Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 107/2024/HS-PT
Ngày: 13-5-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Khắc Thịnh
Các thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Võ Trinh
Ông Phạm Minh Tùng

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Minh Châu – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa:
Ông Phạm Minh Trí - Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp mở phiên tòa xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 321/2023/TLPT-HS ngày 26 tháng 12 năm 2023 đối với các bị cáo Bùi Nguyên H và Nguyễn Hà Vân P. Do có kháng cáo của các bị cáo Bùi Nguyên H và Nguyễn Hà Vân P đối với bản án hình sự sơ thẩm số: 76/2023/HS-ST ngày 27 tháng 10 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Tháp Mười.

Bị cáo có kháng cáo:

  1. Họ và tên: Nguyễn Hà Vân P, sinh năm 2003; nơi cư trú: Khóm B, thị trấn M, huyện T, tỉnh Đồng Tháp; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn H1, sinh năm 1972 (còn sống) và bà Nguyễn Thanh V, sinh năm 1971 (còn sống); gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ hai trong gia đình; Vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; tạm giữ: Không; tạm giam: Từ ngày 14/10/2022 đến ngày 18/01/2023 được thay thế bằng biện pháp bảo lĩnh và có mặt tại phiên tòa.
  2. Họ và tên: Bùi Nguyên H, sinh năm 2002; nơi cư trú: Ấp B, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp; nghề nghiệp: Thợ sửa xe; trình độ học vấn: 07/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Văn T, sinh năm 1971 (còn sống) và bà Nguyễn Thị Mười M, sinh năm 1980 (còn sống); gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ hai trong gia đình; Vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: Không; tạm giữ, tạm giam: Không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú và có mặt tại phiên tòa.

Người bào chữa cho bị cáo Bùi Nguyên H theo yêu cầu: Luật sư Nguyễn Văn V1 – Văn phòng Luật sư Nguyễn Văn V1, thuộc đoàn Luật sư tỉnh Đ.

Trong vụ án còn có bị cáo Đinh Bảo T1, Nguyễn Hữu K, Nguyễn Quốc K1, Đoàn Thành L, Nguyễn Hảo H2, Phan Thành L1, Bùi Văn Nhật D; người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không kháng cáo; Viện kiểm sát không kháng nghị.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 19 giờ ngày 24/6/2022, Nguyễn Hà Vân P tổ chức uống bia tại nhà thuộc khóm B, thị trấn M, huyện T, tỉnh Đồng Tháp cùng với Đinh Bảo T1, Nguyễn Hữu K, Nguyễn Quốc K1 (Gọi tắt là nhóm T1). Đến khoảng 01 giờ ngày 25/6/2022, T1 nhận được điện thoại của Nguyễn Thiên L2 nói có nhóm thanh niên điều khiển xe đi qua lại nhà T1 tại khu dân cư thuộc khóm A, thị trấn M nhiều lần nên T1 nói Nguyễn Quốc K1 điều khiển xe Wave mang biển số 66K9-9373 chở T1 chạy về nhà. Khi đi T1 lấy 01 con dao có cán bằng kim loại màu trắng dài 12 cm, lưỡi dao bằng kim loại màu trắng dài 37 cm, rộng 4 cm, một bề bén, mũi bằng; Quốc K1 lấy 01 con dao Thái Lan dài khoảng 20cm, lưỡi bằng kim loại màu trắng của Nguyễn Hà Vân P giấu vào trong áo khoác.

Thấy T1 và Quốc K1 đi lâu không quay lại, Hữu K điện thoại cho T1 thì biết việc T1 về nhà tìm nhóm thanh niên qua lại nhà mình. Nghĩ là nhóm người ở xã Đ tìm Tính để giải quyết mâu thuẫn, Hữu K đi ra phía sau nhà bếp của P lấy 01 con dao Thái Lan dài khoảng 20cm, lưỡi bằng kim loại màu trắng giấu con dao vào tay áo bên trái rồi đi ra hỏi mượn chiếc xe Sirius màu đen biển số 66M1-231.67 của P để đi tìm Tính. Biết Hữu K đi đánh nhau nên P xin đi theo thì được Hữu K đồng ý. Khi đi P mang theo con dao Thái Lan cán bằng gỗ màu nâu, lưỡi bằng kim loại màu trắng dài khoảng 13cm. P điều khiển xe chở Hữu K đến Siêu thị C1 thì nhìn thấy T1 và Quốc K1. Tại đây, Hữu K qua điều khiển xe Wave chở T1, Q qua điều khiển xe Sirius chở P tìm nhóm thanh niên nói trên. Khi đến quán bán nước giải khát của anh Lê Văn Bé H3 thuộc khóm D, thị trấn M thì nhìn thấy Đoàn Thành L, Phan Thành L1, Bùi Văn Nhật D, Nguyễn Hảo H2, Bùi Nguyên H và Danh Ngọc S (Gọi tắt là nhóm L1) đang ngồi uống nước. Lúc này T1 hỏi, “Tụi bây ở dưới T lên đây phải không?”. Nghe vậy, L nói “Ừ”. Liền lúc này, T1, P, Quốc K1, Hữu K lấy dao cất giấu từ trong người xông vào chém. Thấy vậy, L nhặt đá, H2 cầm ly thủy tinh ném T1 nhưng không trúng. Sau đó, nhóm D bỏ chạy về hướng nhà lồng chợ huyện T, nhóm Tính rượt đuổi khoảng 50m thì quay lại, lên xe rời đi. Quá trình rượt đuổi, T1 và đồng phạm đều hò hét lớn tiếng gây náo động tại khu vực. Sự việc xảy ra khoảng 05 phút, không ai trong số những người trên bị thương tích.

Tiếp theo, nhóm T1 đến nhà Nguyễn Chí H4 tại khu dân cư K, thị trấn M lấy 01 bao chứa nhiều dao tự chế chia cho P, Quốc K1, Hữu K mỗi người 01 con dao, riêng T1 vẫn sử dụng con dao ban đầu. Có hung khí, Hữu K điều khiển xe chở T1, P điều khiển xe chở Quốc K1 quay lại khu vực chợ T2 tìm chém nhóm L.

Sau khi chạy thoát, nhóm L quay lại quán nước của anh Bé H3 để lấy xe. Lúc này, L1 nói H2 và S đi vào cầu T lấy 03 dao tự chế cất giấu dưới gầm cầu để đánh lại nhóm T1. Lấy xong, H2 đưa cho L1 01 con dao, H2 cầm 01 con dao, con dao còn lại H2 đưa cho S. Sau đó, L1 đưa dao tự chế lại cho D rồi điều khiển xe chở H2 và D, L điều khiển xe chở S và H về hướng cầu T tìm nhóm T1 chém trả thù. Đến khoảng 02 giờ cùng ngày, khi đi qua cầu T, đến giữa cầu thì L1 nhìn thấy nhóm T1 đang đứng tại bờ kè chợ T2 nên la lớn “Tụi nó kìa”. Cả nhóm điều khiển xe quay lại, thấy vậy nhóm T1 lên xe chạy về hướng cầu N thuộc khóm D thị trấn M cách quán anh B H3 khoảng 800m và cách nhà lồng chợ khoảng 300m. Trên đường, xe L bị tắt máy dừng lại, xe L1 vượt lên, vừa truy đuổi, vừa lớn tiếng chửi thề, thách thức nhóm T1 dừng tại để chém nhau. Khi đuổi đến dốc cầu “Nhỏ” thì nhìn thấy nhóm T1 đang cầm dao đứng đợi. L1 buông cho xe ngã rồi chạy ngược về chân cầu, H2 và D đứng dậy cầm dao để chém nhau với nhóm T1. Lúc này, D đứng đối diện với T1, H2 đứng đối diện với Hữu K, phía sau T1 là P, phía sau H là Quốc K1. D cầm dao bằng hai tay chém trúng vào môi, tay trái và tay phải của T1, T1 dùng dao chém lại nhưng không trúng. Hớn cầm dao trên tay phải chém ngang từ phải qua trái vào tay trái của Hữu K, Hữu K cầm dao trên tay phải chém từ trên xuống vào người Hớn gây thương tích. Quốc Khánh và P đứng phía sau hò hét, quơ dao qua lại không trúng ai.

Sau đó, H2 và D lùi dần về chân cầu “Nhỏ”, nhóm T1 vừa dùng dao chém vừa tiến theo. Đến chân cầu, L1 quay lại nhặt đá ném thì bị P cầm dao truy đuổi về hướng trụ sở của Tổ Dân phố khoảng 50m thì dừng lại. Trong lúc này, D và H2 đã lùi đến cửa hàng bán than cách cầu “Nhỏ” khoảng 30m thì D trượt chân té ngã, liền bị Hữu K và T1 lao đến chém nhiều nhát vào chân, H2 đứng nhìn không dám xông vào hỗ trợ. Chém xong, nhóm T1 chạy về chỗ xe đang đậu trên cầu “Nhỏ”. Khi vừa lên xe thì L điều khiển xe chở Ngọc S và H đuổi đến, Hữu K xuống xe giơ dao lên dọa chém. Thấy vậy, L phanh gấp làm xe ngã bên cạnh xe của L1, L cùng Ngọc S và H bỏ chạy xuống chân cầu. Hữu Khánh lại rút chìa khóa xe của L và L1, L lấy dao của H đang cầm, S cầm con dao của H2 và chạy lên cầu quơ chém với nhóm T1. Lúc này, các bên giữ khoảng cách, không ai chém trúng ai. Được một thời gian thì L dắt xe xuống dốc cầu, khi quay lại thì nhóm T1 đã lên xe chạy đi, L ném dao theo nhưng không trúng. Sau đó, H2 và D được L1 và những người khác chở đến Bệnh viện T3 để cấp cứu. Sự việc tại cầu N từ khi bắt đầu đến khi kết thúc diễn ra trong khoảng 10 phút, trong suốt quá trình này những người tham gia đều lớn tiếng chửi thề, thách thức đối phương gây náo động trong khu vực.

Tại Bản kết luật giám định pháp y số 245/TgT ngày 07-7-2022 của Trung tâm Pháp y tỉnh Đ kết luận: “Tỷ lệ tổn thương cơ thể của Nguyễn Hảo H2 là 10%”. “Thương tích do vật sắc bén gây nên”.

Tại Bản kết luật giám định pháp y số 238/TgT ngày 06-9-2022 của Trung tâm Pháp y tỉnh Đ kết luận: “Tỷ lệ tổn thương cơ thể của Bùi Văn N D là 39%”. “Thương tích do vật sắc bén gây nên”.

Tại Bản kết luận giám định pháp y số 326/TgT ngày 18-10-2022 của Trung tâm Pháp y tỉnh Đ kết luận: “Tỷ lệ tổn thương cơ thể của Đinh Bảo T1 là 05%”. “Thương tích do vật sắc bén gây nên”.

Đến ngày 27-6-2022, Đinh Bảo T1 gửi đơn yêu cầu xử lý hình sự đối với Đoàn Thành L, Phan Thành L1, Bùi Văn Nhật D, Nguyễn Hảo H2, Bùi Nguyên H và Danh Ngọc S về hành vi “Cố ý gây thương tích”

Ngày 30-6-2022, Ủy ban nhân dân thị trấn M có công văn đề nghị xử lý các đối tượng do gây ảnh hưởng đến an ninh trật tự, gây hoang mang, lo sợ cho người dân sinh sống tại khu vực nội ô thị trấn.

Về vật chứng và xử lý vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra đã thu giữ những tài sản và đồ vật sau đây:

  • - 01 con dao có cán bằng kim loại màu trắng dài 12 cm; lưỡi dao bằng kim loại màu trắng dài 37 cm, rộng 4 cm, một bề bén, mũi bằng; khối lượng 250 gram do Đinh Bảo T1 sử dụng làm hung khí.
  • - 01 con dao có cán bằng kim loại hình khối tròn dài 21,5 cm; lưỡi dao dài 57 cm, rộng 06 cm, một bề bén, phần sống dao có hình răng cưa; khối lượng 800 gram do Nguyễn Hà Vân P sử dụng làm hung khí.
  • - 01 con dao có cán bằng kim loại được ốp gỗ màu nâu dài 18 cm; lưỡi dao bằng kim loại màu trắng dài 51 cm, rộng 06 cm, một bề bén, sống dao có hình răng cưa; khối lượng 750 gram do Nguyễn Quốc K1 sử dụng làm hung khí.
  • - 01 con dao có cán bằng kim được quấn băng keo trắng, dài 18 cm; lưỡi dao bằng kim loại màu trắng dài 55 cm, rộng 03 cm, một bề bén; khối lượng 01 kilôgram do Nguyễn Hữu K sử dụng làm hung khí.
  • - 01 con dao có cán bằng kim loại hình trụ tròn dài 41 cm; lưỡi dao bằng kim loại dài 93 cm, mũi nhọn, một bề bén, sóng dao có răng cưa; khối lượng 900 gram do Nguyễn Hảo S1, Danh Ngọc S sử dụng làm hung khí.
  • - 01 con dao có cán bằng nhựa màu đen dài 12 cm; lưỡi dao bằng kim loại màu trắng dài 08 cm, rộng 1,5 cm, một bề bén, mũi nhọn; khối lượng 50 gram.
  • - 01 con dao có cán được quấn băng keo trắng dài 16 cm; lưỡi dao bằng kim loại dài 28 cm, một bề bén, rộng 06 cm, mũi nhọn; khối lượng 600 gram.
  • - 01 cái bao tải màu trắng đã qua sử dụng, mặt trước của bao tải được in dòng chữ LÚA VÀNG VIỆT NAM ĐƯỢC MÙA - THỊNH VƯỢNG CHẤT LƯỢNG SIÊU BỀN màu xanh dùng để chứa hung khí.
  • - 01 điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE màu đen, có gắn ốp lưng bằng nhựa màu đen của Đinh Bảo T1.
  • - 01 cái bội màu đen có chữ HONDA của Nguyễn Trường G (Không yêu cầu nhận lại do tài sản đã cũ không còn giá trị).
  • - 01 cái nón bảo hiểm màu xanh - đen, phần sau nón có in nỗi chữ “NÓN SƠN” và 01 đôi dép nhựa quay ngang màu đen, quay dép có hoa văn và chữ “XL” của Bùi Văn Nhật D (Không yêu cầu nhận lại do tài sản đã cũ không còn giá trị).
  • - 01 cái áo thun ngắn tay màu trắng, phần ngực áo có in nổi chữ VL và 01 cái áo khoác có mặt ngoài bằng da màu đen, mặt trong của áo khoác bằng vải sọc trắng - xanh - đỏ của Đinh Bảo T1 (Không yêu cầu nhận lại do tài sản đã cũ không còn giá trị).
  • - Xe mô tô mang biển kiểm soát 63K9 - 9373 là của ông Nguyễn Văn N1 được Nguyễn Trường G (Con ông N1) cho Nguyễn Quốc K1 mượn sử dụng. Cả ông N1 và G đều không biết việc K1 dùng thực hiện tội phạm nên trao trả lại cho ông N1.
  • Đối với 03 con dao các bị can Nguyễn Hữu K, Nguyễn Quốc K1, Nguyễn Hà Vân P sử dụng đuổi chém nhóm L tại quán bán nước giải khát của anh Lê Văn Bé H3 thuộc khóm D, thị trấn M đã rơi mất trên đường di chuyển, không thu giữ được. Con dao Đoàn Thành L sử dụng làm hung khí rơi xuống sông tại khu vực cầu N đã truy tìm nhưng không thấy.

Về trách nhiệm dân sự, Bùi Văn Nhật D và người đại diện là ông Bùi Văn G1 đã thỏa thuận với ông Đinh Văn Ú (cha của Đinh Bảo T1), bà Nguyễn Thanh V (mẹ của Nguyễn Hà Vân P), bà Lê Thị G2 (mẹ của Nguyễn Hữu K) và bà Nguyễn Thị Mỹ D1 (mẹ của Nguyễn Quốc K1) số tiền để bồi thường thiệt hại về sức khỏe bị xâm hại là 73.700.000 đồng. Ngoài ra, không yêu bồi thường gì thêm. Đến nay, Bùi Văn Nhật D và người đại diện là ông Bùi Văn G1 đã nhận được số tiền là 55.000.000 đồng, số tiền còn lại sẽ tiếp tục bồi thường sau khi vụ án được xét xử. Đối với thương tích của Nguyễn Hảo H2 và Đinh Bảo T1, không ai yêu cầu bồi thường.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số: 76/2023/HS-ST ngày 27 tháng 10 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Tháp Mười đã quyết định:

Căn cứ điểm c khoản 3 Điều 134; điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 17, Điều 38 của Bộ luật hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Hà Vân P phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Hà Vân P 05 (Năm) năm 03 (Ba) tháng tù.

Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17, Điều 38, Bộ luật hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Hà Vân P phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Hà Vân P 02 (Hai) năm tù.

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 55 Bộ luật hình sự: Tổng hợp hình phạt tù của hai tội buộc bị cáo Nguyễn Hà Vân P phải chấp hành là 07 (Bảy) năm 03 (Ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án (nhưng trừ thời gian tạm giam từ ngày 14/10/2022 đến ngày 18/01/2023).

Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17, Điều 38 của Bộ luật hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Bùi Nguyên H phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.
Xử phạt: Bị cáo Bùi Nguyên H 02 (Hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.

Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên phạt bị cáo Đinh Bảo T1 05 (Năm) năm 06 (Sáu) tháng tù, bị cáo Nguyễn Quốc K1 06 (S2) năm tù cùng về tội “Cố ý gây thương tích” và “Gấy rối trật tự công cộng”; bị cáo Nguyễn Hữu K 08 (Tám) năm 09 (C) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”, “Gấy rối trật tự công cộng” và “Giết người” (tổng hợp hình phạt của Bản án này và Bản án số 03/2023/HS-ST.TE ngày 02/3/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp); bị cáo Phan Thành L1 02 (Hai) năm 03 (Ba) tháng tù, bị cáo Đoàn Thành L từ 02 (Hai) năm tù, bị cáo Nguyễn Hảo H2 02 (Hai) năm tù, bị cáo Bùi Văn Nhật D 01 (Một) năm 09 (chín) tháng tù nhưng cho bị cáo hưởng án treo với thời gian thử thách là 03 (Ba) năm 06 (Sáu) tháng cùng về tội “Gấy rối trật tự công cộng”; tuyên về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.

Ngày 07 tháng 11 và ngày 08 tháng 11 năm 2023, các bị cáo Nguyễn Hà Vân P và Bùi Nguyên H cùng có đơn kháng cáo với nội dung xin giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Hà Vân P rút toàn bộ kháng cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp phát biểu quan điểm: Hành vi của bị cáo Nguyễn Hà Vân P bị Tòa án cấp sơ thẩm quy kết về tội “Cố ý gây thương tích” và “Gây rối trật tự công cộng” theo điểm c khoản 3 Điều 134 và điểm b khoản 2 Điều 318 của Bộ luật hình sự; bị cáo Bùi Nguyên H bị Tòa án cấp sơ thẩm quy kết về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo điểm b khoản 2 Điều 318 của Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng quy định của pháp luật. Bị cáo Nguyễn Hà Vân P kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, nhưng tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo Nguyễn Hà Vân P đã tự nguyện rút toàn bộ kháng cáo nên đề nghị Hội đồng xét xử đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với bị cáo Nguyễn Hà Vân P. Đối với bị cáo Bùi Nguyên H, bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, có cung cấp các chứng cứ mới như bị cáo là lao động chính trong gia đình có hoàn cảnh khó khăn; bản thân bị cáo tham gia Đội văn phòng ở địa phương; bị cáo có bác ruột tham gia Cách mạng, được Bộ Q tặng bằng khen. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Tuy nhiên, xét mức hình phạt mà Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng đối với bị cáo là phù hợp với tính chất, mức độ do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Bùi Nguyên H, giữ nguyên phần quyết định của bản án sơ thẩm về hình phạt đối với bị cáo Bùi Nguyên H.

Người bào chữa cho bị cáo Bùi Nguyên H phát biểu quan điểm: Thống nhất với quan điểm của vị đại diện Viện kiểm sát về tội danh và điều khoản của tội danh áp dụng đối với bị cáo H. Vị luật sư cũng viện dẫn về nguyên nhân, điều kiện phạm tội của bị cáo. Luật sư cho rằng, bị cáo từ nhà đến thị trấn M là để uống nước chứ không phải đi gây rối, đánh nhau. Trong lúc uống nước, do nhóm của T1 và nhóm của L1 hiểu nhầm nên xảy ra sự việc nhóm Tính chém người bên nhóm của L1. Do có ý định trả thù lại nhóm của T1 nên L1 bàn với L và rủ bị cáo H tham gia. Do đi cùng với L nên bạn rủ thì bị cáo đi theo, bạn đưa dao thì bị cáo cầm chứ không chém ai. Sau khi sự việc xảy ra bị cáo cũng không nghĩ mình bị khởi tố, không biết việc làm của mình là vi phạm pháp luật. Do bị tấn công nên bị cáo mới nhất thời phạm tội. Đồng thời, vị luật sư cũng nêu ra các tình tiết giảm nhẹ như: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Bị cáo là lao động chính trong gia đình có hoàn cảnh khó khăn; bản thân bị cáo tham gia Đội văn phòng ở địa phương; bị cáo có bác ruột tham gia Cách mạng, được Bộ Q tặng bằng khen. Xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Bị cáo Bùi Nguyên H không tranh luận. Lời nói sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Bùi Nguyên H đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, phù hợp với lời khai của các bị cáo đồng phạm, người liên quan, người làm chứng và các chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở để xác định: Xuất phát từ việc nhóm của bị cáo Nguyễn Hà Vân P sử dụng dao là hung khí nguy hiểm đuổi chém nhóm của bị cáo Bùi Nguyên H tại khóm D, thị trấn M, huyện T, tỉnh Đồng Tháp. Các bị cáo L1, L, D, H2, H và đối tượng Danh Ngọc S đã sử dụng 03 dao tự chế tìm chém lại, xô xát xảy ra tại khu vực cầu N thuộc khóm D, thị trấn M, huyện T. Các bị cáo sử dụng hung khí nguy hiểm chém gây thương tích cho nhau, trong đó Nguyễn Hảo H2, Bùi Văn Nhật D và Đinh Bảo T1 bị thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể lần lượt là 10%, 39%, 5% tại thời điểm giám định. Trước, trong và sau khi thực hiện hành vi gây thương tích các bị cáo đều lớn tiếng hò hét, chửi bới, thách thức đối phương, sử dụng hung khí quơ chém, giằng co qua lại gây náo động nơi xảy ra sự việc.

[2] Hội đồng xét xử xét thấy hành vi của bị cáo Bùi Nguyên H là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm an toàn, trật tự công cộng một cách trái pháp luật. Bị cáo là người đã thành niên, có thể chất, tinh thần phát triển bình thường, có khả năng điều khiển hành vi, giao tiếp xã hội, nhận thức được pháp luật, có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự theo quy định. Xuất phát từ mâu thuẫn nhỏ mà bị cáo cùng các bị cáo đồng phạm đã cùng nhau sử dụng hung khí nguy hiểm chém gây thương tích cho nhau và xâm phạm nghiêm trọng trật tự công cộng. Hành vi phạm tội của bị cáo H và các bị cáo trong vụ án diễn ra liên tục, nối tiếp nhau về mặt thời gian trong khoảng thời gian dài, tại nhiều địa điểm khác nhau trong khu vực chợ, nội ô thị trấn M nơi có nhiều người dân sinh sống và buôn bán. Bị cáo nhận thức được việc hò hét, chửi bới, thách thức đối phương, sử dụng hung khí quơ chém, giằng co qua lại gây náo động nơi xảy ra sự việc là xâm phạm an toàn, trật tự công cộng nhưng bị cáo vẫn thực hiện, chứng tỏ việc phạm tội của bị cáo là cố ý và thực hiện tội phạm đã hoàn thành.

[3] Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Bùi Nguyên H về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo điểm b khoản 2 Điều 318 của Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội. Sau khi án sơ thẩm tuyên, bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, có cung cấp các tiết tiết mới như bị cáo là lao động chính trong gia đình có hoàn cảnh khó khăn; bản thân bị cáo tham gia Đội văn phòng ở địa phương; bị cáo có bác ruột tham gia Cách mạng, được Bộ Q tặng bằng khen. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Tuy nhiên, xét mức hình phạt mà Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng đối với bị cáo là phù hợp với tính chất, mức độ do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra. Do đó, Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo, giữ nguyên phần quyết định của bản án sơ thẩm về hình phạt đối với bị cáo Bùi Nguyên H.

Đối với bị cáo Nguyễn Hà Vân P, bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt nhưng tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo đã tự nguyện rút toàn bộ kháng cáo nên đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với bị cáo Nguyễn Hà Vân P.

[4] Xét đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa đối với các bị cáo là hoàn toàn có căn cứ và phù hợp pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Xét đề nghị của người bào chữa cho bị cáo H tại phiên tòa là chưa phù hợp như đã nhận định ở phần trên nên Hội đồng xét xử không chấp nhận.

[5] Do kháng cáo của bị cáo Bùi Nguyên H không được chấp nhận nên các bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo luật định.

Bị cáo Nguyễn Hà Vân P không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Các phần khác của quyết định bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ Điều 348 của Bộ luật tố tụng hình sự.
    Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với bị cáo Nguyễn Hà Vân P. Bản án hình sự sơ thẩm số: 76/2023/HS-ST ngày 27/10/2023 của Tòa án nhân dân huyện Tháp Mười có hiệu lực pháp luật đối với bị cáo Nguyễn Hà Vân P.
  2. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự.
    Không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Bùi Nguyên H. Giữ nguyên quyết định của bản án hình sự sơ thẩm về hình phạt đối với bị cáo Bùi Nguyên H.
  3. Tuyên bố bị cáo Bùi Nguyên H phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.
    Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 38 Bộ luật hình sự.
    Xử phạt bị cáo Bùi Nguyên H 02 (Hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.
  4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự;
    Bị cáo Bùi Nguyên H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.
    Bị cáo Nguyễn Hà Vân P không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
  5. Các phần khác của quyết định bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TANDTC (Vụ GĐKT 1);
  • - VKSND Tỉnh;
  • - Ban nội chính Tỉnh ủy;
  • - Sở Tư pháp Tỉnh;
  • - Cơ quan THAHS Công an Tỉnh;
  • - TAND huyện Tháp Mười (04 bản);
  • - VKSND huyện Tháp Mười;
  • - Chi cục THADS huyện Tháp Mười;
  • - Cơ quan CSĐT CA huyện Tháp Mười;
  • - Cơ quan THAHS CA H. Tháp Mười;
  • - Trại tạm giam Công an Tỉnh;
  • - Phòng hồ sơ nghiệp vụ Công an Tỉnh;
  • - Phòng KTNV-THA Tòa án Tỉnh;
  • - Bị cáo; NBC;
  • - Lưu VT, HSVA (Châu).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(đã ký)

Lê Khắc Thịnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 107/2024/HS-PT ngày 13/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP về hình sự phúc thẩm (cố ý gây thương tích và gây rối trật tự công cộng)

  • Số bản án: 107/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Cố ý gây thương tích và Gây rối trật tự công cộng)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 13/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Cố ý gây thương tích điểm b khoản 2 Điều 318
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger