Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CHÂU THÀNH

TỈNH TIỀN GIANG

 

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

 

Bản án số: 107/2024/HNGĐ-ST

Ngày 20/5/2024

V/v tranh chấp “Ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH TIỀN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Huy Vũ.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Bền .
  2. Bà Đặng Thuy Thuỳ Nga.

- Thư ký phiên tòa: Ông Võ Trương Tấn Thành – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành tham gia phiên tòa: Bà Lương Thị Trà My – Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 41/2024/TLST-HNGĐ ngày 31 tháng 01 năm 2024 về tranh chấp “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 65A/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 05 tháng 4 năm 2024 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Lệ T, sinh năm: 1988 (có mặt).
    Địa chỉ: Ấp H, xã H, huyện C, tỉnh Tiền Giang.
  2. Bị đơn: Ông Trương Anh V, sinh năm: 1984 (vắng mặt).
    Địa chỉ: Xóm A, thôn H, xã H, huyện N, tỉnh Quảng Ngãi.
    Tạm trú: Ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện, bản tự khai ngày 16/01/2024 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là bà Nguyễn Lệ T trình bày: Bà và ông Trương Anh V chung sống với nhau vào năm 2009, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện N, tỉnh Quảng Ngãi vào ngày 22/5/2009. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc đến tháng 7/2023 thì phát sinh mâu thuẫn do ông V cờ bạc, không chăm lo gia đình, vợ chồng đã cố hàn gắn nhưng không được nên ông bà đã ly thân từ đó đến nay. Nay, nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn nữa nên bà yêu cầu Tòa án giải quyết:

  • Về hôn nhân: Cho bà ly hôn với ông V.
  • Về con chung: Có 02 con tên Trương Lệ Q, sinh ngày 10/10/2009 và Trương Quang S, sinh ngày 23/4/2015. Khi ly hôn, bà T yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng cháu Q và cháu S, không yêu cầu ông V cấp dưỡng nuôi con chung.
  • Về tài sản chung và nợ chung: Không có.

Ông Trương Anh V vắng mặt dù được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng. Tại phiên tòa, ông V cũng vắng mặt.

Tại phiên tòa, bà T vẫn giữ ý kiến và yêu cầu như đã trình bày trước đây.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành phát biểu: Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng xét xử đã tuân thủ quy định của Bộ luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà. Nguyên đơn chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, bị đơn không chấp hành đúng. Về nội dung: Do bà T, ông V có mâu thuẫn kéo dài, ly thân từ tháng 7/2023 mà không có biện pháp hàn gắn tình cảm, đồng thời trong suốt quá trình tố tụng ông V cũng vắng mặt chứng tỏ ông không có ý hàn gắn với bà T, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần cho bà T ly hôn với ông V. Về con chung: Do cháu Q và cháu S được bà T nuôi dưỡng sau khi ông bà ly thân, đồng thời theo bản tự khai thì nguyện vọng của cháu Q và cháu S là được sống với bà T nên cần giao cháu Q và cháu S cho bà T tiếp tục nuôi dưỡng, tránh làm xáo trộn cuộc sống, ảnh hưởng không tốt tới sự phát triển tâm sinh lý của các cháu. Tại phiên tòa, bà T không yêu cầu ông V cấp dưỡng nuôi con chung nên không đặt ra xem xét. Về tài sản chung và nợ chung: Không có nên không đặt ra xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Bà Nguyễn Lệ T khởi kiện ông Trương Anh V yêu cầu ly hôn nên Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật tranh chấp giữa bà T và ông V là tranh chấp về ly hôn được quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang.

[2] Ông Trương Anh V vắng mặt dù được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nên Tòa án xét xử vắng mặt ông theo quy định tại Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[3] Về hôn nhân: Hội đồng xét xử nhận thấy, bà Nguyễn Lệ T và ông Trương Anh V sống chung năm 2009, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện N, tỉnh Quảng Ngãi vào ngày 22/5/2009 và được cấp giấy chứng nhận kết hôn số 38, như vậy hôn nhân của ông bà là hợp pháp. Quá trình sống chung hạnh phúc đến tháng 7/2023 thì phát sinh mâu thuẫn do ông V cờ bạc, không chăm lo gia đình. Bà T yêu cầu được ly hôn, ông V vắng mặt nên không có ý kiến về vấn đề này. Nhận thấy, bà Nguyễn Lệ T và ông Trương Anh V có phát sinh mâu thuẫn kéo dài, sống ly thân từ tháng 7/2023. Trong thời gian ly thân, ông bà không có biện pháp nào hàn gắn tình cảm, đồng thời trong suốt quá trình tố tụng ông V cũng vắng mặt chứng tỏ ông không có ý hàn gắn với bà T. Do mục đích hôn nhân không đạt được nên cần cho bà T được quyền ly hôn với ông V.

[4] Về con chung: Có 02 con tên Trương Lệ Q, sinh ngày 10/10/2009 và Trương Quang S, sinh ngày 23/4/2015. Khi ly hôn, bà T yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng cháu Q và cháu S, không yêu cầu ông V cấp dưỡng nuôi con chung. Hội đồng xét xử nhận thấy, cháu Q và cháu S do bà T trực tiếp nuôi dưỡng sau khi ông bà ly thân, bà T có nơi ở và thu nhập ổn định, đồng thời theo bản tự khai thì nguyện vọng của cháu Q và cháu S là được sống với bà T nên cần giao cháu Q và cháu S cho bà T tiếp tục nuôi dưỡng, tránh làm xáo trộn cuộc sống, ảnh hưởng không tốt tới sự phát triển tâm sinh lý của các cháu. Bà T không yêu cầu ông V cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

[5] Về tài sản chung và nợ chung: Không có nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

[6] Về án phí: Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội thì bà T phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

Từ phân tích trên, ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014. Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Toà án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Lệ T.

  1. Về hôn nhân: Cho bà Nguyễn Lệ T được quyền ly hôn với ông Trương Anh V.
  2. Về con chung: Giao cháu Trương Lệ Q, sinh ngày 10/10/2009 và Trương Quang S, sinh ngày 23/4/2015 cho bà Nguyễn Lệ T là người trực tiếp nuôi dưỡng. Ông V không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Không ai được quyền ngăn cản việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.

  1. Về án phí: Bà Nguyễn Lệ T phải chịu là 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng tại biên lai số 0010890 ngày 25/01/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang, xem như đã nộp xong.
  2. Về quyền kháng cáo: Đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án Dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Tiền Giang;
  • - VKSND huyện Châu Thành;
  • - Chi cục THADS huyện Châu Thành;
  • - UBND xã Hành Trung;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Lê Huy Vũ

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 107/2024/HNGĐ-ST ngày 20/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH TIỀN GIANG về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 107/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH TIỀN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: chấp nhận yêu cầu
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger