Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN LỤC NGẠN

TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 107/2024/HS-ST

Ngày 16 - 8 - 2024

NHÂN DANHNƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN - TỈNH BẮC GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Linh.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Vũ Ngọc Côn;

2. Ông Giáp Văn Phẩm.

Thư ký phiên toà: Ông Diệp Văn Vĩ - Thư ký Toà án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn tham gia phiên toà: Ông Hoàng Thành Đạt, Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 8 năm 2024, tại Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 99/2024/TLST-HS ngày 02 tháng 8 năm 2024; Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 112/2024/HSST-QĐ ngày 05/8/2024 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn P; Sinh năm 1985; Tên gọi khác: Không; Địa chỉ: Thôn H, xã G, huyện L, tỉnh Bắc Giang; Giới tính: Nam; Dân tộc: kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ văn hoá: Lớp 7/12; Bố đẻ: Nguyễn Văn T; mẹ đẻ Vy Thị M; Vợ Hoàng Thị B; Con: 02 con, con lớn sinh năm 2008, con nhỏ sinh năm 2015; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 15/6/2024 đến ngày 24/6/2024; Hiện đang tại ngoại “có mặt”.

* Bị hại: Anh Vy Văn Q, sinh năm 1978 “vắng mặt”.

Địa chỉ: Thôn H, xã G, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

1. Chị Tô Thị H, sinh năm 1980 “vắng mặt”.

Địa chỉ: Thôn H, xã G, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

2. Chị Khúc Thị H1, sinh năm 1982 “vắng mặt”.

Địa chỉ: Thôn K, xã H, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

3. Chị Phạm Thị N, sinh năm 1985 “vắng mặt”.

Địa chỉ: Thôn L, xã G, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

4. Chị Nguyễn Thị H2, sinh năm 1993 “vắng mặt”.

Địa chỉ: Thôn B, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

5. Chị Hoàng Thị B, sinh năm 1990 “có mặt”.

Địa chỉ: Thôn H, xã G, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 07 giờ ngày 14/5/2024, chị Tô Thị H đi xe mô tô nhãn hiệu Honda loại Wave S, biển kiểm soát 98E1-167.92 đăng ký mang tên anh Vy Văn Q (chồng chị H) để đi làm đồng và dựng xe tại lề đường.

Khoảng 06 giờ 45 phút ngày 14/6/2024, Nguyễn Văn P điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda loại Wave biển kiểm soát 98E1-124.35 đi từ nhà ra vườn ở khu vực cánh đồng thôn H, xã G để phun thuốc sâu. Khi phun thuốc trừ sâu xong, trên đường đi về P phát hiện tại đường bê tông nội đồng cách vườn khoảng nhà P khoảng 30 mét có 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda loại Wave S, màu sơn đỏ, biển kiểm soát 98E1-167.92 dựng ở dìa đường không có người trông coi, nên P đã nảy sinh ý định trộm cắp tài sản. P tiến lại vị trí xe mô tô dùng tay trái cây yên xe ở vị trí cốp xe lên để hở khoảng trống giữa cốp xe và yên xe, tay phải thò vào trong cốp lấy 01 ví da màu xanh nhạt đút vào túi quần rồi đi về nhà. Về đến nhà, P kiểm tra ví phát hiện bên trong có 1.730.000 đồng; 01 thẻ ngân hàng A số 9704050993244479; 01 căn cước công dân số [...] và 01 giấy phép lái xe hạng A1 đều mang tên Vy Văn Q. Nghĩ thẻ ATM ngân hàng A vẫn còn tiền, nên P điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda loại Lead, biển kiểm soát 98E1-804.35 của chị Hoàng Thị B, sinh năm 1990 (là vợ P) mang theo thẻ ATM ngân hàng A, căn cước công dân của Vy Văn Q đến cây ATM thuộc Phòng G - A Chi nhánh huyện L; địa chỉ thôn L, xã G, huyện L để rút tiền. Khi rút tiền, P nhập không đúng mật khẩu nên không rút được tiền. Sau đó, P vào quầy giao dịch của ngân hàng A, cung cấp căn cước công dân và thẻ ATM của anh Vy Văn Q đề nghị được làm thủ tục cấp lại mật khẩu của thẻ ATM; chị Nguyễn Thị H2, sinh năm 1993 là nhân viên giao dịch đã cung cấp lại mật khẩu thẻ ATM của Vy Văn Q mới là “123456”, đăng ký số thuê bao 0384699485 của Nguyễn Văn P để giao dịch. Khi có được mật khẩu của thẻ, P sử dụng thẻ đến cây ATM Phòng G - A đăng nhập rút được số tiền 5.000.000 đồng; kiểm tra tài khoản thông báo số dư tài khoản vẫn còn, nhằm tránh bị phát hiện P đi đến cây ATM ngân hàng V Chi nhánh huyện L thuộc tổ dân phố T, thị trấn C, huyện L tiếp tục rút số tiền 1.200.000 đồng. Lúc này, P đi đến cửa hàng Đ địa chỉ thôn K, xã H, huyện L để nhờ chị Khúc Thị H1, sinh năm 1982 trú tại thôn K, xã H, huyện L (là chủ cửa hàng) chuyển số tiền 7.000.000 đồng đến số tài khoản 1035177517 ngân hàng V1 của Nguyễn Văn P.

Khoảng 09 giờ ngày 14/6/2024, anh Vy Văn Q nhận được tin nhắn thay đổi mã pin của số tài khoản 2504205665010, bị trừ tiền liên tiếp trong thẻ ATM khi không thực hiện giao dịch trên, nên anh Q đã đến Phòng G- A làm việc. Chị Nguyễn Thị H2 phát hiện việc cung cấp lại mật khẩu cho anh Q là không đúng chủ sở hữu, nên đã gọi điện cho P đến Phòng G - A làm việc và yêu cầu P trả lại tiền cho anh Q. Khi bị phát hiện và yêu cầu trả tiền, P đi đến cửa hàng điện thoại di động C, địa chỉ tại thôn L, xã G, huyện L gặp chị Phạm Thị N, sinh năm 1985 (chủ cửa hàng) chuyển 5.000.000 đồng từ tài khoản của P sang tài khoản của chị N để đổi lấy tiền mặt; đồng thời chuyển cho anh Q 2.000.000 đồng từ tài khoản 1035177517 đến số tài khoản ngân hàng A 2504205665010 của anh Q. Ngoài ra, P đem trả cho anh Q 01 ví da màu xanh nhạt, 01 thẻ ngân hàng A, 01 căn cước công dân và 01 giấy phép lái xe hạng A1.

Cùng ngày, anh Vy Văn Q có đơn trình báo đến Công an xã G về nội dung sự việc giao nộp số tiền 5.000.000đồng; 01 ví da màu xanh nhạt, 01 căn cước công dân, 01 thẻ ngân hàng A do Nguyễn Văn P trả lại. Công an xã G tiếp nhận nội dung sự việc và tiến hành xác định hiện trường theo quy định pháp luật. Ngày 15/6/2024 Công an xã bàn giao hồ sơ đến Công an huyện L để giải quyết theo thẩm quyền.

Đến hồi 12 giờ 35 phút ngày 14/6/2024, Nguyễn Văn P đến Công an xã G đầu thú khai nhận hành vi phạm tội của bản thân và giao nộp số tiền 740.000 đồng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO loại K3 màu xanh đen để phục vụ công tác điều tra.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L đã Yêu cầu định giá tài sản. Kết luận định giá tài sản số 65/KL-HĐĐGTS ngày 25/6/2024 của Hội đồng định giá tài sản UBND huyện L kết luận: “01 (một) chiếc ví làm bằng chất liệu da, màu xanh nhạt, được mua từ tháng 5 năm 2015 không có nhãn mác có giá trị là 10.000 đồng. Kết luận giám định số 73/KL-HĐĐ GTS ngày 25/6/2024 của Hội đồng định giá tài sản UBND huyện L kết luận: “03 giấy tờ cá nhân mang tên Vy Văn Q qua xem xét đối chiếu các thông tin của 03 loại giấy tờ gồm: 01 thẻ ngân hàng A số 9704050993244479; 01 căn cước công dân số 0240780007392; 01 giấy phép lái xe số AR 456099 xác định là 0 đồng. Tổng giá trị các tài sản là 10.000 đồng (Mười nghìn đồng).

Quá trình điều tra, tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Văn P đều khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên. Bị cáo không ý kiến gì nội dung bản cáo trạng cũng như bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa.

Về trách nhiệm dân sự: Ngày 19/6/2024 Nguyễn Văn P đã trả lại tài sản và bồi thường số tiền 190.000 đồng cho anh Vy Văn Q, anh Q đã nhận lại tài sản, không có đề nghị gì và có đơn xin miễn giảm truy cứu trách nhiệm hình sự đối với P.

Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã công bố lời khai của những đương sự vắng mặt tại phiên tòa trong quá trình điều tra. Bị cáo không có ý kiến gì về lời khai của đương sự vắng mặt.

Bản cáo trạng số 110/CT-VKS ngày 02/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn P về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn thực hành quyền công tố tại phiên tòa xét xử sơ thẩm, giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo theo tội danh và điều luật như đã viện dẫn ở trên, đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn P phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo từ 08 tháng đến 10 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 16 đến 20 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Miễn hình phạt bổ sung bằng tiền cho bị cáo. Về trách nhiệm dân sự không đặt ra xem xét giải quyết. Ngoài ra còn đề xuất về án phí, xử lý vật chứng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện L, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện L, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, đương sự không có người nào có ý kiến hoạc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt, Hội đồng xét xử đã công bố lời khai của các đương sự vắng mặt, bị cáo không ý kiến gì về lời khai các đương sự vắng mặt. Căn cứ quy định tại Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự, Tòa án xét xử vắng mặt họ.

[3] Về chứng cứ xác định có tội của bị cáo:

Tại phiên toà bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân. Lời khai nhận của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai tại Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện L, cùng toàn bộ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Như vậy có đủ cơ sở kết luận:

Sáng ngày 14/6/2024, tại khu vực cánh đồng thuộc thôn H, xã G, huyện L, tỉnh Bắc Giang, Nguyễn Văn P có hành vi cậy yên chiếc xe máy biển kiểm soát 98E1-167.92 trộm cắp của anh Vy Văn Q, gồm: 01 (một) chiếc ví da màu xanh; 01 (một) thẻ ATM ngân hàng A; 01 (một) căn cước công dân; 01 (một) Giấy phép lái xe hạng A1 và số tiền 1.730.000 đồng, sau khi chiếm đoạt tài sản P sử dụng thẻ ATM rút số tiền 6.200.000 đồng để tiêu xài cá nhân. Tổng giá trị các tài sản trộm cắp là 7.940.000 đồng (Bẩy triệu, chín trăm bốn mươi đồng). Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự; Hành vi của bị cáo xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản được pháp luật bảo vệ với lỗi cố ý; Vì vậy đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 điều 173 Bộ luật hình sự. Bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn đã truy tố và bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật nên Hội đồng xét xử xem xét và chấp nhận.

[4] Đánh giá tính chất mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng;

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố thành khẩn bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; sau khi phạm tội đến Công an xã đầu thú; đã khắc phục hậu quả, bị hại có đơn xin miễn giảm truy cứu trách nhiệm hình sự nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại b, i, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, tính chất mức độ hành vi phạm tội, Hội đồng xét xử xét thấy: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội cần xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật.Tuy nhiên bị cáo có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ; bị cáo hiện nay có nơi cư trú rõ ràng, luôn chấp hành mọi chính sách ở địa phương, xét thấy bị cáo có khả năng tự cải tạo và không gây nguy hiểm cho xã hội nên không cần phải bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù cho bị cáo hưởng án treo cũng đủ để giáo dục riêng và phòng ngừa chung và theo đúng quy định tại Điều 2 Nghị quyết số 02 ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự về án treo; Xét mức hình phạt đề nghị đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà là phù hợp.

[5] Về trách nhiệm bồi thường dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì thêm nên không đặt ra xem xét giải quyết.

[6] Về xử lý vật chứng: Đối với 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda loại Wave biển kiểm soát 98E1-124.35 đã qua sử dụng là tài sản chung của vợ chồng bị cáo, vợ chị cáo chị B không bị cáo lấy xe đi trộm cắp tài sản nên cần phải trả lại cho bị cáo; Đối với 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO loại K3 liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nên cần tịch thu nộp ngân sách Nhà nước là đảm bảo theo đúng quy định tại Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

[7] Các vấn đề khác:

Đối với xe mô tô biển kiểm soát 98E1- 167.92 của anh Vy Văn Q, quá trình trộm cắp tài sản P có cậy yên xe tuy nhiên không có bị hư hỏng, thiệt hại gì về tài sản, do đó anh Q không có yêu cầu đề nghị gì đối với P nên không đặt ra xem xét giải quyết.

Đối với số thuê bao 0384699485 P khai nhận ngày 14/6/2024 P sử dụng số thuê bao trên đăng ký khi cấp đổi mật khẩu thẻ ATM, tuy nhiên sau khi sự việc phát hiện P không nhớ rõ vất bỏ số thuê tại đâu, cơ quan cảnh sát điều tra tiến hành truy tìm nhưng hiện tại vẫn chưa có kết quả.

Đối với chị Hoàng Thị B (vợ của P), chị B không biết việc P sử dụng xe mô tô 98E1-804.35 làm phương tiện đi rút tiền tại ngân hàng V, chị không được hưởng lợi gì từ việc P phạm tội nên không xử lý đối với chị B là có căn cứ.

Đối với chị Phạm Thị N và chị Khúc Thị H1 (chủ cửa hàng) là người Phong đến chuyển và rút tiền ngày 14/6/2024 chị N, chị H1 không biết số tiền đó do phạm tội mà có, không có giúp sức gì trong việc P phạm tội nên không xử lý là có căn cứ.

Đối với chị Nguyễn Thị H2 nhân viên Ngân hàng đã cấp lại mật khẩu thẻ Ngân hàng cho bị cáo P; chị H2 không biết chiếc thẻ Ngân hàng do P trộm cắp mà có và chị H2 không được hưởng lợi gì từ P; Chủ nhân của thẻ Ngân hàng (anh Q) không yêu cầu chị H2 phải bồi thường gì nên không đặt ra xem xét xử lý trách nhiệm với chị H2 là có căn cứ; Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện L đã kiến nghị với Phòng G - Ngân hàng N1 chi nhánh huyện L, Bắc Giang II xử lý trách nhiệm đối với chị H2 theo quy định.

Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí và có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

  1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; Điểm b, i, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự:
  2. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn P 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm về tội “trộm cắp tài sản".

    Giao bị cáo Nguyễn Văn P cho UBND xã G, huyện L, tỉnh Bắc Giang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

    Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

  3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
  4. Trả lại cho bị cáo Nguyễn Văn P 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda loại Wave biển kiểm soát 98E1-124.35 đã qua sử dụng;

    Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO loại K3.

  5. Về án phí và quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331; Điều 333; khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23; Điều 26 Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án:
  6. Bị cáo Nguyễn Văn P phải chịu 200.000đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

    Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

    Bị cáo, đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt hợp lệ bản án.

Án xử công khai sơ thẩm.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bắc Giang;
  • - VKSND huyện Lục Ngạn;
  • - Công an huyện Lục Ngạn;
  • - Chi cục THADS huyện Lục Ngạn;
  • - UBND xã Giáp Sơn;
  • - Bị cáo; đương sự;
  • - Lưu: VP và hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

Nguyễn Thị Linh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 107/2024/HS-ST ngày 16/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN TỈNH BẮC GIANG về trộm cắp tài sản (vụ án hình sự)

  • Số bản án: 107/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Vụ án hình sự)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: hình sự sơ thẩm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger