Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN U MINH

TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 107/2024/DS-ST

Ngày 18 - 7 - 2024

Về việc tranh chấp hụi

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN U MINH, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Mộng Chi

- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Châu Hoàng Huy

Ông Trịnh Thanh Trần

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Yến Ngọc, Thư ký Tòa án nhân dân huyện U Minh, tỉnh Cà Mau.

Ngày 19 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện U Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 130/2024/TLST-DS ngày 15 tháng 5 năm 2024 về việc “Tranh chấp hụi” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 115/2024/QĐXXST-DS ngày 07 tháng 6 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Lê Thúy T, sinh năm: 1980 (Có mặt).

Địa chỉ cư trú: Khóm B, thị trấn U, huyện U, tỉnh Cà Mau

- Bị đơn:

  1. Đoàn Kim H, sinh năm 1970 (Có mặt).
  2. Ông Võ Văn L (vắng mặt).

Cùng địa chỉ: Ấp I, xã K, huyện U, tỉnh Cà Mau.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Quá trình tố tụng và tại phiên tòa nguyên đơn bà Lê Thúy T trình bày:

Bà có mở một số dây hụi, vợ chồng bà Đoàn Kim H và ông Võ Văn L có tham gia hụi do bà làm chủ. Nhưng sau khi hốt hụi bà H và ông L không đóng hụi chết cho bà.

Giữa bà và bà H, ông L có quen biết thân tình lâu năm nên khi bà mở các dây hụi thì bà H có nói với bà cho các cháu của bà H tham gia, bà H là người gom tiền hụi và giao dịch trực tiếp với bà.

Bà đồng ý nên bà có cho một số người là cháu của bà H tham gia hụi nên trong danh sách bà ghi tên những người cháu của bà H nhưng việc kêu hụi và hốt hụi thì bà Đoàn Kim H là người trực tiếp kêu hụi và hốt hụi. Khi bà giao tiền hụi thì bà giao trực tiếp cho bà Đoàn Kim H, cụ thể các dây hụi mà bà H và ông L tham gia như sau:

Dây hụi mở ngày 30 tháng 07 năm 2022 âm lịch, loại hụi 2.000.000đ/tháng, tổng số 27 chưng. Vợ chồng bà H, ông L tham gia 02 chưng trong danh sách hụi bà tên là “ Hiên” và bà H, ông L chơi 04 chưng trong danh sách hụi bà ghi tên “ Thão, H1, T1, Ba X”, tổng cộng dây hụi này bà H tham gia 06 chưng, vợ chồng bà H và ông L đã hốt 06 chưng hụi và bà đã giao tiền hụi xong nhưng bà H không đóng hụi chết đầy đủ.

Dây hụi mở ngày 30 tháng 07 năm 2022 âm lịch, loại hụi 1.000.000đ/tháng, tổng số 26 chưng, vợ chồng bà H, ông L tham gia 02 chưng trong danh sách hụi bà tên là “ Hiên” và bà H, ông L chơi 05 chưng trong danh sách hụi bà ghi tên “ Thão, T2, T1, H2, Út N”, tổng cộng dây hụi này bà Đoàn Kim H tham gia 07 chưng, đã hốt 07 chưng hụi và bà đã giao tiền hụi xong nhưng không đóng hụi chết đầy đủ.

Dây hụi mở ngày 10 tháng 01 năm 2023 âm lịch, loại hụi 2.000.000đ/tháng, tổng số 26 chưng. Vợ chồng bà H, ông L tham gia 02 chưng trong danh sách hụi bà ghi tên là “ Hiên” và bà H, ông L chơi 03 chưng trong danh sách hụi bà ghi tên “ Dung, Như, H1”, tổng cộng dây hụi này bà H tham gia 05 chưng, đã hốt 05 chưng hụi và bà đã giao tiền hụi xong nhưng không đóng hụi chết đầy đủ.

Dây hụi mở ngày 20 tháng 02 (Sau) năm 2023 âm lịch, loại hụi 2.000.000đ/tháng, tổng số 29 chưng. Vợ chồng bà H, ông L tham gia 03 chưng trong danh sách hụi bà tên là “ Chị H”, vợ đã hốt 03 chưng hụi và bà đã giao tiền hụi xong nhưng không đóng hụi chết đầy đủ.

Dây hụi mở ngày 25 tháng 05 năm 2023 âm lịch, loại hụi 2.000.000đ/tháng, tổng số 24 chưng. Vợ chồng bà H, ông L tham gia 02 chưng trong danh sách hụi bà tên là “ Chị H”, đã hốt 02 chưng hụi và bà đã giao tiền hụi xong nhưng không đóng hụi chết đầy đủ.

Vì bà H, ông L không đóng hụi chết đầy đủ nên ngày 15 tháng 04 năm 2024 bà Đoàn Kim H có ký giấy nhận nợ cho bà tính đến ngày 07/03/2024 âm lịch bà Đoàn Kim H nợ bà số tiền hụi là 148.500.000 đồng. Nay bà H yêu cầu tính các dây hụi đến khi mãn thì bà thống nhất tính đến khi mãn để sau này không phải thưa kiện nữa.

Như vậy tính đến khi mãn hụi các dây hụi bà H còn nợ bà như sau:

Dây hụi mở ngày 30 tháng 07 năm 2022 âm lịch, loại hụi 2.000.000đ/ tháng, tính từ tháng 4/2024 âm lịch đến mãn hụi vào tháng 8/2024 âm lịch là 05 tháng mỗi tháng nợ 12.000.000 đồng bằng số tiền 60.000.000 đồng.

Dây hụi mở ngày 30 tháng 07 năm 2022 âm lịch, loại hụi 2.000.000đ/ tháng, tính từ tháng 4/2024 âm lịch đến mãn hụi vào tháng 7/2024 âm lịch là 04 tháng mỗi tháng nợ 7.000.000 đồng bằng số tiền 28.000.000 đồng.

Dây hụi mở ngày 10 tháng 01 năm 2023 âm lịch, loại hụi 2.000.000đ/ tháng, tính từ tháng 4/2024 âm lịch đến mãn hụi vào tháng 01/2025 âm lịch là 10 tháng mỗi tháng nợ 10.000.000 đồng bằng số tiền 100.000.000 đồng.

Dây hụi mở ngày 25 tháng 4 năm 2023 âm lịch, loại hụi 2.000.000đ/ tháng, tính từ tháng 4/2024 âm lịch đến mãn hụi vào tháng 04/2025 âm lịch là 13 tháng mỗi tháng nợ 4.000.000 đồng bằng số tiền 52.000.000 đồng.

Dây hụi mở ngày 20 tháng 02 năm 2023 âm lịch, loại hụi 2.000.000đ/ tháng, tính từ tháng 4/2024 âm lịch đến mãn hụi vào tháng 6/2025 âm lịch là 15 tháng mỗi tháng nợ 6.000.000 đồng bằng số tiền 90.000.000 đồng.

Như vậy, các dây hụi này tính từ tháng 4/2024 âm lịch đến khi mãn hụi bà H, ông L nợ bà số tiền 330.000.000 đồng cộng với số tiền hụi đã đối chiếu tính đến ngày 07/3/2024 âm lịch còn nợ là 148.500.000 đồng thì bà H, ông L nợ bà tổng số tiền 478.500.000 (bốn trăm bảy mươi tám triệu năm trăm nghìn) đồng. Bà yêu cầu bà H và ông L trả cho bà số tiền 478.500.000 (bốn trăm bảy mươi tám triệu năm trăm nghìn) đồng. Bà H yêu cầu trả mỗi tháng trả từ 10.000.000 đồng trở lên tháng nào có nhiều sẽ trả nhiều bà không đồng ý, nếu bà H trả mỗi tháng từ 39.000.000 đồng bà mới đồng ý cho bà H trả dần.

- Quá trình tố tụng và tại phiên tòa bị đơn bà Đoàn Kim H trình bày:

Bà có tham gia các dây hụi do bà H làm chủ, ngày 15/4/2024 bà T và bà có đối chiếu hụi với nhau thì tính đến ngày 07/3/2024 âm lịch bà còn nợ bà H số tiền 148.500.000 đồng, nay bà T khởi kiện bà yêu cầu tính tiền hụi cho đến khi mãn hụi để sau này không phải thưa kiện nữa. Tổng số tiền các dây hụi bà nợ bà T đến khi mãn hụi và cộng với số tiền hụi đã đối chiếu bà còn nợ bà H 478.500.000 (bốn trăm bảy mươi tám triệu năm trăm nghìn) đồng. Bà T yêu cầu vợ chồng bà trả cho bà T số tiền nêu trên bà cũng đồng ý trả nhưng yêu cầu được trả từ từ, hàng tháng đi làm có được bao nhiêu bà sẽ trả dần cho bà T. Ban đầu khi bà tham gia hụi ông L không biết nhưng sau này ông L biết thì ông L kêu bà nói với bà T là trả từ từ. Bà tham gia hụi cũng nhầm phát triển kinh tế gia đình nên nay làm ăn không được như ý muốn nên bà yêu cầu được trả tiền từ từ cho bà T, mỗi tháng trả từ 10.000.000 đồng trở lên tháng nào có nhiều sẽ trả nhiều. Bà T yêu cầu mỗi tháng trả 39.000.000 đồng bà không có khả năng.

Trong quá trình Tòa án thụ lý, giải quyết vụ án theo thủ tục tố tụng Tòa án đã tống đạt các văn bản tố tụng cho bị đơn ông Võ Văn L đúng theo quy định pháp luật nhưng ông L không có văn bản thể hiện ý kiến của mình đối với yêu cầu của nguyên đơn và cũng không cung cấp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về tố tụng, quan hệ tranh chấp: bà Lê Thúy T khởi kiện yêu cầu bà Đoàn Kim H, ông Võ Văn L trả tiền hụi. Quan hệ tranh chấp được xác định là tranh chấp hụi thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện U Minh theo quy định tại khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Ông L đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt đến lần thứ hai, căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự Hội đồng xét xử vắng mặt ông L theo quy định.

[2] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thấy rằng:

Lê Thúy T yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà Đoàn Kim H, ông Võ Văn L trả cho bà số tiền hụi là 478.500.000 đồng. Xét thấy, việc bà H tham gia hụi do bà T làm chủ là có thật được bà H thừa nhận và bà H cũng xác định số tiền bà còn nợ bà T tính đến khi mãn tất cả các dây hụi là 478.500.000 đồng và bà cũng đồng ý trả nợ cho bà T. Đồng thời, bà H cũng xác định ban đầu khi bà tham gia hụi ông L không biết nhưng sau này ông L biết thì ông L kêu bà nói với bà T là trả từ từ, bà tham gia hụi cũng nhầm phát triển kinh tế gia đình nên nay làm ăn không được như ý muốn nên bà yêu cầu được trả tiền từ từ cho bà T. Tòa án đã tống đạt hợp lệ văn bản cho ông L nhưng ông L không có văn bản thể hiện ý kiến đối với yêu cầu của bà T. Do đó, Hội đồng xét xử có cơ sở chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thúy T đối với bà Đoàn Kim H, ông Võ Văn L về việc yêu cầu trả tiền hụi, buộc bà H và ông L liên đới trả cho bà T số tiền hụi là 478.500.000 đồng.

T yêu cầu bà bà H, ông L trả tiền mỗi tháng 39.000.000 đồng còn bà H yêu cầu được trả từ từ, mỗi tháng trả 10.000.000 đồng cho đến khi trả xong. Xét thấy, giữa các đương sự không thống nhất được phương thức trả tiền nên Hội đồng xét xử không xem xét, giữa bà T và bà H, ông L có quyền thỏa thuận phương thức trả tiền trong quá trình thi hành án.

[3] Về án phí: Án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch bà Đoàn Kim H, ông Võ Văn L phải chịu 23.140.000 đồng. Bà Lê Thúy T không phải chịu án phí, bà T đã dự nộp được nhận lại.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 2 Điều 227; Điều 228; Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 468; Điều 471 của Bộ luật dân sự; Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Nghị định số 19/2019/NĐ-CP ngày 19 tháng 02 năm 2019 của Chính phủ về hụi, họ, biêu, phường.

Tuyên xử:

- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thúy T về việc yêu cầu bà Đoàn Kim H và ông Võ Văn L trả tiền hụi.

Buộc bà Đoàn Kim H và ông Võ Văn L liên đới trả cho bà Lê Thúy T số tiền 478.500.000 (bốn trăm bảy mươi tám triệu năm trăm nghìn) đồng.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, nếu chậm thi hành án thì hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất được quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự.

- Về án phí:

Án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch bà Đoàn Kim H, ông Võ Văn L phải chịu 23.140.000 (hai mươi ba triệu một trăm bốn mươi nghìn) đồng.

Lê Thúy T không phải chịu án phí. bà Lê Thúy T đã nộp tạm ứng án phí 5.663.000 (năm triệu sáu trăm sáu mươi ba nghìn) đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0006444 ngày 15 tháng 5 năm 2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện U Minh, tỉnh Cà Mau được nhận lại.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

T, bà H có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Ông L vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Mộng C

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 107/2024/DS-ST ngày 18/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN U MINH, TỈNH CÀ MAU về tranh chấp hụi

  • Số bản án: 107/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hụi
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/07/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN U MINH, TỈNH CÀ MAU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: bà Tr
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger