Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN LỤC NGẠN

TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 107/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 15/8/2024

V/v: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN, TỈNH BẮC GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phan Văn Thể

Các Hội thẩm nhân dân:1. Ông Dương Văn Hiến

2. Bà Vũ Thị Mai

Thư ký phiên toà: Ông Vũ Hữu Thơ – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Thành Đạt - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 284/2024/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 7 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 105/2024/QÐST-HNGĐ ngày 26 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Phùn Thị H, sinh năm 1998 (Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn Đ, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang

Bị đơn: Anh Trần Huy Đ, sinh năm 1992 (Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn Đ, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và những lời khai tiếp theo nguyên đơn chị Phùn Thị H trình bày:

Chị và anh Trần H1 Đoàn kết hôn với nhau vào ngày 16/02/2016, trước khi cưới có được tìm hiểu nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Anh chị được gia đình tổ chức lễ cưới theo phong tục địa phương và cưới xong chị về làm dâu ngay nhà anh Đ, anh chị chung sống tại thôn Đ, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Tình cảm vợ chồng ban đầu hoà thuận, hạnh phúc.

Đến tháng 5/2023 thì vợ chồng nảy sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung, thường xuyên cãi vã, đánh nhau, hiện tại hai vợ chồng không còn tình cảm với nhau. Gia đình họ hàng hai bên cũng có hòa giải cho vợ chồng nhưng không thành. Chị và anh Đ đã ly thân từ tháng 05/2023 đến nay không còn liên lạc gì với nhau nữa. Nay chị xác định mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, chị đề nghị Toà án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Trần Huy Đ.

- Về con chung: Chị và anh Trần Huy Đ có 02 con chung là Trần Thị Huyền T, sinh ngày 18/11/2016 và Trần Thị Trà M, sinh ngày 23/10/2019. Nay ly hôn, do các con hiện tại vẫn đang ở cùng ông bà nội và anh Đ vẫn đang chăm sóc cháu nên chị có nguyện vọng để cho anh Trần Huy Đ nuôi dưỡng cả 02 con chung. Cấp dưỡng nuôi con chung: Chị và anh Trần Huy Đ tự thoả thuận không đề nghị Toà án giải quyết.

- Về tài sản chung, công nợ chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại bản tự khai, bị đơn anh Trần Huy Đ trình bày:

Anh và chị Phùn Thị H kết hôn với nhau vào ngày 16/02/2016, trước khi cưới có được tìm hiểu nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Anh chị được gia đình tổ chức lễ cưới theo phong tục địa phương và cưới xong chị H về làm dâu ngay nhà anh, anh chị chung sống tại thôn Đ, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Tình cảm vợ chồng ban đầu hoà thuận, hạnh phúc.

Đến tháng 5/2023 thì vợ chồng nảy sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung, hiện tại hai vợ chồng không còn tình cảm với nhau. Gia đình họ hàng hai bên cũng có hòa giải cho vợ chồng nhưng không thành. Anh và chị H đã ly thân từ tháng 05/2023 đến nay không còn liên lạc gì với nhau nữa. Nay anh xác định mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, nay chị H khởi kiện ly hôn anh anh hoàn toàn đồng ý ly hôn với chị Phùn Thị H.

- Về con chung: Anh và chị Phùn Thị H có 02 con chung là Trần Thị Huyền T, sinh ngày 18/11/2016 và Trần Thị Trà M, sinh ngày 23/10/2019. Nay ly hôn, do các con hiện tại vẫn đang ở cùng anh nên anh có nguyện vọng nuôi dưỡng cả 02 con chung.

Cấp dưỡng nuôi con chung: Anh và chị Phùn Thị H tự thoả thuận không đề nghị Toà án giải quyết.

- Về tài sản chung, công nợ chung: Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Do anh có công việc bận nên anh xin vắng mặt tại tất cả các buổi làm việc, các phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ và hoà giải cũng như các phiên toà xét xử vụ án trên.

Tại phiên tòa ngày hôm nay, nguyên đơn chị Phùn Thị H và bị đơn anh Trần Huy Đ đều xin vắng mặt. Hội đồng xét xử tóm tắt nội dung vụ án, công bố các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.

Tại phiên tòa Đại diện Viện kiểm sát phát biểu việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của các đương sự. Thẩm phán đã thực hiện đúng trình tự thủ tục tố tụng, xác định đúng thẩm quyền, quan hệ pháp luật, thu thập chứng cứ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa thực hiện đúng nguyên tắc, trình tự tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã chấp hành đúng các quy định về quyền nghĩa vụ của mình quy định tại Điều 70, 71 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn đã chấp hành đúng các quy định về quyền nghĩa vụ của mình quy định tại Điều 70, 72 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án Đại diện Viện kiểm sát phát đề nghị Hội đồng xét xử:

Căn cứ các Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 273, Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51, Điều 53, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 6, Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án, xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phùn Thị H: Cho chị Phùn Thị H được ly hôn với anh Trần Huy Đ.

Về con chung: Giao cho anh Trần Huy Đ trực tiếp nuôi dưỡng con chung là Trần Thị Huyền T, sinh ngày 18/11/2016 và Trần Thị Trà M, sinh ngày 23/10/2019 cho đến khi con chung trưởng thành đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi theo quy định của pháp luật. Cấp dưỡng nuôi con chung không đặt ra xem xét giải quyết, vì đương sự không yêu cầu. Sau khi ly hôn chị Phùn Thị H có quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở chị Phùn Thị H thực hiện quyền này.

Về án phí: Chị Phùn Thị H phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng là tiền tạm ứng án phí mà chị Phùn Thị H đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang theo Biên lai thu số 0006257 ngày 01 tháng 7 năm 2024.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng và thẩm quyền giải quyết vụ án:

[1.1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Chị Phùn Thị H khởi kiện yêu cầu Toà án nhân dân huyện Lục Ngạn giải quyết ly hôn, tranh chấp về nuôi con với anh Trần Huy Đ. Hiện nay anh Trần Huy Đ có hộ khẩu thường trú tại thôn Đ, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Căn cứ quy định tại quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự xác định đây là quan hệ tranh chấp hôn nhân gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang.

[1.2] Về sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng:

Nguyên đơn chị Phùn Thị H và anh Giáp V Đoàn vắng mặt đã có đơn xin xét xử vắng mặt, căn cứ vào Điều 227, 228 và 238 Bộ luật tố tụng dân sự Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt chị Phùn Thị H và anh Giáp Văn Đ1 theo thủ tục chung.

[2]. Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thấy:

[2.1]. Về quan hệ hôn nhân: Chị Phùn Thị H và anh Giáp V Đoàn kết hôn trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, được tự do tìm hiểu trước khi kết hôn và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang, được cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 16/02/2016. Do vậy đây là hôn nhân hợp pháp.

Theo trình bày của chị Phùn Thị H vợ chồng chị chung sống tình cảm ban đầu hòa thuận hạnh phúc nhưng được một thời gian thì nảy sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung, vợ chồng thường xuyên cãi vã, đánh nhau. Anh Giáp Văn Đ1 cũng xác định vợ chồng có mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung, hiện tại hai vợ chồng không còn tình cảm với nhau, nay H khởi kiện ly hôn anh anh cũng hoàn toàn đồng ý ly hôn với chị Phùn Thị H. Xét thấy tình trạng hôn nhân giữa chị Phùn Thị H và anh Trần Huy Đ mâu thuẫn là có thật, việc vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung, thường xuyên cãi vã cho thấy mâu thuẫn vợ chồng đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử xét thấy cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Phùn Thị H, cho chị Phùn Thị H được ly hôn với anh Trần Huy Đ.

[2.2] Về con chung: Chị Phùn Thị H và anh Trần Huy Đ có 02 con chung là Trần Thị Huyền T, sinh ngày 18/11/2016 và Trần Thị Trà M, sinh ngày 23/10/2019. Hiện nay, chị H và anh Đ đều thoả thuận để anh Trần Huy Đ là người trực tiếp nuôi dưỡng con chung là Trần Thị Huyền T, sinh ngày 18/11/2016 và Trần Thị Trà M, sinh ngày 23/10/2019. Hội đồng xét xử xét thấy hiện hiện nay các con chung đều đang ở với anh Trần Huy Đ các con vẫn khoẻ mạnh phát triển bình thường, chị H, anh Đ đều thống nhất việc nuôi con chung. Hơn nữa cháu Trần Thị Huyền T có nguyện vọng ở với bố là anh Trần Huy Đ do đó để đảm bảo sự phát triển tâm sinh lý của cháu và tạo điều kiện tốt nhất để cháu phát triển toàn diện cần giao cho anh Trần Huy Đ trực tiếp nuôi dưỡng con chung là Trần Thị Huyền T, sinh ngày 18/11/2016 và Trần Thị Trà M, sinh ngày 23/10/2019 là phù hợp với quy định tại Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình. Việc cấp dưỡng nuôi con chung do chị Phùn Thị H và anh Trần Huy Đ không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.

[2.3]. Về tài sản chung, công nợ chung: Chị Phùn Thị H và anh Trần Huy Đ xác định không có, anh chị không yêu cầu giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[3]. Về án phí: Nguyên đơn chị Phùn Thị H phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và Điều 6, Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng là tiền tạm ứng án phí mà chị Phùn Thị H đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang theo Biên lai thu số 0006257 ngày 01 tháng 7 năm 2024.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 273, Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51, Điều 53, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 6, Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án, xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phùn Thị H: Cho chị Phùn Thị H được ly hôn với anh Trần Huy Đ.
  2. Về con chung: Giao cho anh Trần Huy Đ nuôi con chung là Trần Thị Huyền T, sinh ngày 18/11/2016 và Trần Thị Trà M, sinh ngày 23/10/2019 đến khi con chung trưởng thành đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi theo quy định của pháp luật. Cấp dưỡng nuôi con chung không đặt ra xem xét giải quyết, vì đương sự không yêu cầu. Sau khi ly hôn chị Phùn Thị H có quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở chị Phùn Thị H thực hiện quyền này.
  3. Về án phí: Chị Phùn Thị H phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng là tiền tạm ứng án phí mà chị Phùn Thị H đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang theo Biên lai thu số 0006257 ngày 01 tháng 7 năm 2024.
  4. Về quyền kháng cáo: Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai.

Nơi nhận:

  • -TAND tỉnh Bắc Giang;
  • - VKSND tỉnh Bắc Giang;
  • - VKSND huyện Lục Ngạn;
  • - Chi cục THADS huyện Lục Ngạn.
  • - UBND xã Tân Lập, huyện Lục Ngạn;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: HS, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

(Đã ký)

Phan Văn Thể

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 107/2024/HNGĐ-ST ngày 15/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN, TỈNH BẮC GIANG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 107/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 15/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN, TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: H và Đ ly hôn, con chung
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger