tụng:

Hành vi, các quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an tỉnh B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã tuân thủ nghiêm chỉnh theo thủ tục tố tụng trong việc thu thập chứng cứ theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố người tham gia tố tụng không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tội danh và điều luật áp dụng:

Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai của bị cáo hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra và các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án và tại phiên tòa. Vì vậy, Hội đồng xét xử đã có căn cứ xác định nội dung vụ án như sau:

Khoảng tháng 10/2017, Nguyễn Thị L đã liên hệ, thỏa thuận người phụ nữ tên T3 (lấy chồng và sinh sống tại Trung Quốc; không rõ nhân thân lai lịch) tổ chức đưa Trần Thị T1 đi bằng đường tiểu ngạch từ khu vực biên giới thuộc địa phận

tỉnh Lạng Sơn, Việt Nam sang tỉnh Hà Nam, Trung Quốc, mục đích để lấy chồng người Trung Quốc. Sau khi T1 được gả chồng thành công, T3 đã trả cho T1 60.000.000 đồng và trả cho L 60.000.000 đồng tiền giới thiệu.

Hành vi nêu trên của Nguyễn Thị L đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức, môi giới cho người khác xuất cảnh trái phép” quy định tại khoản 1 Điều 348 Bộ luật Hình sự, đúng như truy tố của Viện kiểm sát.

[3] Về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội:

Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, đã trực tiếp xâm phạm đến trật tự quản lý hành chính trong lĩnh vực xuất cảnh, nhập cảnh gây ảnh hưởng xấu đến việc giữ gìn an ninh chính trị tại khu vực biên giới, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Việc các bị cáo tự ý môi giới, đưa công dân xuất cảnh sang Trung Quốc, không có sự kiểm soát của các cơ quan chức năng dẫn đến tiềm ẩn nguy cơ phát sinh các loại tội phạm cũng như làm phát sinh nhiều vấn đề an ninh trật tự phức tạp. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện tội phạm với lỗi cố ý trực tiếp, nhằm mục đích để được hưởng lợi về kinh tế, biết rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện. Vì vậy, cần phải có hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện, để đảm bảo tác dụng cải tạo, giáo dục và đấu tranh phòng ngừa chung, đồng thời nêu cao tính nhân đạo, khoan hồng của pháp luật.

[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

[4.1] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không.

[4.2] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo có bố là ông T được Nhà nước tặng thưởng Huy chương kháng chiến, hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[5] Bị cáo thu lợi bất chính 60.000.000đ nên buộc bị cáo nộp lại số tiền trên để sung quỹ Nhà nước.

[6] Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo luật định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về trách nhiệm hình sự:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị L phạm tội “Tổ chức, môi giới cho người khác xuất cảnh trái phép”;

Áp dụng khoản 1 Điều 348; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Nguyễn Thị L 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt chấp hành án.

2. Buộc bị cáo nộp lại số tiền thu lợi bất chính 60.000.000đ (sáu mươi triệu đồng) sung quỹ Nhà nước.

3. Về án phí hình sự sơ thẩm:

Bị cáo Nguyễn Thị L nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo:

Trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo yêu cầu Tòa án nhân dân câp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử lại vụ án theo trình tự phúc thẩm. Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo là 15 (Mười lăm) ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật./.

Nơi nhận:

  • - Viện kiểm sát nhân dân cấp cao
  • tại TP. Hồ Chí Minh;
  • - Viên kiểm sát nhân dân tỉnh BR-VT;
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh BR-VT;
  • - Công an tỉnh BR-VT;
  • - Sở Tư pháp tỉnh BR-VT;
  • - Cục Thi hành án dân sự tỉnh BR-VT;
  • - THAHS tỉnh BR-VT;
  • - Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên
  • quan;
  • - Lưu (3): Văn phòng, Tòa Hình sự, hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN–CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thành Hiếu

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 107/2024/HS-ST ngày 28/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU về tổ chức, môi giới cho người khác xuất cảnh trái phép

  • Số bản án: 107/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tổ chức, môi giới cho người khác xuất cảnh trái phép
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị L Tổ chức, môi giới cho người khác xuất cảnh trái phép
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger