TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 107/2023/DS - PT
Ngày: 17/11/2023
V/v: “Tranh chấp Hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng đất”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Ngọc Lâm
Các thẩm phán: 1. Bà Lê Thị Thủy
2. Ông Vũ Đại Long
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thế Thắng - Thư ký TAND tỉnh Thanh Hóa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên toà:
Bà Lê Thu H - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 11 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 80/2023/TLPT-DS ngày 31 tháng 8 năm 2023 về việc “Tranh chấp Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số: 40/2023/DS-ST ngày 19 tháng 7 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Bá Thước, tỉnh Thanh Hóa có kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hoá.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 73/2023/QĐ-PT ngày 04 tháng 10 năm 2023 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Bùi Văn V - Sinh năm: 1983
Địa chỉ: Thôn V, xã Đ, huyện B, tỉnh Thanh Hóa.
- Bị đơn: Bà Trương Thị Q - Sinh năm: 1958; “Có mặt”
Địa chỉ: Thôn V, xã Đ, huyện B, tỉnh Thanh Hóa.
Người đại diện theo uỷ quyền của bà Q: Anh Hà Văn C – Sinh năm: 1978. “Có mặt”
Địa chỉ: Phố A, L, thị trấn C, huyện B, tỉnh Thanh Hóa.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Bà Phạm Thị Q1 - Sinh năm: 1963
Địa chỉ: Thôn V, xã Đ, huyện B, tỉnh Thanh Hóa.
- Người làm chứng: Anh Bùi Văn B - Sinh năm: 1988
Địa chỉ: Thôn B, xã Đ, huyện A, tỉnh Nghệ An.
Người đại diện theo uỷ quyền của anh V, bà Q1, anh B: Anh Vương Ngọc Long – Sinh năm 1983; “Có đơn xin xét xử vắng mặt”
Địa chỉ: Tổ D, phường D, thành phố L, tỉnh Lao Cai.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện, bản tự khai và quá trình tố tụng giải quyết vụ án ông Vương Ngọc L là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn của anh Bùi Văn V trình bày:
Gia đình anh Bùi Văn V được Nhà nước giao tổng quỹ đất là 5300,8 m² gồm 1980 m² đất thổ cư, còn lại là đất vườn. Gia đình anh V sử dụng ở ổn định không có tranh chấp với ai. Năm 2007 anh V đi miền N làm thuê không có nhà, thi thoảng mới về vào dịp tết hàng năm, anh V có trở về địa phương thì thấy có người canh tác hoa màu trên đất nhà anh V. Anh V có hỏi thì mẹ anh là bà Phạm Thị Q1 nói cho bà Trương Thị Q mượn canh tác. Sau đó đến năm 2007 mẹ anh V đã chuyển nhượng đất nông nghiệp cho bà Trương Thị Q, bản thân anh V cũng có trao đổi và xác nhận sự việc này. Trong giấy chuyển nhượng đất không thể hiện là bao nhiêu tiền (giá chuyển nhượng của thửa đất) cũng không có việc bàn giao tiền, bản thân anh V cũng không được ký vào giấy chuyển nhượng này. Anh V có hỏi mẹ anh thì mẹ anh V nói cuối năm 2007 do gia đình khó khăn về tài chính, mẹ anh có mượn bà Q 4000.000₫ ( Bốn triệu đồng) vay tiêu dùng không có thỏa thuận về lãi suất, để đảm bảo khoản vay này mẹ anh đã ký tên vào giấy mà bà Q mang đến mà không có suy nghĩ gì cũng như không biết nội dung. Nhưng không hiểu lý do gì mà bà Q lại ghi là chuyển nhượng đất ở. Khi đó viết trong giấy có ghi phần giáp ranh diện tích của mảnh đất bán có các cạnh tiếp giáp: Phía Bắc giáp bụi đền vườn nhà ông O; phía Nam giáp bụi Luồng nhà ông X; phía Tây giáp hàng cau vườn nhà bà Q1; phía Đông giáp hồ cá của gia đình anh. Toàn bộ diện tích đất này là đất vườn. Khi đó bà Q viết giấy chuyển nhượng sau nhiều ngày mới mang sang cho mẹ anh V ký, khi đó chỉ đọc các phần tiếp giáp và bảo mẹ anh ký chứ không nói là chuyển nhượng đất ở. Sau đó bà Q tự đi xin chữ ký của người làm chứng cũng như xác nhận của thôn và UBND xã Đ. Do đất này thuộc hộ gia đình bản thân anh V cũng là người đồng sở hữu sử dụng đất nên việc chuyển nhượng là trái quy định của pháp luật. Đề nghị Tòa án tuyên hủy giấy chuyển nhượng quyền sử dụng đất ký ngày 25/12/2007 giữa mẹ anh là bà Phạm Thị Q1 với bà Trương Thị Q. Về tài sản trên đất anh V đề nghị bà Q di dời toàn bộ cây gỗ keo, xoan 02 năm tuổi gỗ trả lại hiện trạng đất cho gia đình anh.
Tại bản tự khai bổ sung ngày 09/3/2023 anh V trình bày: Tại bản tự khai và đơn khởi kiện anh khai không được biết về việc mẹ anh bán đất nông nghiệp cho bà Q, nay anh nhớ lại là có chuyển nhượng đất nông nghiệp và bản thân anh cũng có trao đổi xác nhận sự việc này, nhưng thời điểm năm 2007 bà Q yêu cầu viết giấy xong nhưng bà Q không bàn giao tiền nên chưa làm đăng kýkê khai biến động về đất cũng như làm các thủ tục chuyển nhượng theo quy định của pháp luật về trồng cây lâu năm cho bà Q. Do đó giấy chuyển nhượng đất là vô hiệu. Việc bà Q trồng cây trên đất nhưng không qua lại chăm sóc cây và do chưa bản giao tiền
nên gia đình anh cũng nghĩ đất và cây vẫn thuộc về gia đình nên anh mặc kệ cho bà Q mượn sử dụng tạm thời.
* Tại bản tự khai ngày 30/12/2022 người đại diện theo ủy quyền của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Phạm Thị Q1 là ông Vương Ngọc L trình bày: Gia đình bà Q1 được Nhà nước giao tổng quỹ đất là 5300,8 m², gồm 1980 m² đất thổ cư, còn lại là đất vườn. Gia đình sử dụng ở, ổn định không có tranh chấp với ai. Năm 2007 do con cái đi làm ăn xa không có nhà, bà Q hỏi mượn đất canh tác. Bà Q có bảo ký giấy làm tin ngày 25/12/2007, sau đó bà Q viết thành giấy chuyển nhượng. Trong giấy không thể hiện bao nhiêu tiền, giấy chỉ có một mình bà Q1 ký, các con không ký. Bà Q1 có mượn bà Q số tiền 4.000.000 đồng nên để bảo đảm khoản vay bà Q1 đã ký vào giấy chuyển nhượng đất. Bản thân các con bà Q1 là đồng sở hữu mảnh đất này. Nay bà Q1 đề nghị Tòa án tuyên giấy chuyển nhượng quyền sử dụng đất ký ngày 25/12/2007 giữa bà Q1 với bà Trương Thị Q là vô hiệu cả về hình thức lần nội dung chuyển nhượng. Về tài sản trên đất bà Q1 đề nghị bà Q di dời toàn bộ cây gỗ keo, xoan 02 năm tuổi gỗ trả lại hiện trạng đất cho gia đình bà Q1.
* Tại bản tự khai ngày 05/01/2023, bị đơn bà Trương Thị Q trình bày: Năm 2007 nhà anh V làm nhà thiếu tiền, anh V lên nhà bà nhờ bà mua đất để tiếp tục làm nhà. Xét tình làng nghĩa xóm nên bà đồng ý mua với giá 4.000.000₫ (Bốn triệu đồng), có viết giấy nhận tiền bằng tay do anh Bùi Văn V ký tên ngày 17/6/2007. Sau đó ngày 25/12/2007 có làm giấy chuyển nhượng đất ở tại nhà bà Q1, có ghi diện tích chuyển nhượng là 1.500m2, có các bên làm chứng, ký tên tại chỗ và được UBND xã xác nhận nhưng chưa tách trích lục. Gia đình bà sử dụng mảnh đất đó ổn định từ năm 2007 cho đến nay, không tranh chấp với ai, có ranh giới cụ thể, rõ ràng.
Năm 2022 anh V bán đất, có người tên Q2 ở cùng làng hỏi mua đất nhà bà với giá 60.000.000đồng, có người gọi điện thoại tên L1 hỏi mua với giá 50.000.000đồng nhưng nhà bà không bán.
Nay anh V khởi kiện đề nghị Tòa án tuyên hủy giấy chuyển nhượng quyền sử dụng đất ký ngày 25/12/2007 giữa bà và bà Phạm Thị Q1 (mẹ anh V) bà không đồng ý. Bà đề nghị Tòa án giải quyết theo các quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa người đại diện theo ủy quyền của bà Q trình bày: Do số cây trên đất mới trồng được 02 năm đang còn nhỏ, nếu thu hoạch thì không có giá trị sử dụng, phải tốn kém công chăm sóc, vật tư phân bón. Anh đề nghị Phía anh V và bà Q1 mua lại số cây này theo giá mà hội đồng định giá đã xác định.
* Tại bản tự khai ngày 09/3/2023 người đại diện theo ủy quyền của người làm chứng anh Bùi Văn B là ông Vương Ngọc L trình bày: Anh B là con đẻ của bà Phạm Thị Q1 và ông Bùi Huy N (ông N chết năm 2022), anh B là đồng sỡ hữu đối với diện tích đất 5300.8m2 gồm 1980m2 đất thổ cư còn lại là đất vườn (đất
trồng cây lâu năm). Anh B cùng với gia đình ông N, bà Q1, anh V sử dụng ở, canh tác ổn định xuất thời gian dài. Sau khi anh học xong anh đi làm công nhân thỉnh thoảng mới về. Năm 2022 sau khi gia đình họp bàn thống nhất góp tiền cùng nhau xây dựng lại nhà trên toàn bộ diện tích đất thổ cư để làm nơi phụng dưỡng bà Q1 cũng như là nơi thờ tự cả gia đình quây quần nên có tiến hành đo đạc, trích lục lại thửa đất và ra UBND xã thì phát hiện có Giấy chuyển nhượng đất giữa mẹ anh B là bà Q1 với bà Trương Thị Q viết ngày 25/12/2007. Trong giấy không thể hiện chuyển nhượng là bao nhiêu tiền và cũng không có việc bàn giao tiền, sự việc chỉ có bà Q1 và bà Q trao đổi với nhau, anh B có hỏi mẹ là bà Q1 thì bà nói cũng không được biết và ký vào giấy chuyển nhượng này. Anh hỏi bà Q1 thì mẹ anh nói cuối năm 2007 do gia đình gặp khó khăn về tài chính nên mẹ anh có mượn bà Q số tiền 4.000.000đồng(Bốn triệu đồng) vay tiêu dùng không thỏa thuận về lãi, để đảm bảo cho khoản vay bà Q yêu cầu mẹ anh ký giấy chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Vì để đảm bảo cho khoản vay nên mẹ anh đã ký tên vào giấy bà Q1 mang đến mà không có suy nghĩ gì cũng như không biết nội dung, nhưng không hiểu vì lý do gì bà Q lại ghi chuyển nhượng đất ở. Khi đó trong giấy có ghi phần giáp ranh diện tích của mảnh đất bán có các cạnh tiếp giáp: Phía Bắc giáp bụi cây đền vườn nhà ông O; phía Nam giáp bụi L2 vườn nhà ông X; phía Tây giáp hàng cau vườn nhà bà Q1 (tức là đất hộ gia đình); phía Đông giáp hồ cá của UBND xã Đ. Toàn bộ diện tích đất ghi chuyển nhượng này là đất vườn (Trồng cây lâu năm) do mẹ anh là người thật thà chất phác, không am hiểu pháp luật và không được viết giấy bán chuyển nhượng vì nghĩ là để làm tin cho việc vay tiền (Việc viết giấy chuyển nhượng bà Q viết sau nhiều ngày mới mang sang bảo mẹ anh ký), khi đó bà Q chỉ đọc các phần tiếp giáp và bảo bà Q1 ký chứ không nói chuyển nhượng đất ở. Khi nghe đọc phần tiếp giáp đúng phần đất nông nghiệp và để làm tin cho việc vay tiền nên mẹ anh ký vào văn bản chuyển nhượng sau đó bà Q tự đi xin chữ ký của người làm chứng cũng như xác nhận của thôn, xã mà không cần mẹ anh đến trụ sở UBND xã, cũng như UBND xã không xuống thực địa đo đất, cho các hộ ký giáp ranh liền kề, cũng không có sơ đồ bàn giao đất hay bàn giao đất ngoài thực địa. Việc mua bán chuyển nhượng này bản thân anh không được biết và không được ký chuyển nhượng, hiện trạng trên đất hiện nay bà Q đang trồng keo và một ít cây xoan, cây 02 năm tuổi gỗ. Về nguyên tắc đất này thuộc hộ gia đình giữa anh và mẹ anh là bà Q1, anh V. Bản thân anh là người đồng sỡ hữu quyền sử dụng đất. Nhà nước cấp đất, giao đất cho hộ gia đình nên việc chuyển nhượng này là trái quy định của pháp luật. Vì vậy anh đề nghị Tòa án tuyên hủy giấy chuyển nhượng quyền sử dụng đất ký ngày 25/12/2007 giữa mẹ anh là bà Phạm Thị Q1 với bà Trương Thị Q là vô hiệu kể cả về hình thức lẫn nội dung chuyển nhượng. Về tài sản trên đất anh đề nghị bà Q di dời toàn bộ cây gỗ keo, xoan 02 năm tuổi gỗ trả lại hiện trạng đất cho gia đình anh.
Quá trình giải quyết vụ án Tòa án không tiến hành hòa giải do người được ủy quyền của nguyên đơn đã có đơn đề nghị Tòa án không tiến hành hòa giải. Đây là trường hợp không tiến hành hoà giải được theo quy định tại khoản 4 điều 207 Bộ luật tố tụng dân sự (sau đây viết tắt là BLTTDS). Tòa án cũng đã tiến hành xác minh và được UBND xã Đ cung cấp: Mảnh đất đang tranh chấp là đất ở tại nông thôn ( Công văn số 230/CV-UBND ngày 24/05/2023 của UBND xã Đ, huyện B ).
Tòa án cũng đã tiến hành định giá tài sản. Hội đồng định giá xác định: Mảnh đất đang tranh chấp có giá 345.000.000 đồng; Số cây trên đất bao gồm 360 cây keo có giá 28.800.000 đồng; 29 cây xoan có giá 3.770.000 đồng.
* Bản án dân sự sơ thẩm số 40/2023/DS-ST ngày 19 tháng 7 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Bá Thước, tỉnh Thanh Hóa đã Quyết định:
Căn cứ vào Điều 106, Điều 108, khoản 1 Điều 122, Điều 127, 128 và Điều 137 của Bộ luật dân sự năm 2005; khoản 2 Điều 146 Nghị định 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ về thi hành luật đất đai năm 2004; khoản 3 Điều 26, khoản 4 Điều 207, khoản 1 Điều 147, khoản 1 Điều 157 và khoản 1 Điều 165 của Bộ luật tố tụng dân sự; điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 1 Điều 26, điểm b khoản 3 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Bùi Văn V.
Tuyên bố: Giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất ở ngày 25/12/2007 giữa bà Phạm Thị Q1, anh Bùi Văn V với bà Trương Thị Q là vô hiệu.
- Buộc bà Phạm Thị Q1 và anh Bùi Văn V có trách nhiệm liên đới trả cho bà Trương Thị Q tổng số tiền: 377.570.000đồng(Ba trăm bảy mươi bảy triêuh năm trăm bảy mươi nghìn đồng). Buộc bà Trương Thị Q phải trả lại cho hộ gia đình bà Phạm Thị Q1 mảnh đất ở tại nông thôn, có diện tích 1500m², có ranh giới: Phía Bắc giáp bụi đền vườn nhà ông O; phía Nam giáp bụi luồng nhà ông X; phía Tây giáp hàng cây cau vườn nhà bà Q1; phía Đông giáp hồ ca, tại thôn V, xã Đ, huyện B, tỉnh Thanh Hóa.
Ngoài ra án sơ thẩm còn quyết định về án phí, nghĩa vụ thi hành án và quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định của pháp luật.
* Sau khi xét xử sơ thẩm, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa kháng nghị phúc thẩm, tại Quyết định kháng nghị số 07/QĐ-VKS-P9 ngày 18 tháng 8 năm 2023 với nội dung:
Bản án dân sự sơ thẩm số 40/2023/DS-ST ngày 19/7/2023 của Tòa án nhân dân huyện Bá Thước, tỉnh Thanh Hóa đã có những vi phạm về nội dung vụ án như sau:
- Thu thập tài liệu chứng cứ chưa đầy đủ: Tại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và chuyển nhượng là năm 2007, Toà án không thu thập sổ hộ khẩu của gia đình bà Q1 năm 2007 mà dựa trên sổ hộ khẩu năm 2015 để nhận định hộ khẩu bà Q1 tại thời điểm được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và chuyển nhượng đất cho bà Q gồm có 5 người: Chồng bà Q1 và 3 người con là không có căn cứ. Trong khi đó Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất chỉ ghi hộ bà Q1 cùng con Bùi Văn V.
- Vi phạm về xác định người tham gia tố tụng:
- - Anh Bùi Văn B khai anh là con bà Q1 và ông N1, cùng sinh sống ổn định với ông bà trên thửa đất đang tranh chấp, cùng là đồng sở hữu diện tích đất 5300,8m², trong đó có 1980m² đất ở tại nông thôn, còn lại là đất vườn. Anh Bùi Văn B là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án. Nhưng cấp sơ thẩm lại xác định anh B là người làm chứng là không đúng với quy định tại Điều 68 Bộ luật Tố tụng dân sự. Đồng thời, cấp sơ thẩm chưa xác định rõ thành viên của hộ gia đình bà Q1 để đưa họ tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của họ.
- - Bản án không đưa Ủy ban nhân dân xã Đ là người làm chứng nhưng lại ghi nhận ý kiến của Uỷ ban nhân dân xã trong bản án là không đúng quy định của pháp luật.
- Vi phạm về việc giải quyết hậu quả không đúng quy định của pháp luật:
Giá trị diện tích đất chuyển nhượng tại thời điểm chuyển nhượng do các bên thoả thuận là 4.000.000đồng, giá trị tại thời điểm tranh chấp Hội đồng định giá tài sản đã xác định là 345.000.000đồng, thiệt hại do giá đất tăng là 341.000.000đồng là đúng.
Toà án cấp sơ thẩm đã nhận định: “Do nhận thức pháp luật của cả hai bên còn hạn chế nên đánh giá lỗi của các bên là ngang bằng nhau”. Lẽ ra phải buộc mỗi bên phải chịu ½ giá trị thiệt hại do giá đất tăng lên theo quy định tại khoản 4 Điều 131 Bộ luật Dân sự năm 2015. Nhưng Bản án sơ thẩm lại quyết định: “Buộc bà Phạm Thị Q1 và anh Bùi Văn V có trách nhiệm liên đới trả cho bà Trương Thị Q tổng số tiền 377.570.000đồng(trong đó 345.000.000đồng tiền đất và 32.570.000đồng tiền hoa màu trên đất. Buộc bà Trương Thị Q phải trả lại cho hộ gia đình bà Phạm Thị Q3 mảnh đất ở tại nông thôn, có diện tích 1500m²”.
Việc quyết định như trên là không đúng theo quy định tại khoản 4 Điều 131 Bộ luật Dân sự năm 2015; điểm 2.3 mục II Ngị quyết 02/2004/NQ-HĐTP ngày 10/8/2004 của Hội đồng thẩm phán TANDTC.
- Vi phạm về án phí:
Bản án sơ thẩm: “Buộc bà Phạm Thị Q1 và anh Bùi Văn V có trách nhiệm liên đới trả cho bà Trương Thị Q tổng số tiền 377.570.000đồng(trong đó 345.000.000đồng tiền đất và 32.570.000đồng tiền hoa màu trên đất”, nhưng lại
chỉ buộc bà Q1 và anh V chịu án phí đối với khoản tiền hoa màu trên đất là không đúng với quy định tại điểm b khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 27 của Nghị Quyết số 326/UBTVQH14.
* Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án như sau:
Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán và Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của đương sự, tại cấp phúc thẩm đã tuân thủ đúng quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự.
Về nội dung và quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 3, Điều 308, Điều 310, khoản 3 Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- - Chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa. Hủy toàn bộ Bản án dân sự sơ thẩm số 40/2023/DS-ST ngày 19/7/2023 của Tòa án nhân dân huyện Bá Thước, tỉnh Thanh Hóa, giao hồ sơ cho Tòa án nhân dân huyện Bá Thước giải quyết lại theo thủ tục chung.
- - Về án phí phúc thẩm: Đề nghị HĐXX căn cứ NQ 326 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí lệ phí Tòa án để xem xét và quyết định.
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, đã được thẩm tra tại phiên tòa, quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát về việc giải quyết vụ án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
- [1] Về thủ tục tố tụng: Anh Bùi Văn V khởi kiện yêu cầu tuyên Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất vô hiệu đối với diện tích đất ở tại nông thôn 1500m² tại địa chỉ Thôn V, xã Đ, huyện B, tỉnh Thanh Hóa, nên đây là vụ án tranh chấp Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại theo quy định tại khoản 3 Điều 26 BLTTDS. Bị đơn có nơi cư trú trên địa bàn huyện B nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Bá Thước, tỉnh Thanh Hóa theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm c khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Tại Quyết định số 07/QĐ-VKS-P9 ngày 18/8/2023 Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa ban hành Quyết định kháng nghị phúc thẩm đối với bản án dân sự sơ thẩm số 40/2023/DS-ST ngày 19/7/2023 của Tòa án nhân dân huyện Bá Thước. Tại phiên toà, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hoá vẫn giữ nguyên nội dung kháng nghị, nên vụ án được xem xét giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.
- [2] Xét nội dung kháng nghị:
- 2.1. Về phần diện tích đất tranh chấp: Đối với diện tích đất ở 1500m² mà bà Phạm Thị Q1 chuyển nhượng cho bà Trương Thị Q nằm trong thửa đất số 56, tờ bản đồ số 02, diện tích 1980m² đất ở tại nông thôn tại Thôn V, xã Đ, huyện B, tỉnh Thanh Hóa; thửa đất được UBND huyện B, tỉnh Thanh Hoá cấp Giấy chứng nhận
- quyền sử dụng đất số 190597, số vào sổ H.00235 ngày 30/12/2007 mang tên người sử dụng đất là hộ bà Phạm Thị Q1 cùng con Bùi Văn V.
- 2.2. Về các nội dung kháng nghị, Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy rằng:
- * Việc Toà án cấp sơ thẩm thu thập tài liệu, chứng cứ chưa đầy đủ:
Qua nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án thể hiện: Mặc dù Toà án cấp sơ thẩm đã có Văn bản yêu cầu xác Đ, huyện B cung cấp một số thông tin liên quan đến vụ án, nhưng chưa yêu cầu UBND xã xác định nguồn gốc thửa đất số 56, tờ bản đồ số 02 và cung cấp hồ sơ địa chính qua các thời kỳ đối với thửa đất trên; mặt khác, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ H.00235 có ghi nguồn gốc sử dụng đất: Nhà nước công nhận quyền sử dụng đất, nhưng cấp sơ thẩm chưa làm rõ tại thời điểm công nhận quyền sử dụng đất thì trong hộ bà Phạm Thị Q1 gồm những ai được quyền sử dụng đất đối với thửa đất này.
Tại Công văn số 230/CV-UBND ngày 24/5/2023 của UBND xã Đ, huyện B thể hiện: Bà Phạm Thị Q1 có chồng là ông Bùi Văn N2(đã chết) và 03 người con gồm: Anh Bùi Văn V, chị Bùi Thị D, anh Bùi Văn B. Tại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 190597, số vào sổ H.00235 do UBND huyện B, tỉnh Thanh Hoá cấp ngày 30/12/2007 mang tên người sử dụng đất là hộ bà Phạm Thị Q1. Toà án cấp sơ thẩm xác định hộ gia đình bà Q1 thời điểm đó có 05 người bao gồm chồng bà Q1 và 03 người con, nhưng không xác minh tại thời điểm cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trong hộ bà Q1 gồm những thành viên nào để đưa những người đó vào tham gia tố tụng dù sau đó họ đã tách riêng hộ khẩu; mặt khác cấp sơ thẩm có nêu ông N2 chết năm 2022 nhưng chưa xác minh thu thập giấy chứng tử của ông N2 để xác định những người thuộc hàng thừa kế của ông N2 và đưa họ vào tham gia tố tụng.
Như vậy, cấp sơ thẩm đã thiếu sót, vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng và dẫn đến quyết định sai về mặt nội dung.
- * Vi phạm về xác định người tham gia tố tụng: Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và lời khai của anh Bùi Văn B thể hiện tại thời điểm cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì anh sinh sống ổn định với ông bà trên thửa đất đang tranh chấp, cùng là đồng quyền sử dụng đối với diện tích đất 5300,8m², trong đó có 1980m² đất ở tại nông thôn, còn lại là đất vườn. Như vậy, như phần tích ở trên thì phải đưa anh Bùi Văn B vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan mới đúng; nhưng Toà án cấp sơ thẩm lại xác định anh B là người làm chứng là không đúng với quy định tại Điều 68 Bộ luật Tố tụng dân sự.
- * Vi phạm về việc giải quyết hậu quả không đúng quy định của pháp luật:
Bản án sơ thẩm xác định: Giá trị diện tích đất chuyển nhượng tại thời điểm chuyển nhượng do các bên thoả thuận là 4.000.000đồng, giá trị tại thời điểm tranh chấp Hội đồng định giá tài sản đã xác định là 345.000.000đồng, thiệt hại do giá đất tăng là 341.000.000đồng là đúng.
Mặt khác, cấp sơ thẩm đã nhận định: “Do nhận thức pháp luật của cả hai bên còn hạn chế nên đánh giá lỗi của các bên là ngang bằng nhau” thì lẽ ra phải buộc mỗi bên phải chịu ½ giá trị thiệt hại do giá đất tăng lên theo quy định tại khoản 4 Điều 131 Bộ luật Dân sự năm 2015. Nhưng Bản án sơ thẩm lại quyết định: “Buộc bà Phạm Thị Q1 và anh Bùi Văn V có trách nhiệm liên đới trả cho bà Trương Thị Q tổng số tiền 377.570.000đồng(trong đó 345.000.000đồng tiền đất và 32.570.000đồng tiền hoa màu trên đất” là không đúng với phần nhận định.
Như vậy, việc Toà án cấp sơ thẩm quyết định như trên là không đúng với quy định tại khoản 4 Điều 131 Bộ luật Dân sự năm 2015; điểm 2.3 mục II Ngị quyết 02/2004/NQ-HĐTP ngày 10/8/2004 của Hội đồng thẩm phán TANDTC.
- * Vi phạm về án phí:
Theo quy định tại điểm b khoản 3 Điều 27 của Nghị Quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: “ Trường hợp một bên yêu cầu công nhận hợp đồng mua bán tài sản, chuyển nhượng quyền sử dụng đất và một bên yêu cầu tuyên bố hợp đồng mua bán tài sản, chuyển nhượng quyền sử dụng đất vô hiệu và có yêu cầu Toà án giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu thì ngoài việc chịu án phí không có giá ngạch được quy định tại điểm a khoản 3 Điều này, người phải thực hiện nghĩa vụ về tài sản hoặc bồi thường thiệt hại phải chịu án phí như trường hợp vụ án dân sự có giá ngạch đối với giá trị tài sản phải thực hiện nghĩa vụ”.
Tại Bản án sơ thẩm: “Buộc bà Phạm Thị Q1 và anh Bùi Văn V có trách nhiệm liên đới trả cho bà Trương Thị Q tổng số tiền 377.570.000đồng(trong đó 345.000.000đồng tiền đất và 32.570.000đồng tiền hoa màu trên đất”, nhưng về phần án phí lại chỉ buộc bà Q1 và anh V chịu án phí đối với khoản tiền hoa màu trên đất là không đúng với quy định tại điểm b khoản 3 Điều 27 của Nghị Quyết số 326/UBTVQH14.
- * Việc Toà án cấp sơ thẩm thu thập tài liệu, chứng cứ chưa đầy đủ:
- 2.3. Từ các phân tích và đánh giá nêu trên, việc thu thập, đánh giá chứng cứ và quyết định ở cấp sơ thẩm chưa đúng, đầy đủ; vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng đã làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của các bên đương sự. Những vi phạm này Toà án cấp phúc thẩm không thể khắc phục được, do đó chấp nhận kháng nghị của VKSND tỉnh Thanh Hóa, hủy bản án dân sự sơ thẩm số 40/2023/DS-ST ngày 19/7/2023 của Tòa án nhân dân huyện Bá Thước, giao hồ sơ cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại theo thủ tục chung.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Sẽ xem xét khi giải quyết sơ thẩm lại vụ án.
Về án phí dân sự phúc: Các đương sự không phải chịu án phí Dân sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
* Căn cứ khoản 3 Điều 308; khoản 1 Điều 310 của Bộ luật Tố tụng Dân sự;
- Chấp nhận Quyết định kháng nghị số 07/QĐ-VKS-P9 ngày 18/8/2023 Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa;
- Hủy bản án dân sự sơ thẩm số: 40/2023/DS-ST ngày 19/7/2023 của Tòa án nhân dân huyện Bá Thước, tỉnh Thanh Hóa.
- Giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân huyện Bá Thước, tỉnh Thanh Hóa giải quyết lại theo thủ tục chung.
- Về án phí phúc thẩm: Các đương sự không phải chịu án phí Dân sự phúc thẩm;
Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án./.
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
CÁC THẨM PHÁN | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
Vũ Đại Long Lê Thị Thủy | Lê Ngọc Lâm |
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Ngọc Lâm |
Bản án số 107/2023/DS - PT ngày 17/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
- Số bản án: 107/2023/DS - PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 17/11/2023
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Anh V tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất với bà Q
