TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO BẰNG TỈNH CAO BẰNG Bản án số: 107/2024/HSST Ngày: 16/7/2024 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO BẰNG - TỈNH CAO BẰNG
Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lương Thị Hợp
Các hội thẩm nhân dân:
- Ông Đoàn Văn Hộ
- Ông Nguyễn Thanh Vũ
Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Ngọc Hà – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng tham gia phiên tòa: Ông Đinh Mạnh Thông - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 7 năm 2024 tại: Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 83/2024/HSST ngày 28 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 174/2024/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng đối với bị cáo:
Chu Văn Í; Tên gọi khác: không; Giới tính: Nam; Sinh ngày: 26/01/1993; N sinh: huyện H, tỉnh Cao Bằng; Hộ khẩu thường trú: xóm S, xã A, huyện H, tỉnh Cao Bằng; Chỗ ở hiện nay: Tổ C, phường Đ, thành phố C, tỉnh Cao Bằng; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Tày; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12 phổ thông; Con ông: Chu Văn M - sinh năm 1960; Con bà: Bế Thị Y - Sinh năm 1962 (cùng trú tại: xóm S, xã A, huyện H, tỉnh Cao Bằng; Có 04 anh em, bị cáo là con thứ tư trong gia đình; Vợ: Triệu Thị T - sinh năm 1995 (Trú tại: xóm S, xã A, huyện H, tỉnh Cao Bằng); Có 01 con, sinh năm 2016.
Tiền án: Không; Tiền sự: Không
Ngày 15/4/2022 bị Công an thành phố C xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Sử dụng trái phép chất ma túy;
Bị cáo hiện đang bị áp dụng biện pháp tạm giữ, tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố C, tỉnh Cao Bằng kể từ ngày 18/9/2023; Có mặt tại phiên toà.
Người bào chữa cho bị cáo: Ông Bế Kim T1 - Trợ giúp viên pháp lý - Trung Tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh C; Có mặt tại phiên toà.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Hoàng Ngọc Q - Sinh năm 1990
- Chu Phương K - sinh năm 1987
- Chu Văn V - sinh năm 1996
- Chu Văn L - sinh năm 1983
Địa chỉ: Tổ E, phường Đ, thành phố C, tỉnh Cao Bằng.
Vắng mặt tại phiên toà.
Địa chỉ: Xóm H, xã H, thành phố C, tỉnh Cao Bằng; Vắng mặt tại phiên toà.
Địa chỉ: Xóm S, xã A, huyện H, tỉnh Cao Bằng;
Vắng mặt tại phiên toà.
Địa chỉ: Tổ A, phường S, thành phố C, tỉnh Cao Bằng;
Vắng mặt tại phiên toà.
- Người làm chứng:
- Hoàng Minh T2 - sinh năm 1989
- Đoàn Việt H - sinh năm 1998
- Phan Thanh T3 - sinh năm 1991
Địa chỉ: Xóm N, xã C, huyện B, tỉnh Cao Bằng
Vắng mặt tại phiên toà.
Địa chỉ: Tổ A, phường S, thành phố C, tỉnh Cao Bằng;
Có mặt tại phiên toà.
Địa chỉ: Xóm N, xã H, thành phố C, tỉnh Cao Bằng; Có mặt tại phiên toà.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 21 giờ ngày 18/9/2023 tổ công tác cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh C đang làm nhiệm vụ tại tổ C, phường Đ, thành phố C phát hiện tại phòng trọ của Chu Văn Í (sinh năm 1993; Trú tại: tổ C, phường Đ, thành phố C) có Ích và 04 người: Hoàng Ngọc Q (sinh năm 1990; Trú tại: tổ E, phường Đ, thành phố C), Chu Phương K (sinh năm 1987; Trú tại: xóm H, xã H, thành phố C), Hoàng Minh T2 (sinh năm 1989; Trú tại: xóm N, xã C, huyện B, tỉnh Cao Bằng) và Chu Văn V (sinh năm 1996; Trú tại: xóm S, xã A, huyện H, tỉnh Cao Bằng) có biểu hiện nghi vấn phạm tội về ma túy.
Quá trình điều tra xác định: Khoảng 18 giờ ngày 15/9/2023, Chu Văn Í đến khu vực gần biên giới Trung Quốc thuộc xã T, huyện H, tỉnh Cao Bằng tìm mua ma túy về sử dụng và bán lại kiếm lời. Ích gặp và hỏi mua Heroine với một người đàn ông không quen biết 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) được 01 (một) gói Heroine gói bằng giấy bạc màu vàng. Sau khi mua được H1, Í đi về phòng trọ tại tổ C, phường Đ, thành phố C và đã sử dụng một phần. Đến khoảng 23 giờ ngày 17/9/2023 Đoàn Việt H (sinh năm 1998; Trú tại: tổ A, phường S, thành phố C) đến phòng trọ của Í hỏi mua Heroine, Í đồng ý. H đưa cho Í 170.000đ (một trăm bẩy mươi nghìn đồng), Í nhận tiền rồi bớt một phần trong số Heroine mua ngày 15/9/2023 gói vào 01 (một) gói giấy màu trắng rồi đưa cho H. Đến khoảng 01 giờ ngày 18/9/2023, Phan Thanh T3 (sinh năm 1991; Trú tại: xóm N, xã H, thành phố C) đến phòng trọ của Í hỏi mua Heroine, Í đồng ý. Do không có tiền nên T3 đã đưa cho Í 01 (một) chiếc điện thoại đi động nhãn hiệu SAM SUNG tương đương với số tiền 500.000đ (năm trăm nghìn đồng). Ích nhận chiếc điện thoại trên và đưa lại cho T3 số Heroine còn lại gói bằng giấy bạc màu vàng. Đến khoảng 18 giờ ngày 18/9/2023, Í lại đến khu vực biên giới Trung Quốc thuộc xã T, huyện H, tỉnh Cao Bằng tìm mua ma túy. Ích mua được 01 (một) gói Heroine gói bằng giấy bạc màu trắng với một người đàn ông không quen biết giá 400.000đ (bốn trăm nghìn đồng). Sau khi mua được H1, Í bớt ra một phần để sử dụng rồi đi về phòng trọ. Đến khoảng 20 giờ 30 phút ngày cùng ngày, Í về đến phòng trọ thì thấy trong phòng có Hoàng Ngọc Q, Chu Phương K, Hoàng Minh T2 và Chu Văn V. Khởi xin Ích một ít ma túy để sử dụng, Í đồng ý rồi bớt một phần Heroine vừa mua được cho K chích vào cơ thể. Sau đó, Í bớt một phần Heroine ra cho vào 01 (một) gói giấy màu trắng để trong lớp giấy dán tường cạnh cửa buồng ngủ rồi tiếp tục bớt ra một phần Heroine để hít rồi mời T2 và Q cùng sử dụng. Số H1 còn lại Í để trong túi quần đằng trước bên phải. Đến 21 giờ ngày 18/9/2023, khi Í, Q và T2 vừa sử dụng ma túy xong thì bị cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh C bắt quả tang, thu giữ toàn bộ vật chứng như đã nêu ở trên.
Hồi 10 giờ ngày 19/9/2023 cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh C tiến hành cân xác định khối lượng chất bột màu trắng thu giữ của Chu Văn Í, kết quả: Tang vật quả tang có khối lượng 0,0521g (không phẩy không năm hai một gam); Tang vật khám xét có khối lượng 0,1813 gam (không phẩy một tám một ba gam).
Ngày 19/9/2023 cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh C ra Quyết định trưng cầu giám định số 99 đối với vật chứng vụ án. Tại Bản kết luận giám định số 492 ngày 25/9/2023 của Phòng K1 Công an tỉnh C kết luận: “Hai mẫu chất bột màu trắng bên trong hai phong bì niêm phong gửi giám định là ma túy. Loại Heroine (H)”.
Hành vi của Chu Văn Í đã bị cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố C lập hồ sơ đề nghị truy tố về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự.
Tại bản Cáo trạng số 92/CT-VKSTP ngày 27/5/2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng đã truy tố bị cáo Chu Văn Í về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa bị cáo không thừa nhận hành vi phạm tội, thay đổi toàn bộ lời khai và cho rằng Cáo trạng truy tố bị cáo về hai tội là oan và đưa ra các lý do sau:
- Quá trình điều tra bị cán bộ điều tra đánh đập, ép cung, mớm cung nên khai không đúng sự thật.
- Bị cáo không được bán ma túy cho Đoàn Việt H và Phan Thanh T3, hai người này bị công an thông cung. T3 khai không thống nhất ngày mua ma túy với bị cáo, lúc thì khai ngày 16/9; lúc thì khai ngày 17/9 là ngày bị cáo không có mặt tại thành phố do đi về quê nên bị cáo không công nhận lời khai này.
- Bị cáo không được đi mua ma túy về bán như cáo trạng truy tố, không có chất ma túy trong nhà, không được cung cấp ma túy cho Q, K, Vị, T2 vì những người này đã đến nhà bị cáo từ trước. Khi bị cáo về đến nhà thì K đã sử dụng ma túy xong, ma túy bị phát hiện, thu giữ ở nhà bị cáo không phải của bị cáo mà là của Hoàng Minh T2 đem đến để làm hại bị cáo do T2 và bị cáo có mâu thuẫn cá nhân. Bị cáo không cung cấp thêm tài liệu chứng cứ gì.
Khi hội đồng xét xử hỏi bị cáo nhận thức như thế nào về hành vi của mình và có vi phạm gì không? Bị cáo trả lời biết ma túy bị pháp luật nghiêm cấm mua bán, sử dụng trái phép; bị cáo chỉ có vi phạm pháp luật do đã giao nộp gói ma túy trong túi quần nhưng gói ma túy này cũng không phải của bị cáo mà của ai đó khi công an ập đến bị cáo tiện tay đút vào túi quần. Gói ma túy trong giấy dán tường cũng không phải do T2 mang đến. Bị cáo xác nhận H, T3 và bị cáo đều quen biết, bạn bè chơi với nhau, H được đi bắt giun về bán cùng với Í và không có mâu thuẫn gì lớn.
Tại phiên tòa người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt nhưng đã có lời khai về nội dung vụ án.
Những người làm chứng Đoàn Việt H, Phan Thanh T3 giữ nguyên lời khai tại cơ quan điều tra, khẳng định được mua ma túy với Chu Văn Í 01 lần.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng tham gia phiên tòa nhận định việc bị cáo thay đổi lời khai tại phiên tòa với lý do bị ép cung là không có căn cứ, hành vi phạm tội của bị cáo đã được chính bị cáo thừa nhận và được chứng minh qua lời khai của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, những người làm chứng khác, Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo Chu Văn Í và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251, điểm b khoản 2 Điều 255, Điều 38, Điều 55 Bộ luật hình sự, tuyên bố bị cáo Chu Văn Í phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy" và “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Đề nghị xử phạt bị cáo Chu Văn Í mỗi tội từ 7 (bảy) năm 6 (sáu) tháng đến 8 (tám) năm tù. Không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị tịch thu tiêu hủy tang vật là ma túy và một số đồ vật, dụng cụ liên quan đến việc sử dụng ma túy nay không còn giá trị sử dụng đã thu giữ trong vụ án.
Về tang vật và tài sản tạm giữ: Đề nghị tịch thu phát mại sung vào công quỹ nhà nước 01 điện thoại Iphone đã qua sử dụng là phương tiện bị cáo Chu Văn Í dùng liên lạc để bán ma túy cho các con nghiện khác.
Tịch thu số tiền do bị cáo bán ma túy mà có: Bán cho Đoàn Việt H được 170.000đ; bán cho Phan Thanh T3 được 500.000đ để sung vào công quỹ nhà nước.
Về án phí và quyền kháng cáo: Thực hiện theo quy định của pháp luật.
Trả lại cho những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan tài sản đã tạm giữ là điện thoại và xe máy vì không có liên quan đến hành vi phạm tội.
Tiếp tục tạm giữ số tiền 1.810.000đ thu giữ của bị cáo để đảm bảo thi hành án.
Tại phần tranh luận, bị cáo cho rằng kêu oan nhưng không được chấp nhận nên không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát.
Người bào chữa cho bị cáo trình bày: Bị cáo sinh ra và lớn lên tại xã A cùng sâu vùng xa đặc biệt khó khăn, hiểu biết hạn chế, bị cáo nhận thức được hành vi của mình là trái pháp luật nhưng do bản thân lệ thuộc ma túy nên đã có hành vi như cáo trạng phản ánh. Đây là lần đầu bị cáo phạm tội nên xin được hưởng lượng khoan hồng của pháp luật. Bị cáo có ông nội là Chu Văn C được tặng thưởng huân chương kháng chiến Hạng Nhì. Với tư cách là người bào chữa cho bị cáo, Trợ giúp viên pháp lý không làm xấu đi tình trạng của bị cáo nên xin hội đồng xét xử xem xét đánh giá toàn diện về vụ án, phán quyết công tâm, không làm oan người không có tội và không bỏ lọt tội phạm. Đề nghị miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Khi được nói lời sau cùng, bị cáo không có ý kiến gì với Hội đồng xét xử.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
[1] Về tính hợp pháp của những chứng cứ, tài liệu do cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, Kiểm sát viên thu thập và hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố: Tại phiên tòa hôm nay bị cáo cho rằng bị cơ quan điều tra ép cung, mớm cung nên khai báo không đúng sự thật nhưng quá trình từ khi bị bắt đến nay bị cáo không có ý kiến, không có đơn khiếu nại gửi cơ quan pháp luật, khi bị cáo được thăm gặp người nhà bị cáo cũng không có phản ánh gì về sự việc này. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về các tài liệu, chứng cứ cũng như hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng; không đưa ra được tài liệu chứng cứ chứng minh nên không có cơ sở chấp nhận. Do đó, Hội đồng xét xử đánh giá cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện Kiểm sát và Kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện; các tài liệu chứng cứ đã thu thập trong hồ sơ vụ án là hợp pháp.
[2] Về tội danh: Bị cáo không nhận tội và và một mực kêu oan cả hai tội nhưng Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai của bị cáo đã được thẩm tra tại phiên tòa, xét thấy:
[2.1] Hành vi mua bán trái phép chất ma túy của bị cáo được chứng minh bởi các chứng cứ sau:
Tại bản tường trình (bút lục số 96) ngày 19/9/2023 bị cáo tự viết: Khoảng 18h ngày 18/9/2023 tôi có đi xe máy mang biển kiểm soát 29E1 - 38447 đi chuyển từ nhà ở xóm S, A, hạ L, tỉnh Cao Bằng đến khu vực mốc 34 thuộc xã T huyện H để mua 4.000.000đ heroin về sử dụng. Khi đến phòng trọ tại số nhà E, tổ C, phường Đ tôi có bỏ heroine ra cắt làm nhiều hạt nhỏ. Sau đó tôi đưa cho Chu Phương K một ít để sử dụng rồi tôi di chuyển ra ngoài phòng khách của phòng trọ. Tôi đặt gói Heroine còn lại xuống mặt bàn rồi tôi bỏ vào giấy bạc để hít. Sau khi hít được 2 hơi thì tôi hỏi anh Hoàng Minh T2 có chơi không? Anh Hoàng Minh T2 trả lời là anh không chơi nên tôi tiếp tục đốt thêm hai lần nữa gần hết rồi tôi đặt xuống mặt bàn. Tôi dậy xới cơm ăn nên không để ý anh Q có cầm vào chơi không nữa.
Tại bản tường trình ngày 22/9/2023: Tôi Ích công nhận được bán ma túy cho những người sau:
Đoàn Việt H, sinh năm 1998 (quê quán phường S, thành phố C) nhiều lần, cụ thể:
- Lần một: Khoảng 23 giờ ngày 16/9/2023 hôm đó tôi vừa đi Thái Nguyên về H đến phòng trọ của tôi ở Phường Đ để hỏi mua ma túy, tôi bán cho H 01 tép Heroine giá 170.000đ
- Lần hai: Cách lần một khoảng một tuần tôi có bán cho H một tép Heroine giá 130.000đ ở ngoài đường gần phòng trọ của tôi.
Ngoài ra cách lần một khoảng hai tuần trở về trước H có đi bắt giun cho tôi, để Hoàng đỡ mệt tôi cho H dùng chung ma túy và một lần đưa cho H trước khi đi.
Phan Thanh T3 sinh năm 1990 nhà ở N, H, thành phố C, T3 vừa đi tù về tôi được bán cho T3 một lần vào buổi tối ngày 16/9/2023. T3 cắm điện thoại ở chỗ tôi để lấy ma túy số tiền tương đương 500.000đ.
Ngoài ra tại các biên bản ghi lời khai ngày 22/9/2023 Í cũng trình bày nội dung tương tự, thừa nhận được bán ma túy cho H và T3 (T3 cắm điện thoại ở chỗ tôi để lấy ma túy tương đương số tiền 500.000đ); được đưa ma túy cho nhiều người sử dụng nhiều lần và cũng cho những người này người sử dụng trái phép ma túy trong phòng trọ nhiều lần nhưng do thời gian đã lâu bị cáo không nhớ cụ thể.
Tại các biên bản hỏi cung bị can ngày 13/4/2024 (bút lục số 172) và ngày 14/4/2023 (bút lục số 174) có sự tham gia của Trợ giúp viên pháp lý và Kiểm sát viên, Chu Văn Í vẫn khai nhận: Tôi bị cơ quan điều tra khởi tố về tội Mua bán trái phép chất ma túy và tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy tôi không có ý kiến gì. Việc tôi làm tôi nhận và xin chịu trách nhiệm trước pháp luật. Tại biên bản này Í vẫn thừa nhận được bán ma túy cho 02 người là H và T3 với các chi tiết về số lượng, giá cả, địa điểm và thời gian như lời khai ban đầu và phù hợp với lời khai của 02 người làm chứng. Bị cáo cũng thừa nhận chiếc điện thoại này sau đó T3 đã chuộc lại nhưng bị cáo không nhớ chính xác thời gian.
Tôi được đưa ma túy cho 03 người sử dụng tại phòng trọ của tôi vào ngày 18/9/2023, cụ thể khoảng 20h30 tôi đã đưa ma túy cho K sử dụng bằng hình thức tiêm chích ngay trong phòng trọ của tôi. Sau đó tôi mang heroine ra đốt hít và mời T2, Q cùng sử dụng.
Tuy nhiên tại biên bản đối chất ngày 15/4/2024 giữa bị cáo và Phan Thanh T3, có sự tham gia của Kiểm sát viên và Trợ giúp viên pháp lý bị cáo không công nhận được bán ma túy cho T3, chỉ thừa nhận được cầm điện thoại để làm tin khi cho T3 vay tiền và không ký vào biên bản đối chất, không ký khi được giao cáo trạng.
Mặc dù bị cáo không thừa nhận được mua ma túy về sử dụng và bán, không được bán cho H và T3 nhưng bị cáo không giải thích được lý do tại sao thay đổi lời khai, không cung cấp được tài liệu chứng cứ để chứng minh cho lời trình bày của mình.
Về lý do cho là bị ép cung, mớm cung và hai người làm chứng thông cung thấy rằng: Suốt quá trình từ khi bị bắt quả tang đến 13/4/2024 bị cáo khai thống nhất kể cả khi có mặt Kiểm sát viên và trợ giúp viên pháp lý. Bị cáo không lần nào có đơn thư khiếu nại về các quyết định, hành vi tố tụng như đã phân tích ở trên. Bị cáo cho rằng T3 khai về thời gian mua ma túy với bị cáo không đúng, việc bị cáo cầm điện thoại của T3 là để làm tin cho T3 vay tiền. Nhưng tại phiên tòa Phan Thanh T3 cũng khai không nhớ rõ thời gian mua một tép Heroine với Í là ngày 16 hay 17/9/2023 nhưng khẳng định mua số ma túy tương đương 500.000đ đã được chuộc lại chiếc điện thoại là phù hợp với lời khai của Í, Í khai T3 đã chuộc lại chiếc điện thoại, việc mua ma túy với Í là có thật, T3 không có lý do gì để bịa đặt việc này.
Đoàn Việt H khẳng định trước đây khai mua ma túy với Ích 02 lần là do nhớ nhầm, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa đều khẳng định được mua ma túy với Ích 01 lần, thời gian là trước khi bị bắt khoảng 01 tuần. Tại bản tường trình của bị cáo ngày 19/9/2023 bị cáo tự khai ra được bán ma túy cho H và T3 nên cơ quan điều tra mới triệu tập những người này để lấy lời khai thì họ khai báo phù hợp với lời nhận tội của bị cáo về số lượng (01 tép), giá cả (170.000đ và 130.000đ) và địa điểm (đến phòng trọ, trước phòng trọ), thời gian mua bán ma túy (ngày 17/9; ngày 18/9/2023) chứng tỏ bị cáo và H, T3 đã có hành vi mua bán ma túy mới có thể khai báo trùng hợp nhau đến từng chi tiết như vậy (điện thoại của T3 đặt với Í là loại samsung đã cũ, số ma tuý T3 mua tương đương 500.000đ; T3 đã chuộc lại điện thoại).
Hơn nữa, hai người làm chứng này và bị cáo không hề mâu thuẫn gì với nhau, tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa họ vẫn giữ nguyên lời khai được mua ma túy với bị cáo nên lời khai của H và T3 có giá trị chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo. Lời chối tội của bị cáo là không có căn cứ chấp nhận mà có đủ cơ sở kết luận Chu Văn Í đã có hành vi bán ma túy trái phép cho hai người: Khoảng 23 giờ ngày 17/9/2023 Chu Văn Í bán cho Đoàn Việt H (một) gói Heroine với giá 170.000đ (một trăm bẩy mươi nghìn đồng) và khoảng 01 giờ ngày 18/9/2023, cũng tại phòng trọ, Í bán cho Phan Thanh T3 01 (một) gói Heroine tương đương với số tiền 500.000đ (năm trăm nghìn đồng) thu được tổng cộng 670.000đ.
[2.2] . Về hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
Bị cáo không thừa nhận được đưa ma túy cho K, Q, T2 và V sử dụng tại chỗ ở của bị cáo và cho rằng Hoàng Minh T2 mang ma túy đến để làm hại bị cáo, gói ma túy trong giấy dán tường không phải của bị cáo nhưng cũng tương tự như đối với tội mua bán trái phép chất ma túy bị cáo không lý giải được lý do thay đổi lời khai và suốt qua trình điều tra không lần nào có lời khai về việc ma túy là của Hoàng Minh T2, tại phiên tòa bị cáo cũng không đưa ra được tài liệu chứng cứ nào khác.
Ngoài ra, hành vi phạm tội của bị cáo còn được chứng minh bởi các tài liệu chứng cứ sau:
Tại biên bản bắt người phạm tội quả tang hồi 21h00 ngày 18/9/2023 (bút lục 35-36) có nội dung: “Đối tượng Chu Văn Í đã tự nguyện giao nộp một gói giấy bạc bao thuốc lá màu trắng được lấy từ túi quần đằng trước, bên phải Í đang mặc. Mở gói giấy bạc ra bên trong có các cục bột màu trắng Í khai nhận đó là H1 của Í.
Tôi Chu Văn Í công nhận một gói giấy bạc bao thuốc lá màu trắng bên trong chứa chất bột màu trắng tôi giao nộp cho cơ quan điều tra là ma túy tôi mua về để bản thân sử dụng”.
Tại Biên bản khám xét (bút lục số 38): Phát hiện bên trong giấy dán tường cạnh cửa vào buồng ngủ của Í một gói nhỏ bằng giấy trắng, mở lớp giấy trắng ra bên trong có chất bột màu trắng nghi là H1.
Chu Văn Í trình bày về những đồ vật bị tạm giữ: Hai chiếc kim tiêm và hai lọ nước cất là của Chu Phương K;
Chiếc dao lam, hai mảnh giấy màu vàng là của tôi dùng để cạo và gói H1. ...Gói giấy màu trắng chứa chất bột màu trắng không phải của tôi”.
Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bị bắt quả tang khi vừa có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy tại chỗ ở của Ích tại tổ C, phường Đ khai như sau:
Tại Biên bản ghi lời khai bút lục số 124 (22h50 ngày 18/9/2023): Quyết khai: Khoảng 20h40 ngày 18/9/2023 tôi cùng Chu Văn V, T2, K, Í đang ngồi ăn cơm tại trong phòng thuê trọ của Í tại tổ C, phường Đ, thành phố C, trong lúc đang ăn cơm có nhìn thấy Chu Văn Í có cầm một gói ma túy trong tay đưa ra mời mọi người cùng sử dụng ma túy, sau đó Í quay mặt sang mời T2 sử dụng ma túy tôi nhìn thấy chất ma túy Ích đã để sẵn trong giấy bạc đặt trên bàn cạnh Í, tôi có dùng tay với lấy ma túy và dùng bật lửa châm đốt lên bốc khói tôi hít một hơi vào mồm đi theo đường hô hấp, lúc đó có ai nhìn thấy tôi sử dụng ma túy không thì tôi không rõ. Lúc đó tôi vừa đặt xuống bàn tại vị trí cũ gần trước mặt Ích thì bị cơ quan cảnh sát điều tra phát hiện bắt quả tang và lập biên bản...
Tại Biên bản ghi lời khai hồi 23h10 ngày 18/9/2013 (bút lục số 131) Hoàng Minh T2 khai: “Do hôm trước là ngày 17/9/2023 tôi và Í có hẹn nhau ăn nhậu nên hôm nay tôi mang khoảng 3kg cá rô đánh bắt ở hồ khuổi lái đến phòng trọ của Í ở số nhà E, ngõ A, tổ C, phường Đ, thành phố C. Khi đến nơi khoảng 15h không thấy Í ở phòng, tôi gọi điện và được biết Í đang về quê ở H chuẩn bị ra thành phố C. Tôi ngồi chơi tại phòng Ích, khi đó có Vị (em họ Í), một lúc sau có K và Q cũng đến chơi. Đến khoảng 19h30 thì Í về đến phòng trọ, tôi lấy xe máy của mình đi ra ngoài mua rượu. Khoảng 10 phút quay trở về tôi có từ gian phòng ngoài bước vào gian phòng trong của Í để gọi mọi người ra ngoài cùng uống rượu thì thấy Í đang ngồi ở giường, mở cánh tủ quần áo ngồi loay hoay một lúc và đưa ma túy cho K. K đưa từ trong tay ra một bơm kim tiêm pha chế để chích vào tay ngay tại chỗ ngồi gần cửa ra vào nhà vệ sinh. Khi đó ngoài tôi ra thì không có ai nhìn thấy.
...Trong khi đang ngồi ăn cơm uống rượu thì Í mang trong buồng ra 01 gói nhỏ là giấy bạc, bên trong chứa ma túy (heroine) rồi bật lửa ga hơ nóng đưa lên mồm để hít và đưa cho tôi đang ngồi bên tay phải Í và nói ‘Chơi đi”, đồng thời châm lửa đốt giấy bạc chứa heroine hướng về phía miệng tôi, tôi há miệng hút vào một hơi, thấy đắng quá nên tôi có nói; “Không chơi đâu”. Sau đó Í lại đưa sang bên tay trái mời Quyết hít, Q hít xong Í cầm lấy tờ giấy bạc chứa ma túy xuống bàn ăn, bên tay phải trước mặt Í thì công an đến bắt quả tang”.
Tại Biên bản lấy lời khai 22h10' ngày 18/9/2023 (bút lục số 134) Chu Văn V khai: “...Lúc đó tôi cùng Hoàng Ngọc Q, anh K, anh T2, cả 05 người chúng tôi đang ngồi ăn cơm Chu Văn Í lấy ma túy từ đâu ra tôi không nhìn rõ, tôi nhìn thấy Í lấy 02 gói ma túy cầm trong tay đưa ra mời mọi người cùng sử dụng nhưng tôi chưa kịp sử dụng thì bị công an phát hiện bắt quả tang...”
Tại biên bản ghi lời khai hồi 23h30 ngày 18/9/2023 (bút lục số 141) Chu Phương K khai: “Khoảng 16h ngày 18/9/2023 tôi có gọi điện cho Í để hỏi đã ra thành phố chưa, Í bảo là tối nay ra...Khoảng 18h30 tôi một mình điều khiển xe máy đến phòng trọ của Í, đến nơi tôi thấy trong nhà có T2, V đang ở đó. Vị đang nấu cơm. Tôi ngồi uống nước một lúc rồi vào giường bên trong đi ngủ, chờ bao giờ Í từ Hạ L1 ra thì sẽ cùng nhau uống rượu ăn cơm. Ngủ được khoảng 02 tiếng thì Í đến tôi có nói với Í là anh mệt quá, còn rượu không, (ý bọn tôi gọi từ lóng “rượu” là ma túy). Ích trả lời là “em còn một ít, chơi xong ra uống rượu với mấy anh em” rồi Í mở tủ đưa cho tôi một gói giấy trắng được gấp lại, bên trong có ma túy (heroine), tôi cầm lấy rồi dùng nước cất, xi lanh (tôi chuẩn bị từ trước) pha ma túy rồi sử dụng bằng cách tiêm chích. Tôi sử dụng xong khoảng 2 - 3 phút thì cũng ra bàn ngoài phòng khách uống rượu ăn cơm với mọi người, lúc tôi ra đến nơi thì thấy trên tay của Í đang cầm gói giấy bạc đựng ma túy đã vo viên vừa mới đốt xong. Tôi không biết là ai vừa mới hút ma túy xong vì tất cả trong nhóm chỉ mình tôi dùng ma túy bằng cách tiêm chích. Đang ngồi một lúc thì cơ quan công an ập vào lập biên bản bắt quả tang, phát hiện trên tay Í vẫn còn đang cầm ma túy”.
Như vậy, lời khai của những người có mặt khi sự việc bị phát hiện phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với các vật chứng thu giữ tại thời điểm bắt quả tang và khi khám xét chỗ ở đã thu giữ tổng cộng 0,2334 g heroin, các dụng cụ sử dụng ma tuý, xi lanh kim tiêm đã qua sử dụng của Chu Phương K, lưỡi dao lam, bật lửa, giấy bạc gói chất ma tuý... Có đủ căn cứ kết luận khoảng 20 giờ 30 phút ngày 18/9/2023, Í đã cung cấp H1 cho Hoàng Ngọc Q, Chu Phương K và Hoàng Minh T2 và cho những người này sử dụng tại phòng trọ của bị cáo.
Tại Bản kết luận giám định số 492 ngày 25/9/2023 của Phòng K1 Công an tỉnh C kết luận: “Hai mẫu chất bột màu trắng bên trong hai phong bì niêm phong gửi giám định là ma túy. Loại Heroine (H)”.
Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội và vi phạm pháp luật nhưng do cần có ma tuý để sử dụng và thu lời bất chính bị cáo vẫn thực hiện với lỗi cố ý nên phải chịu trách nhiệm hình sự. Hành vi của bị cáo cho các con nghiện đi bắt giun thuê cho bị cáo sử dụng ma tuý như một hình thức trả công, bán cho các con nghiện khác như H và T3 để kiếm lời, cung cấp trái phép chất ma tuý cho nhiều người khác sử dụng tại chỗ ở của mình là tiếp tay cho tệ nạn ma tuý, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự xã hội ở địa phương, xâm phạm đến chính sách pháp luật của nhà nước về việc quản lý các chất ma túy.
Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội "Mua bán trái phép chất ma túy” với tình tiết định khung “Phạm tội từ hai lần trở lên” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự và đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” với tình tiết “đối với 02 người trở lên” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng truy tố bị cáo về tội danh và điều luật đã viện dẫn là có căn cứ, đúng pháp luật, không oan.
[3] Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo là người có nhân thân xấu, ngày 15/4/2022 bị cáo bị Công an thành phố C xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Sử dụng trái phép chất ma túy nhưng không tỏ ra tiến bộ mà tiếp tục phạm 02 tội với tính chất rất nghiêm trọng, ban đầu bị cáo thành khẩn nhận tội nhưng trước khi kết thúc điều tra, truy tố và tại phiên toà bị cáo chưa thành khẩn khai báo nên không được hưởng tình tiết giảm nhẹ “Người phạm tội thành khẩn khai báo” quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
[4] Về hình phạt: Căn cứ tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo và lời bào chữa của trợ giúp viên pháp lý thấy rằng: Bị cáo có ông nội là Chu Văn L2 được tặng thưởng huân chương kháng chiến hạng nhì, sinh ra và lớn lên tại vùng sâu, vùng xa đặc biệt khó khăn nên nhận thức phần nào hạn chế, lần đầu phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử đánh giá toàn diện, khách quan các tài liệu chứng cứ để áp dụng mức hình phạt phù hợp thấy rằng bị cáo không có các tình tiết tăng nặng theo quy định tại khoản 1 Điều 52, không có tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Xét thấy bị cáo chưa có tiền án tiền sự, bị truy tố xét xử về hai tội danh với khung hình phạt từ 7-15 năm tù, hình phạt viện kiểm sát đề nghị cả hai tội đều trên mức khởi điểm của khung hình phạt trong khi bị cáo không có tình tiết tăng nặng là có phần nặng nên cần chấp nhận một phần nội dung bào chữa của Trợ giúp viên pháp lý, xem xét toàn diện khách quan các tình tiết của vụ án, đánh giá đúng tính chất mức độ hành vi phạm tội để có mức hình phạt tương xứng với tính chất mức độ của hành vi phạm tội; đủ nghiêm khắc để cải tạo giáo dục bị cáo và đảm bảo tính răn đe, phòng ngừa tội phạm ma túy nói chung
Xét bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, không có nghề nghiệp và thu nhập nên không nhất thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[5] Về xử lý vật chứng, tài sản tạm giữ
Ma tuý đã thu giữ trong vụ án là chất nhà nước cấm lưu hành, cần tịch thu tiêu huỷ.
Các dụng cụ, đồ vật liên quan đến việc sử dụng chất ma tuý đã thu giữ không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu huỷ.
Điện thoại Iphone màu hồng thu giữ của bị cáo Chu Văn Í đã dùng liên lạc với H và T3 để bán ma tuý, cần tịch thu phát mại sung công quỹ nhà nước.
Số tiền 670.000đ do bị cáo bán ma tuý cho H và T3 mà có cần tịch thu sung vào công quỹ.
Trả lại cho bị cáo số tiền 1.810.000đ đã thu giữ vì không liên quan đến hành vi phạm tội nhưng cần tạm giữ để đối trừ các khoản tiền phải thi hành án, số tiền còn lại sẽ hoàn trả cho bị cáo.
Trả lại cho những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan các tài sản không có liên quan đến hành vi phạm tội như sau:
- Trả lại cho Chu Phương K 01 (một) điện thoại di động màn hình cảm ứng nhãn hiệu Redmi mặt sau màu xanh có số IMEI (Theo quyết định chuyển vật chứng): 868931043176111, điện thoại cũ đã qua sử dụng. Do điện thoại không khởi động được nên không kiểm tra thực tế được số IMEI trong máy;
- Trả lại cho Chu Văn V 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE nắp lưng màu trắng bạc, điện thoại cũ đã qua sử dụng. Do điện thoại không khởi động được nên không kiểm tra được số IMEI trong máy.
- Trả lại cho Hoàng Ngọc Q 01(một) điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE nắp lưng màu tím đã bị nứt vỡ, có số IMEI (Theo quyết định chuyển vật chứng): 356579100608747, điện thoại cũ đã qua sử dụng. Do điện thoại không khởi động được nên không kiểm tra thực tế được số IMEI trong máy.
- Trả lại cho Chu Văn L 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda, biển kiểm soát 29 E1 - 384.47. Số khung: RLHHA0807AY241853, số máy HA08E – 1541900. Qua kiểm tra thực tế khi nhận: Xe cũ đã qua sử dụng, xe không có gương chiếu hậu, do xe đã cũ nên một số bộ phận của xe đã bị han gỉ. Xe có số khung số máy trùng khớp với phiếu trả lời xác minh xe ngày 15/7/2024 của Công an thành phố C cung cấp (Có 01 chìa khóa xe kèm theo).
[6] Về nguồn gốc số Heroine bị thu giữ, bị cáo Chu Văn Í khai được mua với một người đàn ông không quen biết, việc trao đổi mua bán ma túy không có ai biết, cơ quan cảnh sát điều tra đang tiếp tục xác minh, nếu có căn cứ sẽ xử lý theo quy định của pháp luật.
[7] Về án phí: Bị cáo có đơn xin miễn án phí với lý do có hộ khẩu ở xã vùng III đặc biệt khó khăn nhưng xét thấy bị cáo hiện nay đang tạm trú trên địa bàn thành phố, đang trong độ tuổi lao động, phạm 02 tội rất nghiêm trọng nên không chấp nhận. Để đảm bảo tính nghiêm minh của luật đối với tội phạm ma tuý, cần buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm để sung vào công quỹ nhà nước.
[8] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
[9] Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng tại phiên tòa về tội danh, xử lý vật chứng, tài sản tạm giữ là đúng pháp luật, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Áp dụng: Điểm b khoản 2 Điều 251, điểm b khoản 2 Điều 255; Điều 38, Điều 55 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tuyên bố: Bị cáo Chu Văn Í phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
Xử phạt: bị cáo Chu Văn Í 07 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và 07 năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt của cả hai tội là 14 năm tù. Thời gian chấp hành án phạt tù được tính kể từ ngày 18/9/2023 .
2. Về xử lý vật chứng
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, xử:
Tịch thu tiêu hủy:
- 01 (một) phong bì niêm phong, mặt trước ghi: “Số 492/KL - KTHS. Hoàn mẫu sau giám định vụ Chu Văn Í, có hành vi: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” (Kèm theo Kết luận giám định số: 492/KL - KTHS, ngày 25/9/2023 của Phòng K1 Công an tỉnh C).
- 02 (hai) bơm kim tiêm đã qua sử dụng;
- 02 (hai) lọ nước cất chưa qua sử dụng;
- 02 (hai) mảnh giấy bạc màu vàng;
- 02 (hai) mảnh giấy bạc màu trắng;
- 01 (một) lưỡi dao lam đã qua sử dụng;
- 03 (ba) ống nhựa màu trắng (ống hút đã qua sử dụng);
- 02 (hai) ống kim loại màu bạc;
- 01 (một) ống kim loại màu vàng;
- 01 (một) nắp chai màu đỏ, bên trên đục 02 lỗ nhỏ;
- 05 (năm) mảnh giấy bạc màu trắng;
- 02 (hai) chiếc bật lửa màu đỏ han gỉ, đã qua sử dụng;
- 01 (một) chiếc bật lửa màu vàng han gỉ, đã qua sử dụng;
Tịch thu của bị cáo Chu Văn Í để phát mại sung công quỹ nhà nước 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE, mặt sau màu hồng, có số IMEI (Theo quyết định chuyển vật chứng) 353112101385355, điện thoại cũ đã qua sử dụng, màn hình bị nứt vỡ. Do điện thoại không khởi động được nên không kiểm tra thực tế được số IMEI trong máy
Tịch thu sung vào công quỹ nhà nước số tiền 670.000đ do bị cáo phạm tội mà có.
Trả lại cho bị cáo số tiền 1.810.000đ đã thu giữ trong 01 (một) phong bì niêm phong, mặt trước ghi “Tiền Việt Nam: 1.810.000 đ (Một triệu tám trăm mười nghìn đồng), Chu Văn Í, SN : 1993; HKTT: Xóm S, xã A, huyện H, tỉnh Cao Bằng (Kèm theo kết luận giám định số 345/KL – KTHS, ngày 18/6/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh C) nhưng tiếp tục tạm giữ để đối trừ các khoản tiền phải thi hành án, số tiền còn lại sẽ hoàn trả cho bị cáo.
Trả lại cho những có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan các tài sản không có liên quan đến hành vi phạm tội như sau:
- Trả lại cho Chu Phương K 01 (một) điện thoại di động màn hình cảm ứng nhãn hiệu Redmi mặt sau màu xanh có số IMEI (Theo quyết định chuyển vật chứng): 868931043176111, điện thoại cũ đã qua sử dụng. Do điện thoại không khởi động được nên không kiểm tra thực tế được số IMEI trong máy;
- Trả lại cho Chu Văn V 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE nắp lưng màu trắng bạc, điện thoại cũ đã qua sử dụng. Do điện thoại không khởi động được nên không kiểm tra được số IMEI trong máy.
- Trả lại cho Hoàng Ngọc Q 01(một) điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE nắp lưng màu tím đã bị nứt vỡ, có số IMEI (Theo quyết định chuyển vật chứng): 356579100608747, điện thoại cũ đã qua sử dụng. Do điện thoại không khởi động được nên không kiểm tra thực tế được số IMEI trong máy.
- Trả lại cho Chu Văn L 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda, biển kiểm soát 29 E1 - 384.47. Số khung: RLHHA0807AY241853, số máy HA08E – 1541900. Qua kiểm tra thực tế khi nhận: Xe cũ đã qua sử dụng, xe không có gương chiếu hậu, do xe đã cũ nên một số bộ phận của xe đã bị han gỉ. Xe có số khung số máy trùng khớp với phiếu trả lời xác minh xe ngày 15/7/2024 của Công an thành phố C cung cấp (có 01 chìa khóa xe kèm theo).
Xác nhận vật chứng của vụ án đã được chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng theo Biên bản giao, nhận vật chứng số 136 ngày 15/7/2024.
3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Bị cáo Chu Văn Í phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm để sung công quỹ Nhà nước.
4. Về quyền kháng cáo: Áp dụng khoản 1 Điều 331, khoản 1, 3 Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
Án xử công khai sơ thẩm. Bị cáo có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo phần của bản án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lương Thị Hợp |
Bản án số 107/2024/HSST ngày 16/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO BẰNG - TỈNH CAO BẰNG về hình sự (mua bán trái phép chất ma túy và tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy)
- Số bản án: 107/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Mua bán trái phép chất ma túy và Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO BẰNG - TỈNH CAO BẰNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Chu Văn Í phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
