Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ PHỔ YÊN

TỈNH THÁI NGUYÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 107/2024/HS-ST

Ngày 16 – 7 – 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHỔ YÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hải Chiều

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Hồng Hải
  2. Bà Nguyễn Thị Thanh

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Anh Tuấn - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên tham gia phiên toà: Bà Trần Hồng Hạnh - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 7 năm 2024, tại điểm cầu trung tâm: Tòa án nhân dân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên và điểm cầu thành phần: Công an thành phố P, tỉnh Thái Nguyên xét xử sơ thẩm trực tuyến vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 70/2024/TLST-HS ngày 04 tháng 5 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 77/2024/QĐXXST- HS ngày 09 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:

Trịnh Văn T, tên gọi khác: Không; Sinh ngày 20/10/1992, tại: Thái Nguyên; Nơi cư trú: TDP N, phường C, thành phố S, tỉnh Thái Nguyên; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Trịnh Văn T1, sinh năm 1959; con bà: Hoàng Thị L, sinh năm 1960; Có vợ là: Đinh Thị N, sinh năm 1997; có 01 con, sinh năm 2017; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 30/01/2024 đến ngày 08/02/2024 chuyển tạm giam cho đến nay tại Trại tạm giam Công an tỉnh T. Có mặt.

- Người chứng kiến:

  1. Anh Nguyễn Viết T2, sinh năm 1982; Nơi cư trú: Tổ dân phố L, phường H, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên. Vắng mặt.
  2. Anh Hà Văn M, sinh năm 1979; Nơi cư trú: Tổ dân phố G, phường H, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 07 giờ 15 phút ngày 30/01/2024, tổ công tác của Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về kinh tế - ma tuý Công an thành phố P phối hợp với Công an phường H, thành phố P làm nhiệm vụ tuần tra kiểm soát bảo đảm an ninh trật tự tại khu vực tổ dân phố G, phường H, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên thì phát hiện một đối tượng nam giới có biểu hiện nghi vấn tàng trữ trái phép chất ma tuý. Tổ công tác đã yêu cầu kiểm tra thì đối tượng khai nhận là Trịnh Văn T và tự nguyện giao nộp 02 (hai) túi nilon màu trắng, bên trong mỗi túi đều có chứa chất rắn dạng tinh thể màu trắng mà T đang cầm trong lòng bàn tay phải cho tổ công tác. Theo T khai, số chất rắn dạng tinh thể màu trắng nêu trên là ma tuý loại “đá”, T mua về để sử dụng cho bản thân. Sau đó, tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với T, niêm phong số vật chúng thu giữ rồi đưa về Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố P để giải quyết theo quy định.

Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố P phối hợp với Phòng K Công an tỉnh T tiến hành mở niêm phong, cân khối lượng số chất rắn dạng tinh thể màu trắng thu giữ của Trịnh Văn T được 0,300 gam, sau đó cho vào phong bì niêm phong ký hiệu K gửi giám định.

Tại bản Kết luận giám định số 333/KL-KTHS ngày 07/02/2024 của Phòng K Công an tỉnh T kết luận: Chất rắn dạng tinh thể màu trắng trong phong bì ký hiệu K gửi giám định là chất ma tuý, loại Methamphetamine, có khối lượng 0,300 gam.

Quá trình điều tra, Trịnh Văn T khai nhận: Vào khoảng 07 giờ ngày 30/01/2024, T đi nhờ xe của người đi đường đến khu vực cống chui thuộc tổ dân phố G, phường H, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên để mua ma túy về sử dụng cho bản thân. Khi đến nơi, T xuống xe và đi bộ vào khu vực cống chui thì gặp một người nam giới (không biết tên tuổi, địa chỉ) và bảo với người nam giới đó là “Bán cho hai trăm đá” (ý của T là bán cho T hai trăm nghìn đồng tiền ma túy đá). Sau đó, T đưa tiền cho người nam giới trên và người nam giới đó đưa lại cho T 02 (hai) túi nilon màu trắng, bên trong có chứa chất rắn dạng tinh thể màu trắng là ma túy đá. Sau khi mua ma túy xong, T cầm ma tuý trong lòng bàn tay phải chuẩn bị ra về thì bị lực lượng Công an thành phố P phát hiện bắt quả tang như nêu trên, còn người nam giới vừa bán ma túy cho T đã bỏ chạy thoát.

Vật chứng thu giữ: 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu K, bên trong có 0,178 gam ma tuý và vỏ bao mẫu hoàn lại sau giám định; 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu L, bên trong chứa mẫu lưu kho. Số vật chứng này được chuyển đến kho vật chứng của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Phổ Yên chờ xử lý.

Do có hành vi nêu trên, nên tại bản Cáo trạng số: 79/CT-VKSPY ngày 03/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố bị cáo Trịnh Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, sau khi kết thúc phần thẩm vấn công khai Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên thực hành quyền công tố tại phiên tòa trình bày bản luận tội giữ nguyên quan điểm truy tố như bản Cáo trạng số: 79/CT-VKSPY ngày 03/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trịnh Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
  2. Về hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.

Đề nghị xử phạt bị cáo Trịnh Văn T mức án từ 18 đến 24 tháng tù. Thời hạn phạt tù tính từ ngày 30/01/2024.

  1. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung với bị cáo
  2. Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

- Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu K, bên trong có 0,178 gam ma tuý và vỏ bao mẫu hoàn lại sau giám định; 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu L, bên trong chứa mẫu lưu kho

Ngoài ra, còn đề nghị bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình, thừa nhận việc khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử đối với bị cáo về tội danh và điều luật đã viện dẫn là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Trong phần tranh luận, bị cáo không tranh luận gì với quan điểm đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát về tội danh, mức hình phạt đề nghị áp dụng.

Nói lời sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử xét xem cho được hưởng mức án thấp nhất để sớm hòa nhập cộng đồng, thành người có ích cho xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên, Kiểm sát viên trong điều tra, truy tố: Trong quá trình điều tra, truy tố Cơ quan điều tra Công an thành phố P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo Trịnh Văn T tại phiên toà hôm nay là hoàn toàn khách quan, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập hợp lệ trong hồ sơ vụ án như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định, biên bản thu giữ vật chứng ... và lời khai của những người tham gia tố tụng khác, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Do bản thân là người nghiện ma túy nên vào Hồi 07 giờ 15 phút ngày 30/01/2024, tại khu vực tổ dân phố G, phường H, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên; Trịnh Văn T đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,300 gam ma túy loại Methamphetamine mục để sử dụng cho bản thân thì bị tổ công tác Công an thành phố P bắt quả quả tang, thu giữ vật chứng

Hành vi, ý thức của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Do đó, bản Cáo trạng số: 79/CT-VKSPY ngày 03/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên đã truy tố bị cáo với tội danh và điều luật đã viện dẫn là có căn cứ.

Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 quy định:

“Điều 249. Tội tàng trữ trái phép chất ma túy

1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

c) Methamphetamine,... có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam”.

[3]. Xét tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nguyên nhân, động cơ dẫn đến việc phạm tội, Hội đồng xét xử thấy:

Hành vi phạm tội của bị cáo thuộc loại tội nghiêm trọng, xâm phạm đến chính sách độc quyền của Nhà nước về quản lý các chất ma túy, gây mất trật tự trị an tại địa phương và là mầm mống phát sinh các loại tội phạm khác, nên cần phải xử lý nghiêm bằng pháp luật hình sự nhằm mục đích răn đe, giáo dục, phòng ngừa chung.

Nguyên nhân, động cơ dẫn đến việc phạm tội là do bị cáo không chịu lao động, tu dưỡng, rèn luyện nên đã mắc nghiện ma túy, để phục vụ cho nhu cầu của bản thân, bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội như trên.

[4]. Xét các yếu tố về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo thì thấy:

- Về nhân thân: Bị cáo không có tiền án, tiền sự là người có nhân thân tốt

- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, do đó, Hội đồng xét xử có căn cứ cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đó là: “Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

[5]. Xét tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, các yếu tố về nhân thân khi quyết định hình phạt đối với bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng:

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội thuộc loại tội nghiêm trọng, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, chính trị tại địa phương và làm phát sinh thêm các loại tội phạm khác nên cần áp dụng hình phạt tù, cách ly bị cáo ra hỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo mới đảm bảo được tính nghiêm minh của pháp luật, đồng thời răn đe, giáo dục và phòng ngừa.

Mức án mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng đối với bị cáo là phù hợp được chấp nhận.

[6]. Về hình phạt bổ sung: Tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 còn quy định:

“...5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản...”

Tuy nhiên, qua xem xét các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, xét thấy bị cáo là người nghiện ma túy, không có việc làm, không có thu nhập ổn định, phạm tội không vì mục đích vụ lợi nên miễn hình phạt bổ sung là hình phạt tiền cho bị cáo.

[7]. Về biện pháp tư pháp: 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu K, bên trong có 0,178 gam ma tuý và vỏ bao mẫu hoàn lại sau giám định; 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu L, bên trong chứa mẫu lưu kho – Xác định là vật cấm lưu thông, không còn giá trị sử dụng nên cần xử lý tịch thu tiêu hủy.

[8]. Về chi phí tố tụng: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm

[9]. Quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy định

[10]. Về các vấn đề khác của vụ án: Về nguồn gốc số ma túy thu giữ của Trịnh Văn T, T khai mua của một người nam giới (không rõ tên tuổi, địa chỉ) tại khu vực cống chui thuộc TDP G, phường H, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên. T không xác định được người bán ma túy cho mình là ai nên Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra, xác minh làm rõ xử lý sau là phù hợp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38, Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017;

Căn cứ Điều 106, Điều 136, Điều 329, Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;

Căn cứ Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trịnh Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
  2. Về hình phạt:
    1. Hình phạt chính: Xử phạt bị cáo Trịnh Văn T 20 (Hai mươi) tháng tù. Thời hạn phạt tù tính từ ngày 30/01/2024.
    2. - Tiếp tục tạm giam bị cáo Trịnh Văn T 45 (Bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm để đảm bảo công tác thi hành án.

    3. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo
  3. Về biện pháp tư pháp:
  4. - Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu K, bên trong có 0,178 gam ma tuý và vỏ bao mẫu hoàn lại sau giám định; 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu L, bên trong chứa mẫu lưu kho

    Tình trạng vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an thành phố P với Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phổ Yên ngày 22/5/2024.

  5. Về chi phí tố tụng: Bị cáo Trịnh Văn T phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định
  6. Quyền kháng cáo: Bị cáo Trịnh Văn T có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo Bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày từ ngày tuyên án.

* Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Thái Nguyên;
  • - VKSND tỉnh Thái Nguyên;
  • - VKSND TP. Phổ Yên;
  • - Cơ quan CSĐT – CATP Phổ Yên;
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh Thái Nguyên;
  • - Công an TP. Phổ Yên;
  • - Chi cục THADS TP. Phổ Yên;
  • - Bị cáo; Bị hại;
  • - Lưu hồ sơ vụ án./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Hải Chiều

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 107/2024/HS-ST ngày 16/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHỔ YÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN về tàng trữ trái phép chất ma túy (hình sự)

  • Số bản án: 107/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy (Hình sự)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHỔ YÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trịnh Xuân T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger