|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 107/2024/HS-ST Ngày 17-6-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN - THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Bá Lộc
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Đinh Văn Bình
Ông Vũ Khắc Tân
- Thư ký phiên toà: Ông Trịnh Việt Anh, Thư ký Toà án nhân dân quận Lê Chân
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Lê Chân tham gia phiên toà: Ông Khắc Thành Sơn, Kiểm sát viên
Ngày 17 tháng 6 năm 2024 Toà án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 115/2024/TLST-HS ngày 31 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 496/2024/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 6 năm 2024 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn Đ, sinh ngày 30 tháng 4 năm 1982 tại Hải Phòng. Nơi cư trú: Số A CT1 A, phường V, quận N, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Hữu K và bà Trần Thị L; chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Có 03 tiền án đã được xóa: Tại Bản án số 14/HSST ngày 07/3/1998 Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền xử phạt 30 tháng tù về tội Cướp tài sản của công dân; Bản án số 26/HSST ngày 06/02/2002 Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền xử phạt 15 tháng tù về tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản; Bản án số 97/HSST ngày 20/7/2004 Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền xử phạt 15 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. Bị bắt tạm giữ ngày 19/02/2024, tạm giam ngày 23/02/2024; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 11 giờ 30 phút ngày 19/02/2024, Công an phường D làm nhiệm vụ tuần tra trên địa bàn phát hiện Nguyễn Văn Đ đang điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 16R8-0546 tại khu vực đầu ngõ A Chợ H, phường D, quận L, thành phố Hải Phòng có biểu hiện nghi vấn phạm tội về ma túy nên đã yêu cầu dừng xe kiểm tra. Khi thấy lực lượng Công an, Đ dừng xe, thả từ tay trái xuống đất sát cạnh chân trái của Đ 01 túi nilon, bên trong có 01 gói giấy màu trắng chứa chất bột màu trắng dạng cục. Đ khai nhận là ma túy Heroine của Đ vừa mua mục đích để sử dụng. Tổ công tác đã tiến hành thu giữ gói ma túy trên, đưa Đ cùng vật chứng về trụ sở Công an phường D lập biên bản bắt người phạm tội quả tang. Ngoài ra, còn thu giữ của Đ 01 điện thoại di động Nokia dạng bàn phím và 01 xe mô tô biển kiểm soát 16R8-0546.
Tại Kết luận giám định số 180/KL-KTHS ngày 23/02/2024 của Phòng K1 Công an thành phố H kết luận: Chất bột màu trắng thu giữ của Nguyễn Văn Đ gửi giám định là ma túy, có khối lượng: 0,15 gam, loại: Heroine.
Nguyễn Văn Đ khai nhận: Khoảng 11 giờ ngày 19/02/2024, Đ điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 16R8-0546 đi từ nhà đến khu vực đường T, quận L để tìm mua ma túy về sử dụng. Khi đến khu vực chắn tàu, Đ gặp và giao dịch mua ma túy với 01 người nam giới không quen biết. Đ đi theo xe mô tô (không nhớ biển kiểm soát) của nam giới trên vào giữa ngõ 116 Chợ Hàng, Đ đưa cho nam giới số tiền 200.000 đồng, người nam giới bảo Đ đứng chờ và đi vào một ngách nhỏ, khoảng 01 phút sau quay lại đưa cho Đ 01 túi nilon bên trong có 01 gói giấy màu trắng rồi bỏ đi. Đ nhìn và biết đó là ma túy Heroine nên cầm ở tay trái, điều khiển xe mô tô đi ra đến khu vực đầu ngõ A Chợ H, phường D, quận L, thành phố Hải Phòng thì bị lực lượng Công an dừng xe kiểm tra. Do hoảng sợ, Đ thả gói ma túy đang cầm ở tay trái xuống đất sát cạnh chân trái và bị lực lượng Công an phát hiện thu giữ như nội dung nêu trên.
Tại bản cáo trạng số 125/CT-VKSLC ngày 27 tháng 5 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng truy tố Nguyễn Văn Đ về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa bị cáo khai nhận như nội dung trên và khai không có tài sản riêng, không có việc làm và thu nhập ổn định.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Nguyễn Văn Đ về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự và đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Đ mức án từ 18 đến 24 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Do bị cáo không có việc làm, không có tài sản riêng; đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì thư niêm phong số 180MT/PC09 đựng số ma túy còn lại cùng vỏ bao gói sau giám định; trả lại bị cáo 01 điện thoại Nokia dạng bàn phím.
Đối với chiếc xe mô tô Biển kiểm soát 16R8-0546 thu giữ của Nguyễn Văn Đ, kết quả điều tra xác định thuộc sở hữu hợp pháp của ông Nguyễn Hữu K, sinh năm 1959; nơi cư trú: Số A A7 V, phường V, quận N, thành phố Hải Phòng là bố đẻ của Đ. Ông K không biết Đ1 sử dụng chiếc xe trên để đi mua ma tuý nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận L đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại chiếc xe trên cho ông K; nên không đề nghị Hội đồng xét xử xét giải quyết.
Đối với người bán ma túy cho bị cáo do không xác định được lai lịch, địa chỉ nên không có cơ sở để điều tra, làm rõ; do vậy không đề nghị Hội đồng xét xử xét giải quyết.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo luật định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án dã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về tố tụng:
-
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tại giai đoạn điều tra, truy tố, tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến gì về quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng thực hiện đều hợp pháp.
- Về tội danh:
-
[2] Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với các chứng cứ tài liệu khác tại hồ sơ và vật chứng thu giữ cho thấy: Hồi 11 giờ 30 phút ngày 19/02/2024, Nguyễn Văn Đ đã có hành vi cất giữ trái phép 0,15 gam Heroine tại khu vực đầu ngõ A Chợ H, phường D, quận L, thành phố Hải Phòng để sử dụng thì bị bắt quả tang. Nên có đủ cơ sở kết luận bị cáo Nguyễn Văn Đ đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
-
[3] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách quản lý chất ma tuý của Nhà nước, xâm phạm đến trật tự trị an xã hội.
-
[4] Bị cáo biết hành vi cất giữ trái phép chất ma túy bị Nhà nước nghiêm cấm nhưng do là đối tượng sử dụng ma tuý từ nhiều năm nay nên vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội.
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
-
[5] Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội; Kiểm sát viên tham gia phiên toà có ý kiến đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự khi lượng hình là có căn cứ chấp nhận.
-
[6] Về nhân thân: Bị cáo có 03 tiền án đến nay đều đã được xoá: Tại Bản án số 14/HSST ngày 07/3/1998 Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền xử phạt 30 tháng tù về tội “Cướp tài sản của công dân”; Bản án số 26/HSST ngày 06/02/2002 Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền xử phạt 15 tháng tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”; Bản án số 97/HSST ngày 20/7/2004 Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền xử phạt 15 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, nhưng cho thấy bị cáo là người có nhân thân xấu và có ý thức chấp hành pháp luật kém.
- Về hình phạt áp dụng:
-
[7] Từ những phân tích trên cần áp dụng hình phạt nghiêm khắc, tương xứng với hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo và buộc bị cáo phải cách ly xã hội một thời gian mới đủ tác dụng giáo dục cải tạo, phòng ngừa tội phạm chung.
- Về hình phạt bổ sung:
-
[8] Bị cáo không có tài sản riêng, không có việc làm và thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo là phù hợp với thực tế và ý kiến đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên toà.
- Về xử lý vật chứng:
-
[9] Lượng ma tuý thu giữ của bị cáo có khối lượng 0,15g, loại Heroin; sau khi lấy 0,06g đi giám định lượng còn lại cùng toàn bộ vỏ bao gói của mẫu vật được niêm phong trong bì giấy có dấu niêm phong số 180MT/PC09 và chữ ký của những người liên quan. Xét đây là vật cấm lưu hành, đối chiếu điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự nên cần tịch thu tiêu huỷ.
-
[10] Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia dạng bàn phím đã qua sử dụng thu giữ của bị cáo. Quá trình điều tra và xét hỏi tại phiên tòa xác định bị cáo không sử dụng chiếc điện thoại này để thực hiện hành vi mua bán ma túy; đối chiếu điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, nên trả lại bị cáo.
- Về án phí:
-
[11] Bị cáo phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm theo luật định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Đ 18 (mười tám) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 19 tháng 02 năm 2024.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 và điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu huỷ 01 phong bì thư niêm phong số 180MT/PC09 đựng số ma túy còn lại cùng vỏ bao gói sau giám định.
Trả lại bị cáo 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia dạng bàn phím đã qua sử dụng.
(Theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 30 tháng 5 năm 2024 giữa Cơ quan CSĐT Công an quận L và Chi cục Thi hành án dân sự quận Lê Chân).
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Điều 6; Điều 12; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Bá Lộc |
Bản án số 107/2024/HS-ST ngày 17/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN - THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 107/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN - THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn Đ - TTMT
