Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

QUẬN NAM TỪ LIÊM

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Bản án số: 107/2024/HS -ST

Ngày: 22/4/2024

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NAM TỪ LIÊM - THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Nhâm;

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Quốc Sơn

Ông Nguyễn Việt Chiến;

-Thư ký phiên toà: Ông Trần Hưng - Thư ký Toà án nhân dân quận Nam Từ Liêm.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm tham gia phiên toà: Bà Lưu Thị Dáng Hương - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân quận Nam Từ Liêm xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 55/2024/TLST - HS ngày 26/3/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 74/2024/QĐXXST – HS ngày 08/04/2024; đối với bị cáo:

- Họ tên: NGUYỄN CẢNH D, Sinh năm: 1999; HKTT: Xóm P, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 9/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông: Nguyễn Cảnh N; Con bà: Lê Thị T; Vợ con chưa có.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt trong trường hợp khẩn cấp ngày 04/11/2023, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Số 1 - Công an thành phố H. (Có mặt).

- Họ tên: LÊ BÁ D1, Sinh năm: 2005; HKTT: Thôn D, H, T, Thanh Hóa; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông: Lê Bá T1; Con bà: Nguyễn Thị H; Vợ con chưa có.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt trong trường hợp khẩn cấp ngày 04/11/2023, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Số 1 - Công an thành phố H. (Có mặt).

Bị hại:

Nguyễn Văn V, sinh năm 1997; Địa chỉ: T, Y, Hưng Yên (có đơn xin vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Cảnh D và Lê Bá D1 là nhân viên của Trung tâm C thuộc Công ty TNHH T3 (địa chỉ tại số C ngách A đường Đ, phường M, N, Hà Nội) do chị Nguyễn Thị Thu H1 (Sinh năm: 1982; HKTT: TDP P, T, N, Hà Nội – là Giám đốc, đại diện theo pháp luật). Trong đó, Lê Bá D1 là nhân viên tuyển dụng còn Nguyễn Cảnh D là nhân viên tư vấn lao động. Anh Nguyễn Văn V (sinh năm: 1997, HKTT: T, Y, Hưng Yên) do có nhu cầu tìm việc làm nên đã tìm việc trên mạng Internet thì được tài khoản facebook “Hoàng Bảo Ngọc” của chị Bùi Thị T2 (SN 2002; HKTT: thôn A, T, T, Thanh Hóa – là nhân viên tuyển dụng tìm kiếm lao động của công ty) nhắn tin giới thiệu đến Trung tâm C để làm công việc bốc xếp bánh kẹo. Sau khi trao đổi, anh V đồng ý đến trung tâm để làm việc. Khoảng 19 giờ 20 phút ngày 02/11/2023, anh V đến khu vực đường C (cạnh bệnh viện H2) theo hẹn và gọi điện thoại cho chị T2 (theo số điện thoại 0353.405.xxx) thì được báo có người sẽ đến đón. Khoảng 20 phút sau, anh V được Bá D1 đi xe máy đến đón anh V đến Trung tâm C tại địa chỉ số B ngách A Đ, phường M, N, Hà Nội. Khi đến nơi, Bá D1 đưa anh V vào phòng trong tầng 1 để đợi Cảnh D đến tư vấn việc làm đồng thời Bá D1 yêu cầu anh V trả tiền xe ôm là 70.000 đồng nhưng anh V không đồng ý vì khi liên hệ với trung tâm H, không thấy ai nói gì đến việc phải trả tiền xe ôm nhưng Bá D1 vẫn tiếp tục yêu cầu anh V phải trả tiền xe ôm và giảm tiền xuống còn 50.000 đồng thì anh V nói để xem có tiền thì sẽ trả. Sau đó, Bá D1 bỏ ra ngoài thì gặp Cảnh D vào phòng để tư vấn công việc cho anh V nên Bá D1 dặn Cảnh D là nếu anh V không đi làm thì báo cho Bá D1 biết để thu tiền xe ôm, Cảnh D đồng ý và hỏi anh V là muốn làm công việc gì, có muốn làm bưng bê ở nhà hàng không thì anh V nói không làm và muốn làm công việc bốc hàng hóa, bánh kẹo nên Cảnh D bảo anh V nghỉ qua đêm để sắp xếp công việc, ngày mai đi làm. Khoảng 30 phút sau, anh V tìm hiểu thấy trung tâm H không uy tín nên quyết định không đi làm nữa và đòi về. Lúc này, Cảnh D thông báo với Bá D1 là anh V không đi làm để Bá D1 gặp anh V đòi tiền xe ôm. Bá Duy sau đó đi đến gặp anh V để đòi 50.000 đồng tiền xe ôm và đưa mã QR cho anh V để chuyển khoản. Do anh V thấy vô lý vì tuyến đường từ C về trung tâm rất gần nhưng lại bị Bá D1 đòi 50.000 đồng nên anh V chỉ đồng ý chuyển cho Bá D1 30.000 đồng và bỏ đi ra ngoài cổng. Khi phát hiện anh V chỉ chuyển 30.000 đồng thì Bá D1 đuổi theo để đòi nốt 20.000 đồng tiền xe ôm nhưng anh V nói với Bá D1 là chỉ còn 20.000 đồng để đi về nhà. Lúc này, Cảnh D đi đến thấy vậy đã dùng tay đấm 01 cái trúng miệng anh V làm anh V bị chảy máu miệng, đồng thời nói “mày có trả nốt tiền xe ôm không”. Thấy anh V có vẻ sợ, không dám nói gì nên Cảnh D nói với Bá D1 “thu đủ tiền xe cho anh, phải trả đủ tiền thì mới cho đi” rồi bỏ đi vào trong trung tâm. Bá D1 thấy Cảnh D nói vậy nên biết là Cảnh D đang đòi tiền xe ôm cho mình nên đã yêu cầu anh V đi vào trong trung tâm để trả nốt tiền, do anh V không đi nên Bá D1 cầm túi xách của anh V để lôi, kéo anh V vào trong trung tâm. Anh V đi được vài bước thì do lo sợ vào trong sẽ bị đánh tiếp nên đã bỏ lại túi xách rồi vùng bỏ chạy. Thấy vậy, Bá D1 mang túi xách của anh V vào trong sân của trung tâm rồi vứt xuống sàn và đá vào túi xách 02 cái. Lúc này, Bá D1 được những người khác trong trung tâm khuyên nên mang trả túi xách cho anh V nên Bá D1 đã mang túi xách ra cổng nhưng do không thấy anh V nên D1 đã vứt túi xách ở đầu ngách 180/11 Đình Thôn rồi đi vào thì anh Lê Tiến Q (SN: 2004, HKTT: Q, H, Nghệ An - là nhân viên công ty) thấy vậy đã đi ra nhặt túi xách của anh V mang vào để trong sân. Sau khi bỏ chạy, khoảng 20 phút sau, anh V đã nhờ người quay lại lấy túi xách về và kiểm tra ví trong túi thấy mất số tiền 1.930.000 đồng nên đã đến Công an phường M trình báo sự việc (BL 58-66).

Tại Cơ quan điều tra, Cảnh D và Bá D1 khai nhận hành vi của mình như đã nêu ở trên. Cảnh D1 khai đã dùng tay không đấm anh V mục đích đe dọa bắt anh V phải trả tiền xe ôm cho Bá D1, Bá D1 khai biết Cảnh D đánh và đòi tiền xe ôm cho mình nên đã cầm túi xách của anh V kéo anh V phải vào trong trung tâm theo lời của Cảnh D, mục đích để lấy số tiền 20.000 đồng, tuy nhiên Cảnh D và Bá D1 đều khai không lấy số tiền 1.930.000 đồng của anh V.

Vật chứng thu giữ: 01 điện thoại di động Iphone XS Max màu vàng, số imei: 357263098895264, đã qua sử dụng (thu giữ của Nguyễn Cảnh D); 01 điện thoại di động Iphone 6S màu vàng, 353314079055529 và 01 điện thoại di động Nokia 1203 màu xanh, đã qua sử dụng (thu giữ của Lê Bá D1); 01 túi vải màu đen, nhãn hiệu Citizen, kích thước 45x30x30cm, dây đeo bằng vải màu đen bên trong có 01 ví da màu đen, kích thước khoảng 9x11cm, 04 chiếc quần dài; 03 quần ngắn; 01 áo dài và 01 áo ngắn tay (do anh Nguyễn Văn V giao nộp).

Quá trình điều tra, do Nguyễn Cảnh D và Lê Bá D1 khai không lấy tiền trong túi của anh V và do các nhân viên của Trung tâm C đều khai không có ai mở, kiểm tra tài sản bên trong túi xách của anh V. Tiến hành rà soát camera, Cơ quan điều tra không phát hiện thu giữ được dữ liệu liên quan đến việc chiếm đoạt số tiền 1.930.000 đồng và ngoài lời khai của anh V, Cơ quan điều tra không có tài liệu, chứng cứ để chứng minh việc Nguyễn Văn V bị mất số tiền 1.930.000 đồng như đã trình báo nên không có căn cứ để kết luận xử lý (BL: 54-54e).

Quá trình điều tra, chị Nguyễn Thị Thu H1 (Đại diện theo pháp luật của Công ty TNHH T3) khai công ty không có quy định về việc thu phí của lao động và kết quả điều tra xác định việc Lê Bá D1 đòi tiền xe ôm của anh V là do tự phát, không có ai hướng dẫn yêu cầu Bá D1 thu tiền xe ôm của anh V nên Cơ quan điều tra không có cơ sở để kết luận xử lý đối với công ty T3 và liên quan.

Ngày 20/11/2023, anh Nguyễn Văn V có đơn xin từ chối giám định thương tích với lý do thương tích nhẹ, không đáng kể, anh V đã được gia đình Nguyễn Cảnh D và Lê Bá D1 bồi thường thỏa đáng nên không có yêu cầu bồi thường về dân sự (BL: 63, 77).

Ngày 19/11/2023, Cơ quan điều tra đã ra quyết định xử lý vật chứng và tiến hành trao trả 01 túi vải màu đen, nhãn hiệu Citizen, kích thước 45x30x30cm, dây đeo bằng vải màu đen, 01 ví da màu đen, kích thước 9x11cm, 04 quần dài, 03 quần ngắn, 01 áo dài tay và 01 áo ngắn tay cho anh Nguyễn Văn V. Anh V1 đã nhận lại tài sản và không có đề nghị gì khác về dân sự ( BL: 46-47).

Lời khai nhận tội của Nguyễn Cảnh D và Lê Bá D1 phù hợp với nhau, phù hợp lời khai người bị hại, phù hợp dữ liệu camera đã thu giữ và tài liệu chứng cứ thu thập trong hồ sơ vụ án.

Tại bản cáo trạng số: 52/CT-VKSNTL ngày 20/3/2024 Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội đã truy tố bị cáo Nguyễn Cảnh D và Lê Bá D1 về tội Cướp tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 168 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà: Bị cáo Nguyễn Cảnh D và Lê Bá D1 khai nhận hành vi của mình, thành khẩn khai nhận tội và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử:

  • Áp dụng khoản 1 Điều 168; Điểm b, h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017:
  • Xử phạt Nguyễn Cảnh D 36 - 42 tháng tù
  • Xử phạt Lê Bá D1 36 - 42 tháng tù
  • Không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo
  • Về bồi thường dân sự: Bị cáo đã bồi thường, bị hại không yêu cầu giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ các tài liệu trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Cơ quan điều tra Công an quận N, Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, những người tham gia tố tụng không có ý kiến khiếu nại về quyết định, hành vi của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các quyết định, hành vi tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

[2] Về nội dung: Tại phiên tòa các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng truy tố. Lời khai của các bị cáo phù hợp với lời khai của người bị hại, phù hợp với vật chứng đã thu giữ và tài liệu điều tra khác mà Cơ quan điều tra đã thu thập. Do đó có đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 20 giờ 15 phút, ngày 02/11/2023 tại khu vực nhà số D ngõ A Đ, phường M, N, Hà Nội, do anh Nguyễn Văn V không đồng ý làm việc tại Trung tâm C của Công ty TNHH T3 và muốn ra về nên đã bị Lê Bá D1 và Nguyễn Cảnh D đòi anh V phải đưa 50.000 đồng tiền xe ôm đưa đến trung tâm (không có thỏa thuận), nhưng do anh V chỉ đồng ý và chuyển khoản trả 30.000 đồng cho Bá D1 sau đó bỏ đi nên Cảnh D đã có hành vi dùng tay không đấm 01 cái vào miệng anh V (làm anh V bị chảy máu miệng) để buộc anh V phải trả đủ 20.000 đồng tiền xe ôm và tiếp tục nói với Bá D1 thu đủ tiền xe ôm mới cho về nên Bá D1 đã yêu cầu anh V quay lại đồng thời cầm, kéo túi xách của anh V để buộc anh V phải quay lại vào trong trung tâm mục đích để chiếm đoạt 20.000 đồng của anh Nguyễn Văn V.

Các bị cáo khai nhận tội. Gia đình các bị cáo đã bồi thường khắc phục hậu quả cho bị hại. Anh Nguyễn Văn V không yêu cầu bồi thường về dân sự và có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

Hành vi nêu trên của bị cáo Nguyễn Cảnh D, Nguyễn Bá D2 đã phạm tội Cướp tài sản. Tội danh và khung hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 168 Bộ luật Hình sự.

Xét tính chất, mức độ, hành vi phạm tội, vai trò và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của các bị cáo thấy: Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự, an toàn xã hội, gây tâm lý bất an trong quần chúng nhân dân, do đó đối với bị cáo cần phải lên một mức án tương xứng với hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra. Tuy nhiên, quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại hoặc thiệt hại hoặc thiệt không lớn bị cáo đã bồi thường khắc phục hậu quả cho bị hại; Bị hại xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm b, h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Xét bị cáo không có việc làm ổn định nên miễn cho các bị cáo hình phạt bổ sung bằng tiền.

[3] Vật chứng vụ án: Cần trả lại cho các bị cáo vật chứng đã thu giữ

Trả lại cho bị cáo Nguyễn Cảnh D: 01 điện thoại di động Iphone XS Max màu vàng, số imei: 357263098895264;

Trả lại cho bị cáo Lê Bá D1: 01 điện thoại di động Iphone 6S màu vàng, 353314079055529 và 01 điện thoại di động Nokia 1203 màu xanh, đã qua sử dụng.

[4] Về bồi thường dân sự: Các bị cáo đã bồi thường dân sự, bị hại không yêu cầu Tòa án giải quyết.

[5] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

[6] Về quyền kháng cáo: Các Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

  1. Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Cảnh D và Lê Bá D1 phạm tội: “Cướp tài sản".
  2. Áp dụng khoản 1 Điều 168; Điểm b, h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự:

    Xử phạt bị cáo Nguyễn Cảnh D 36 (ba mươi sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 04/11/2023.

    Áp dụng khoản 1 Điều 168; Điểm b, h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 38 Bộ luật Hình sự:

    Xử phạt bị cáo Lê Bá D1 33 (ba mươi ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 04/11/2023.

    Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015:

    Trả lại cho bị cáo Nguyễn Cảnh D: 01 điện thoại di động Iphone XS Max màu vàng, số imei: 357263098895264;

    Trả lại cho bị cáo Lê Bá D1: 01 điện thoại di động Iphone 6S màu vàng, 353314079055529 và 01 điện thoại di động Nokia 1203 màu xanh, đã qua sử dụng.

    (Theo biên bản giao nhận vật chứng số 144 ngày 22 tháng 3 năm 2024)

  3. Về án phí: Áp dụng Điều 135 của Bộ luật tố tụng hình sự 2015; Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án buộc các bị cáo Nguyễn Cảnh D, Lê Bá D1 mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
  4. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo Nguyễn Cảnh D, Lê Bá D1 có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - Toà án thành phố Hà Nội;
  • - VKSND quận Nam Từ Liêm;
  • - Công an quận Nam Từ Liêm ;
  • - CCTHADS Q. Nam Từ Liêm;
  • - Bị cáo; Bị hại;
  • - Lưu HS; VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Trần Thị Nhâm

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 107/2024/HS -ST ngày 22/04/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NAM TỪ LIÊM THÀNH PHỐ HÀ NỘI về cướp tài sản

  • Số bản án: 107/2024/HS -ST
  • Quan hệ pháp luật: Cướp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 22/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NAM TỪ LIÊM THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Nguyễn Cảnh D và Lê Bá D1 phạm tội: "Cướp tài sản".
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger