Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 107/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 19/4/2024

V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Trần Thị Hà

Các Hội thẩm nhân dân:ông Đỗ Văn Long và bà Nguyễn Thị Bích .

-Thư ký phiên tòa: bà Nguyễn Thị Hồng Vân - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang.

-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang tham gia phiên toà: ông Lương Thất Tùng - Kiểm sát viên trung cấp.

Ngày 19/4/2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 26/2024/TLST-HNGĐ ngày 26/01/2024 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 33 /2024/QĐXX-ST ngày 16/02/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 40/2024/QĐ-ST ngày 18/3/2024 giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: chị Nguyễn Thị T, sinh năm: 1986 (vắng mặt)

Địa chỉ: thôn N, xã C, huyện H, tỉnh Bắc Giang.

* Bị đơn: anh Nguyễn Văn T1, sinh năm: 1983 (vắng mặt)

Địa chỉ: thôn N, xã C, huyện H, tỉnh Bắc Giang.

( Hiện đang lao động tại nước ngoài, không rõ địa chỉ).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện về việc xin ly hôn và bản tự khai ngày 19/01/2024, nguyên đơn là chị Nguyễn Thị T trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: chị và anh Nguyễn Văn T1 kết hôn với nhau ngày 28/9/2004 tại UBND xã C, huyện H, tỉnh Bắc Giang. Trước khi kết hôn có được tự do tìm hiểu, tự nguyên đi đến hôn nhân không bị ai ép buộc. Được tổ chức đám

cưới theo phong tục địa phương. Sau kết hôn chị về nhà anh T1 làm dâu ngay, vợ chồng ở với bố mẹ chồng, đến năm 2006 thì hai vợ chồng ở riêng trên đất của bố mẹ chồng cho. Cuộc sống vợ chồng ban đầu hạnh phúc. Đến khoảng đầu năm 2023 thì vợ chồng mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống, trong việc làm ăn kinh tế, nuôi dậy con cái. Do mâu thuẫn vợ chồng nên anh T1 đi xuất khẩu lao động tại H vào khoảng tháng 8/2023. Khi anh T1 làm thủ tục giấy tờ đi xuất khẩu lao động thì không nói cho chị biết, chỉ khi anh T1 đi rồi thì chị mới biết. Từ khi anh T1 đi xuất khẩu lao động cho đến nay thì giữa chị và anh T1 không có bất kỳ liên lạc gì với nhau, vợ chồng không gọi điện hỏi thăm nhau. Anh Tú chỉ gọi điện liên lạc với các con và bố mẹ đẻ của anh T1 mà không gọi điện hỏi thăm chị. Việc mâu thuẫn vợ chồng đã được hai bên gia đình khuyên ngăn hoà giải nhưng không có kết quả. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, chị đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Văn T1.

Về con chung: vợ chồng có 03 con chung là cháu Nguyễn Văn D, sinh ngày 30/9/2006; cháu Nguyễn Thu P, sinh ngày 29/10/2008 và cháu Nguyễn Văn Đ, sinh ngày 04/9/2012. Hiện nay, các con vẫn đang ở với chị. Vì hiện nay, anh T1 đang đi xuất khẩu lao động không có nhà nên khi ly hôn chị yêu cầu được nuôi cả 3 con chung và không yêu cầu anh T1 phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung, công nợ chung vợ chồng: vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ngoài ra, chị T còn trình bày: hiện nay anh T1 vẫn ở nước ngoài, địa chỉ cụ thể của anh T1 ở nước ngoài anh không cung cấp

cho Tòa án được vì chị có hỏi nhưng anh T1 không cung cấp cho chị biết, anh T1 vẫn liên lạc về cho bố đẻ anh T1 là ông Nguyễn Văn T2, trú tại: thôn N, xã C, huyện H, tỉnh Bắc Giang. Đề nghị Tòa án xác minh địa chỉ của anh T1 thông qua bố đẻ của anh T1.

Do tính chất công việc nên chị không tham gia phiên họp kiểm tra tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, các phiên tòa xét xử vụ án tranh chấp Hôn nhân gia đình giữa chị và anh T1 được. Vì vậy, chị đề nghị được vắng mặt trong phiên họp kiểm tra tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, trong các phiên tòa xét xử vụ án tranh chấp Hôn nhân gia đình giữa chị và anh Nguyễn Văn T1.

Bị đơn anh Nguyễn Văn T1 đang lao động tại nước ngoài không có địa chỉ cụ thể, Tòa án đã làm việc thông qua người thân và yêu cầu thông báo cho anh T1 gửi bản tự khai về Tòa án, nhưng từ đó đến nay Tòa án không nhận được bản tự khai của anh T1.

Tòa án đã tiến hành làm việc với ông Nguyễn Văn T2 là bố đẻ của anh Nguyễn Văn T1 được ông T2 cung cấp như sau: ông là bố đẻ của anh Nguyễn Văn T1, hiện nay anh T1 con ông đang đi lao động tại nước ngoài, không có mặt tại địa phương, con ông vẫn thường xuyên liên lạc về gia đình qua điện thoại và mạng xã hội, về địa chỉ của anh T1 ở nước ngoài ông không biết và không cung cấp cho Tòa án được, gia đình đã nhận được văn bản tố tụng của Tòa án và đã thông báo cho anh T1 biết, anh T1 thông tin lại như sau:

Về việc chị T xin ly hôn anh T1 thì quan điểm của anh T1 và gia đình là đồng ý ly hôn với chị T.

Về con chung: anh T1 và chị T có 03 con chung là cháu Nguyễn Văn D, sinh ngày 30/9/2006; cháu Nguyễn Thu P, sinh ngày 29/10/2008 và cháu Nguyễn Văn Đ, sinh ngày 04/9/2012. Ly hôn thì quan điểm của anh T1 và gia đình là đồng ý giao 3 cháu cho chị T nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con chung, về tài sản chung anh T1 không có ý kiến gì.

Tại biên bản lấy lời khai các cháu Nguyễn Văn D, Nguyễn Thu P và cháu Nguyễn Văn Đ đều trình bày: các cháu là con của bố Nguyễn Văn T1 và mẹ Nguyễn Thị T, hiện nay các cháu đang ở cùng với mẹ là Nguyễn Thị T. Nếu bố mẹ các cháu ly hôn thì nguyện vọng của các cháu là được ở với mẹ là Nguyễn Thị T.

Tại phiên tòa nguyên đơn chị Nguyễn Thị Thanh vắng m tại phiên tòa, có đơn xin xét xử vắng mặt. Anh Nguyễn Văn T1 vắng mặt không có lý do.

Thay mặt Hội đồng xét xử thông qua đơn khởi kiện, bản tự khai của chị T; Biên bản làm việc với bố đẻ của anh T1 là ông Nguyễn Văn T2; biên bản lấy lời khai của các cháu Nguyễn Văn D, Nguyễn Thu P và cháu Nguyễn Văn Đ và thông qua các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang phát biểu về việc tuân theo pháp luật về tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký Tòa án đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử vào nghị án.

Về việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn chị Nguyễn Thị T có đơn xin xét xử vắng mặt thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình được quy định trong Bộ luật tố tụng dân sự, bị đơn anh Nguyễn Văn T1 không có địa chỉ cụ thể ở nước ngoài Tòa án đã niêm yết đầy đủ các văn bản tố tụng đối với anh T1; Căn cứ vào công văn số 253/TANDTC-PC ngày 26/11/2018 của Tòa án nhân dân Tối cao, Hội đồng xét xử xử vắng mặt anh T1 là đúng.

-Về nội dung: đề nghị HĐXX áp dụng Điều 51, 53, 56; Điều 81, 82, 83 và khoản 2 Điều 123; Điều 127 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 37; khoản 4 Điều 147; Điều 271; Điều 273; Điều 150; khoản 2 Điều 479 BLTTDS; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết

326/2016/UBTBVQH14 ngày 30/12/2016 Nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị T.

Về hôn nhân: cho chị Nguyễn Thị T được ly hôn anh Nguyễn Văn T1.

Về nuôi con chung: giao con chung là cháu Nguyễn Văn D, sinh ngày 30/9/2006; cháu Nguyễn Thu P, sinh ngày 29/10/2008 và cháu Nguyễn Văn Đ, sinh ngày 04/9/2012 cho chị Nguyễn Thị T là người trực tiếp nuôi dưỡng. Cấp dưỡng nuôi con không đặt ra do chị T không yêu cầu. Anh Nguyễn Văn T1 có quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở anh T1 thực hiện quyền này.

Về án phí: chị Nguyễn Thị T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được công bố tại phiên toà. Sau khi thảo luận và nghị án. Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về thủ tục tố tụng: chị Nguyễn Thị T là nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự quyết định xét xử vắng mặt chị Nguyễn Thị T.

Đối với bị đơn anh Nguyễn Văn T1 vắng mặt tại phiên tòa: Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang đã tiến hành làm việc với bố đẻ của anh T1 là ông Nguyễn Văn T2 để giao thông báo thụ lý vụ án, yêu cầu ông T2 thông báo cho anh T1 biết về việc Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang đang thụ lý vụ án tranh chấp Hôn nhân gia đình giữa chị Nguyễn Thị T và anh Nguyễn Văn T1; Yêu cầu anh T1 viết bản tự khai, lời khai về cho Tòa án; Yêu cầu ông T2 cung cấp địa chỉ cụ thể của anh T1 ở nước ngoài. Ông Nguyễn Văn T2 trình bày: Anh Tú ở nước ngoài vẫn thường xuyên liên lạc về cho ông. Tuy nhiên, ông T2 vẫn không cung cấp địa chỉ, tin tức của anh T1 ở nước ngoài cho Tòa án biết. Nhận thấy đây là trường hợp bị đơn cố tình giấu địa chỉ, từ chối khai báo, từ chối cung cấp những tài liệu cần thiết. Tòa án đã tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng cho bị đơn theo quy định của pháp luật. Vì vậy, căn cứ vào Công văn số 253/TANDTC-PC ngày 26/11/2018 của Tòa án nhân dân Tối cao; khoản 2 điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt bị đơn anh Nguyễn Văn T1 theo thủ tục chung.

[2].Về thẩm quyền: chị Nguyễn Thị T là nguyên đơn có đơn xin ly hôn anh Nguyễn Văn T1, anh T1 hiện đang lao động tại nước ngoài nhưng không rõ địa chỉ (theo Công văn số 2702/QLXNC-P3 ngày 01/02/2024 của Cục Q1-Bộ C), thì anh T1 đã xuất cảnh ngày 21/8/2023 hiện chưa có thông tin nhập cảnh về nước, địa chỉ cuối cùng của anh T1 ở Việt Nam là: thôn N, xã C, huyện H, tỉnh Bắc Giang. Như vậy, đây là vụ án tranh chấp hôn nhân và gia đình có đương sự ở nước ngoài

thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang, theo quy định tại khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 37 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[3]. Về Hôn nhân: chị Nguyễn Thị T và anh Nguyễn Văn T1 có đăng ký kết hôn ngày 28/9/2004 tại Ủy ban nhân dân xã C, huyện H, tỉnh Bắc Giang, được Ủy ban nhân dân xã C cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn. Đây là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống vợ chồng chị T, anh T1 phát sinh mâu thuẫn, chị T yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh T1.

Xét yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Nguyễn Thị T đối với anh Nguyễn Văn T1. Hội đồng xét xử thấy: sau khi kết hôn anh T1 và chị T chung sống với nhau hạnh phúc. Từ năm 2023 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, anh T1 đi nước ngoài lao động, kể từ đó vợ chồng ít khi liên lạc với nhau, không còn quan tâm gì đến nhau nữa. Xét thấy tình cảm giữa chị T và anh T1 đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do vậy, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 53, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị T. Xử cho chị Nguyễn Thị T được ly hôn anh Nguyễn Văn T1.

[4]. Về con chung: chị Nguyễn Thị T và anh Nguyễn Văn T1 có 03 con chung là cháu Nguyễn Văn D, sinh ngày 30/9/2006; cháu Nguyễn Thu P, sinh ngày 29/10/2008 và cháu Nguyễn Văn Đ, sinh ngày 04/9/2012. Ly hôn chị T đề nghị được nuôi dưỡng ba con chung và không yêu cầu anh T1 phải cấp dưỡng nuôi con cho chị.

Xét yêu cầu nuôi con chung của chị Nguyễn Thị T: Hội đồng xét xử thấy hiện nay anh T1 đang lao động tại nước ngoài không thể trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung. Anh Nguyễn Văn T1 từ khi đi nước ngoài thì các cháu Nguyễn Văn D, Nguyễn Thu P và cháu Nguyễn Văn Đ vẫn ở với chị T. Nay chị T có đề nghị được nuôi ba con chung là và ba cháu cũng có nguyện vọng được ở với chị T, nên cần giao ba cháu cho chị Nguyễn Thị T là người trực tiếp nuôi dưỡng và chăm sóc con chung. Do đó Hội đồng xét xử áp dụng Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình. Chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị Thanh v nuôi con chung. Giao cho chị Nguyễn Thị T là người trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung là cháu Nguyễn Văn D, sinh ngày 30/9/2006; cháu Nguyễn Thu P, sinh ngày 29/10/2008 và cháu Nguyễn Văn Đ, sinh ngày 04/9/2012 đến khi các con chung đủ 18 tuổi là phù hợp với điều kiện thực tế cũng như quyền và lợi ích về mọi mặt của con chung.

Sau khi ly hôn anh Nguyễn Văn T1 có quyền thăm nom con chung không ai được cản trở anh T1 thực hiện quyền này theo quy định tại Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình.

Trường hợp anh Nguyễn Văn T1 về nước sinh sống, có nguyện vọng nuôi con chung hoặc vì quyền lợi chính đáng của con chung, các đương sự có quyền khởi kiện yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con bằng vụ án khác theo quy định tại Điều 84 Luật hôn nhân gia đình.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: do chị Nguyễn Thị T không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[5] .Về tài sản, công nợ: chị Nguyễn Thị T không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

[6]. Về án phí: chị Nguyễn Thị T phải nộp 300.000 đồng án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ Luật Tố tụng dân sự; và khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án. Nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng đã nộp tạm ứng án phí tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Giang.

[7]. Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 271; Điều 273 và khoản 2 Điều 479 Bộ luật tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 53; khoản 1 Điều 56; Điều 81; 82; 83 và khoản 2 Điều 123; Điều 127 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 37; khoản 4 Điều 147; khoản 3 điều 153; Điều 271; Điều 273; khoản 2 Điều 479 Bộ Luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án; xử:

  1. Về hôn nhân: cho chị Nguyễn Thị T được ly hôn với anh Nguyễn Văn T1.
  2. Về con chung: giao cho chị Nguyễn Thị T là người trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung là cháu Nguyễn Văn D, sinh ngày 30/9/2006; cháu Nguyễn Thu P, sinh ngày 29/10/2008 và cháu Nguyễn Văn Đ,

sinh ngày 04/9/2012 đến khi các con chung đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.

Anh Nguyễn Văn T1 có quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở anh T1 thực hiện quyền này.

  1. Về án phí: chị Nguyễn Thị T phải nộp 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí sơ thẩm đã nộp tại Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0001017 ngày 26/01/2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Giang. Xác nhận chị Nguyễn Thị T đã nộp đủ.
  2. Về quyền kháng cáo bản án: Chị Nguyễn Thị Thanh vắng m tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ nhận được tống đạt Bản án hoặc Bản án được niêm yết theo quy định.

Anh Nguyễn Văn T1 hiện đang ở nước ngoài vắng mặt tại phiên tòa có thời hạn kháng cáo Bản án là 01 tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc bản án được niêm yết theo quy định.

Nơi nhận:

  • -TAND cấp cao tại Hà Nội
  • -Cổng thông tin điện tử TANDTC
  • -VKSND tỉnh Bắc Giang;
  • -Cục THADS tỉnh Bắc Giang;
  • -UBND xã Châu Minh, Hiệp Hòa, Bắc Giang
  • -Các đương sự;
  • -Lưu hồ sơ vụ án;
  • -Lưu Tổ HCTР.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thị Hà

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬTHẨM PHÁN -CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thị Hà

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

BIÊN BẢN NGHỊ ÁN

Vào hồi        giờ        phút, ngày 22 tháng 01 năm 2024.

Tại trụ sở TAND tỉnh Bắc Giang.

Với Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Trung T3

Các Hội thẩm nhân dân: 1.Ông Đỗ Văn L

2.Bà Nguyễn Thị Bích

Tiến hành nghị án vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số 01/2024/TLST-HNGĐ ngày 09/01/2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”. Giữa:

*Nguyên đơn: Anh Trần Văn K, sinh năm: 1986

Địa chỉ: Thôn Đ, xã Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

*Bị đơn: Chị Nguyễn Thị X ; sinh năm: 1986

Địa chỉ: Thôn Đ, xã Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

Hiện đang lao động tại nước ngoài.

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, ý kiến của các đương sự và của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẢO LUẬN, BIỂU QUYẾT,

QUYẾT ĐỊNH CÁC VẤN ĐỀ CỦA VỤ ÁN NHƯ SAU

Căn cứ vào khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 53; khoản 1 Điều 56; Điều 81; 82; 83 và khoản 2 Điều 123; Điều 127 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 37; khoản 4 Điều 147; khoản 3 điều 153; Điều 271; Điều 273; khoản 2 Điều 479 Bộ Luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án; xử:

  1. Về hôn nhân: Cho anh Trần Văn K được ly hôn với chị Nguyễn Thị X
  2. Về con chung: Giao cho anh Trần Văn K là người trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung là cháu Trần Lâm Thiên T4, sinh ngày 15/8/2010 và cháu Trần Mạnh Q, sinh ngày 22/01/2015 đến khi các con chung đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.

Chị Nguyễn Thị X có quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở chị X thực hiện quyền này.

  1. Về án phí: Anh Trần Văn K phải nộp 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí sơ thẩm đã nộp tại Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0000903 ngày 02/01/2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Giang. Xác nhận anh Trần Văn K đã nộp đủ.
  2. Về quyền kháng cáo bản án: anh Trần Văn K vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ nhận được tống đạt Bản án hoặc Bản án được niêm yết theo quy định.

Chị Nguyễn Thị X hiện đang ở nước ngoài vắng mặt tại phiên tòa có thời hạn kháng cáo Bản án là 01 tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc bản án được niêm yết theo quy định.

Biểu quyết 3/3.

Nghị án kết thúc vào hồi        giờ        phút, ngày 22 tháng 01 năm 2024.

Biên bản nghị án đã được đọc lại cho tất cả thành viên Hội đồng xét xử cùng nghe và ký tên dưới đây.

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬTHẨM PHÁN -CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Trung Thông

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 107/2024/HNGĐ-ST ngày 19/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 107/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: * Nguyên đơn: chị Nguyễn Thị T, sinh năm: 1986 (vắng mặt) Địa chỉ: thôn Ngọ Xá, xã Châu Minh, huyện H, tỉnh B. * Bị đơn: anh Nguyễn Văn T, sinh năm: 1983 (vắng mặt) Địa chỉ: thôn Ngọ Xá, xã Châu Minh, huyện H, tỉnh B. ( Hiện đang lao động tại nước ngoài, không rõ địa chỉ).
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger