Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

HUYỆN CẨM MỸ

TỈNH ĐỒNG NAI

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

—————————

Bản án số: 107/2023/HS-ST

Ngày: 15/11/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẨM MỸ, TỈNH ĐỒNG NAI

  • - Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
  • - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Khuyên.
  • - Các Hội thẩm nhân dân:
    1. Ông Nguyễn Văn Ba
    2. Bà Lại Thị Thúy Hằng
  • - Thư ký phiên tòa: Bà Đoàn Thị Bích, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cẩm Mỹ, tỉnh Đồng Nai.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Mỹ, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Chinh - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 11 năm 2023, tại Tòa án nhân dân huyện Cẩm Mỹ, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 113/2023/TLST-HS ngày 06 tháng 10 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 115/2023QĐXXST-HS ngày 24 tháng 10 năm 2023, đối với bị cáo:

Trịnh T, sinh năm 1973 tại Thành phố Hồ Chí Minh; Tên gọi khác: không; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: ấp T, xã X, huyện C, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: thợ hồ; Trình độ văn hóa (học vấn): 2/12; Dân tộc: kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trịnh T1 sinh năm 1946 (đã chết) và bà Bùi Thị M, sinh năm 1951 (còn sống); gia đình có 09 anh chị em, bị cáo là con lớn nhất trong gia đình; H và tên vợ tên: Hoàng Thị Mỹ L, sinh năm 1977 và có 03 người con, lớn nhất sinh năm 1994, nhỏ nhất sinh năm 1998; Tiền án, tiền sự: không có.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 26/4/2023 đến ngày 28/4/2023 tại Nhà tạm giữ Công an huyện C. Từ ngày 08/6/2023 được áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ cho đến nay.

(bị cáo có mặt tại phiên tòa).

  • * Người bị hại: chị Trịnh Thị Mỹ P, sinh năm 1984 (vắng mặt).
  • Địa chỉ: ấp T, xã X, huyện C, tỉnh Đồng Nai.
  • * Người làm chứng:
    1. Anh Trịnh Thanh T2, sinh năm 1988 (vắng mặt).
    2. Địa chỉ: ấp T, xã X, huyện C, tỉnh Đồng Nai.
    3. Chị Hoàng Thị Mỹ L, sinh năm 1977 (vắng mặt).
    4. Địa chỉ: ấp T, xã X, huyện C, tỉnh Đồng Nai.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bị cáo Trịnh T là anh ruột của chị Trịnh Thị Mỹ P, sinh năm 1984, thường trú: ấp T, xã X, huyện C, tỉnh Đồng Nai, 02 nhà ở sát bên nhau. Khi trời mưa, mái tôn nhà chị P chảy nước sang mái tôn nhà T. Khoảng 15 giờ ngày 26/4/2023, Trịnh T leo lên mái tôn nhà chị P để sửa chữa, mục đích ngăn không cho nước chảy từ mái tôn nhà P sang mái tôn nhà T nhưng P không đồng ý dẫn đến cự cải với nhau. Do bực tức, bị cáo T cầm dao, loại dao rựa chạy sang nhà để đánh P. Lúc này P chạy vào nhà lấy 01 con dao ra để đánh lại T. Khi 02 bên xông vào đánh nhau, T đã chém 01 nhát trúng tay chị P làm đứt lìa 01 ngón tay trên bàn tay trái của P. Sau đó P được đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện C.

Tại Bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 3053/KLTTCT-C09B và số 3054/KLTTCT-C09B ngày 18/5/2023 của Phân viện khoa học hình sự tại thành phố Hồ Chí Minh kết luận thương tích của Trịnh Thị Mỹ P như sau:

  1. Các kết quả chính:
    • Mỏm cụt ngón V (mất trọn ngón V) bàn tay trái.
    • Vết thương ngón IV, kích thước nhỏ.
    • Gãy đốt 1, đốt 2 ngón IV tay trái.
    • 03 vết trầy xước da vùng cánh tay trái.
  2. Kết luận:

Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT, ngày 28.8.2019 của Bộ trưởng Bộ Y, xác định tỉ lệ phần trăm tổn thương cơ thể từng thương tích như sau:

  • Mỏm cụt ngón V (mất trọn ngón V) bàn tay trái: 07% (C, Mục VI.5.5.6).
  • Vết thương ngón IV, kích thước nhỏ: 01% (Chương 8, Mục I.1).
  • Gãy đốt 1 ngón IV tay trái: 02% (C, Mục VI.7.2).
  • Gãy đốt 2 ngón IV tay trái: 01% (C, Mục VI.7.3).
  • 03 vết trầy xước da vùng cánh tay trái, mỗi vết: 0,5% (C, Mục V).

Áp dụng phương pháp cộng tại thông tư, xác định tỉ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Trịnh Thị Mỹ P tại thời điểm giám định là: 12% (Mười hai phần trăm).

Thương tích trên người của Trịnh Thị Mỹ P có đặc điểm phù hợp do vật sắc, vật có cạnh sắc tác động gây ra.

Nguyên nhân phạm tội là do mâu thuẫn trong cuộc sống, bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội.

* Về vật chứng vụ án:

  • 01 (một) con dao, loại dao rựa, cân bằng tre dài 40cm; lưỡi dao bằng kim loại dài 30cm, dạng lưỡi cong. Đây là con dao của Trịnh T sử dụng để làm rẫy, Trịnh T sử dụng con dao trên gây thương tích cho Trịnh Thị Mỹ P.
  • 01 (một) con dao dài 60cm, lưỡi dao bằng kim loại, dài 30cm; cân bằng gỗ tròn dài 10cm. Đây là con dao của Trịnh Thị Mỹ P, sau khi P bị Trịnh T đánh, P lấy con dao trên ra để đánh lại T nhưng chưa thực hiện được.
  • 01 (một) đoạn video dài 01 phút 10 giây ghi lại diễn biến việc Trịnh T gây thương tích cho Trịnh Thị Mỹ P.

* Về trách nhiệm dân sự:

Bị cáo Trịnh T đã bồi thường cho chị Trịnh Thị Mỹ P số tiền 30.000.000₫ (ba mươi triệu) đồng. Hiện chị P làm đơn bãi nại và xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự cho bị cáo và không có yêu cầu bồi thường gì thêm.

Tại bản Cáo trạng số: 110/CT-VKSCM ngày 05 tháng 10 năm 2023 Viện kiểm sát nhân dân huyện C đã truy tố bị cáo Trịnh T về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Mỹ giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Trịnh T về tội danh, khung hình phạt, điều luật áp dụng như cáo trạng đã nêu, đồng thời đề nghị áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo đã bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả. Bị hại cũng có một phần lỗi; đã làm đơn bãi nại và xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự cho bị cáo, hiện tại bị cáo đang bị nhiều bệnh cần phải điều trị như bệnh suy tim, huyết áp, dạ dày. Do đó, áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm s, b khoản 1, 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật hình sự của Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017) xử phạt bị cáo Trịnh T mức án từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách gấp đôi.

  • - Về trách nhiệm dân sự: đã giải quyết xong đề nghị không xem xét.
  • - Về vật chứng: đề nghị tịch thu tiêu hủy 01 (một) con dao, loại dao rựa, cân bằng tre dài 40cm; lưỡi dao bằng kim loại dài 30cm, dạng lưỡi cong là hung khí mà bị cáo dùng vào việc phạm tội và 01 (một) con dao dài 60cm, lưỡi dao bằng kim loại, dài 30cm; cân bằng gỗ tròn dài 10cm. Đây là con dao của Trịnh Thị Mỹ P, sau khi P bị Trịnh T đánh, P lấy con dao trên ra để đánh lại T nhưng chưa thực hiện được.

Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng đã mô tả, bị cáo trình bày ý kiến tranh luận thống nhất với mức án do Đại diện viện kiểm sát đã đề nghị và không tranh luận gì thêm. Bị cáo nói lời sau cùng nhận thức hành vi của mình là vi phạm pháp luật, ăn năn hối cải và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện C, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Mỹ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về xác định tội phạm: Tại phiên toà bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, bị cáo khai nhận khoảng 15 giờ 00 phút 26/4/2023, tại nhà của chị Trịnh Thị Mỹ P thuộc ấp T, xã X, huyện C, tỉnh Đồng Nai bị cáo Trịnh T đã có hành vi dùng con dao rựa chém trúng tay chị P làm đứt lìa 01 ngón tay trên bàn tay trái của chị P gây thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 12%.

Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa trùng khớp với lời khai ban đầu, phù hợp với lời khai người bị hại, người làm chứng cũng như các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án và bản kết luận giám định tổn thương cơ thể số: 3053/KLTTCT – C09B và số 3054/ KLTTCT – C09B ngày 18/5/2023 của Phân viện khoa học hình sự Thành phố Hồ Chí Minh. Hành vi do bị cáo thực hiện đã đủ yếu tố cấu thành tội “cố ý gây thương tích", tội danh và hình phạt quy định tại điểm a khoản 1 và điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự. Do đó, Cáo trạng số 110/CT-VKSCM ngày 05 tháng 10 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Mỹ truy tố bị cáo theo tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Xét tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo nhận thấy:

Hành vi phạm tội của bị cáo đã trực tiếp xâm hại đến quyền được bảo hộ về sức khỏe của công dân. Khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, đầy đủ nhận thức và năng lực hành vi dân sự, bị cáo nhận thức được hành vi xâm phạm đến sức khỏe của người khác là vi phạm pháp luật. Đáng lẽ, khi hai bên xảy ra mâu thuẫn nhỏ thì bị cáo nên hành xử theo một cách khác nhưng bị cáo lại chọn con đường bạo lực và gây thương tích cho bị hại. Lỗi của bị cáo trong vụ án này là lỗi cố ý trực tiếp. Chứng tỏ bị cáo xem thường tính mạng, sức khỏe của bị hại, hành vi của bị cáo còn gây ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương.

Xét nguyên nhân, điều kiện phạm tội cho thấy: trước khi gây thương tích cho bị hại thì thấy giữa bị hại và bị cáo đã xảy ra mâu thuẫn nhỏ với nhau, nên không kiềm chế được bản thân nên dẫn đến hành vi phạm tội của bị cáo.

Bị cáo sử dụng dao là hung khí nguy hiểm để gây thương tích cho chị P đã phạm vào điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), do tỷ lệ tổn thương cơ thể của chị P là 12% nên hành vi của bị cáo đã phạm vào điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:

[4.1] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:

Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

[4.2] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Xét bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo đã bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả cho bị hại. Ngoài ra bị hại cũng có một phần lỗi; bị hại đã nhận tiền bồi thường và làm đơn bãi nại xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự cho bị cáo; hiện tại bị cáo đang bị nhiều bệnh cần phải điều trị như bệnh suy tim sung huyết, bệnh tim thiếu máu cục bộ, bệnh huyết áp, bệnh dạ dày. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự được xem xét để giảm nhẹ mức hình phạt cho bị cáo nhằm thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

[5] Về quyết định hình phạt:

Bị cáo có 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015. Bị cáo có nơi cư trú cụ thể, rõ ràng và có nhân thân tốt. Có khả năng tự cải tạo, việc không bắt bị cáo đi chấp hành hình phạt tù cũng không gây ảnh hưởng xấu đến việc đấu tranh phòng, chống tội phạm; thể hiện trong quá trình điều tra, truy tố bị cáo được cơ quan tiến hành tố tụng áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Đối chiếu các điều kiện áp dụng án treo được quy định tại Nghị quyết số 02/2018 và Nghị quyết số 01/2022 ngày 15 tháng 4 năm 2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết số 02/2018 thì bị cáo có đủ điều kiện được hưởng án treo.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Đã giải quyết xong nên không đặt ra xem xét.

[7] Về vật chứng vụ án:

  • 01 (một) con dao, loại dao rựa, cân bằng tre dài 40cm; lưỡi dao bằng kim loại dài 30cm, dạng lưỡi cong là hung khí mà bị cáo dùng vào việc phạm tội và 01 (một) con dao dài 60cm, lưỡi dao bằng kim loại, dài 30cm; cân bằng gỗ tròn dài 10cm. Đây là con dao của Trịnh Thị Mỹ P, sau khi P bị Trịnh T đánh, P lấy con dao trên ra để đánh lại T nhưng chưa thực hiện được hiện không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
  • 01 (một) đoạn video dài 01 phút 10 giây ghi lại diễn biến việc Trịnh T gây thương tích cho Trịnh Thị Mỹ P lưu hồ sơ vụ án là phù hợp.

[8] Về án phí: Buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

[9] Xét quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát về việc đánh giá tính chất mức độ, hành vi phạm tội và mức hình phạt đề nghị xử phạt bị cáo phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên ghi nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào điểm a khoản 1 và điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tuyên bố bị cáo Trịnh T phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

- Căn cứ điểm a khoản 1 và điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm s, b khoản 1, 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Nghị quyết số: 02/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao ngày 15 tháng 5 năm 2018;

Nghị quyết số 01/2022 ngày 15 tháng 4 năm 2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết số 02/2018;

+ Xử phạt: Bị cáo Trịnh T: 02 (hai) năm tù, cho hưởng án treo.

Thời gian thử thách là 04 năm tính từ ngày tuyên án.

Giao bị cáo Trịnh T cho Ủy ban nhân dân xã X, huyện C, tỉnh Đồng Nai giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật hình sự.

Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 87 và khoản 1 Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.

2. Về trách nhiệm dân sự: không xem xét.

3. Về vật chứng vụ án: căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự.

Tuyên tịch thu tiêu hủy: 01 (một) con dao, loại dao rựa, cân bằng tre dài 40cm; lưỡi dao bằng kim loại dài 30cm, dạng lưỡi cong và 01 (một) con dao dài 60cm, lưỡi dao bằng kim loại, dài 30cm; cân bằng gỗ tròn dài 10cm (vật chứng nêu trên hiện Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cẩm Mỹ đang quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 06/10/2023).

4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Nghị quyết 326/NQ - UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Trịnh T phải nộp 200.000 (hai trăm ngàn) đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày tính từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày tròn kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ./.

Nơi nhận:

  • - Người tham gia tố tụng;
  • - TAND tỉnh Đồng Nai;
  • - VKS tỉnh Đồng Nai;
  • - STP tỉnh Đồng Nai;
  • - Công an huyện Cẩm Mỹ;
  • - VKS huyện Cẩm Mỹ;
  • - THA.DS huyện Cẩm Mỹ;
  • - THA hình sự;
  • - Lưu HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa




Lê Thị Khuyên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 107/2023/HS-ST ngày 15/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẨM MỸ, TỈNH ĐỒNG NAI về cố ý gây thương tích

  • Số bản án: 107/2023/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 15/11/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẨM MỸ, TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: TRỊNH T PHẠM TỘI CỐ Ý GÂY THƯƠNG TÍCH
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger