Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 107/2025/DS-PT

Ngày 13-3-2025

V/v tranh chấp chia thừa kế

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Châu Minh Hoàng

Các Thẩm phán: Bà Hoàng Thị Hải Hà

Bà Đinh Cẩm Đào

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Chọn là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Màu - Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 3 năm 2025 tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Cà Mau xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 485/2024/TLPT-DS ngày 12 tháng 11 năm 2024 về việc “Tranh chấp chia thừa kế”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 269/2024/DS-ST ngày 29 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 04/2025/QĐ-PT ngày 10 tháng 01 năm 2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn:

  1. Cháu Nguyễn Huỳnh Hải L, sinh năm 2011.
  2. Cháu Nguyễn Huỳnh Hải P, sinh năm 2012.

Cùng địa chỉ cư trú: Số B, đường B, khóm C, phường E, thành phố C, tỉnh Cà Mau.

Người đại diện hợp pháp của cháu L, cháu P: Bà Huỳnh Ngọc T, sinh năm: 1981. Địa chỉ cư trú: Số B, đường B, khóm C, phường E, thành phố C, tỉnh Cà Mau (có mặt).

- Bị đơn: Bà Huỳnh Thị T1, sinh năm: 1982. Địa chỉ thường trú: Khóm G, thị trấn N, huyện N, tỉnh Cà Mau. Chổ ở hiện nay: Số A, đường B, khóm C, phường E, thành phố C, tỉnh Cà Mau (có mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Bà Trần Thị H, sinh năm 1951.
  2. Ông Nguyễn Văn T2, sinh năm 1947.

Cùng địa chỉ cư trú: Ấp V, xã P, huyện P, tỉnh Cà Mau.

Người đại diện theo ủy quyền của bà H, ông T2: Ông Nguyễn Hải Đ, sinh năm: 1989. Địa chỉ cư trú: Ấp B, xã L, thành phố C, tỉnh Cà Mau (có mặt).

  1. Ngân hàng TMCP N1. Địa chỉ: Số G, A, phường G, thành phố C.

Người đại diện hợp pháp: Ông Hồng Quốc D, sinh năm: 1981. Theo văn bản ủy quyền ngày 27/3/2023 (vắng mặt).

  1. Ông Nguyễn Việt K, sinh năm 1986. Địa chỉ cư trú: Ấp B, xã L, thành phố C, tỉnh Cà Mau (vắng mặt).
  2. Bà Nguyễn Cẩm L1, sinh năm 1988. Địa chỉ cư trú: Số G, Huỳnh Thúc K1, khóm H, phường G, thành phố C, tỉnh Cà Mau (vắng mặt).
  3. Bà Lê Thị H1, sinh năm 1955. Địa chỉ: Ấp B, xã T, huyện N, tỉnh Cà Mau (có mặt).
  4. Ông Nguyễn Văn K2, sinh năm 1974. Ấp T, xã P, huyện P, tỉnh Cà Mau (vắng mặt).
  5. Ông Nguyễn Hoàng N, sinh năm 1980. Địa chỉ: Ấp B, xã L, thành phố C, tỉnh Cà Mau (vắng mặt).
  6. Cháu Nguyễn Sơn H2, sinh năm 2022. Số A, đường B, khóm C, phường E, thành phố C, tỉnh Cà Mau.

Người đại diện hợp pháp của cháu Nguyễn Sơn H2: Bà Huỳnh Thị T1, sinh năm: 1982. Địa chỉ thường trú: Khóm G, thị trấn N, huyện N, tỉnh Cà Mau. Chổ ở hiện nay: Số A, đường B, khóm C, phường E, thành phố C, tỉnh Cà Mau (có mặt).

  1. Bà Huỳnh Ngọc T, sinh năm: 1981. Địa chỉ: Số B, đường B, khóm C, phường E, thành phố C, tỉnh Cà Mau (có mặt).

· Người kháng cáo: Bà Lê Thị H1 là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Bà Huỳnh Ngọc T là người đại diện hợp pháp của nguyên đơn trình bày:

Bà Huỳnh Ngọc T và ông Nguyễn Văn S trước đây là vợ chồng chung sống với nhau có hai người con chung tên Nguyễn Huỳnh Hải L, sinh ngày 23/4/2011; Nguyễn Huỳnh Hải P, sinh ngày 20/01/2012. Năm 2019, bà T và ông S ly hôn. Sau khi ly hôn ông S cưới vợ tên là Huỳnh Thị T1, trong quá trình chung sống ông S và bà T1 có một người con chung tên Nguyễn Sơn H2, sinh năm 2022. Ngày 05/02/2022 ông S chết do đột tử nên không để lại di chúc. Hàng thừa kế thứ nhất của ông S hiện nay gồm ông Nguyễn Văn T2, bà Trần Thị H là cha mẹ ông S, bà Huỳnh Thị T1 là vợ ông S, Nguyễn Huỳnh Hải L, Nguyễn Huỳnh Hải P, Nguyễn Sơn H2 là con ông S.

Tài sản ông S để lại gồm có:

  1. Căn nhà và đất tọa lạc tại số A, Bùi Thị T3, khóm C, phường E, thành phố C, tỉnh Cà Mau.
  2. Số tiền tại Ngân hàng B là 67.000.000 đồng
  3. Số tiền tại Ngân hàng thương mại cổ phần C – Chi nhánh C1 là 7.363.071 đồng.

Các tài sản này hiện nay do bà T1 đang quản lý sử dụng. Nay bà T đại diện theo pháp luật của cháu Nguyễn Huỳnh Hải L, Nguyễn Huỳnh Hải P khởi kiện yêu cầu chia thừa kế giá trị căn nhà trên thành 06 kỷ phần bà T đại diện cho các nguyên đơn yêu cầu nhận 02 phần. Đối với số tiền gửi tại Ngân hàng T5 74.363.071đ bà T xác định là tài sản chung ông S, bà T1 nên yêu cầu chia cho bà T1 ½ số tiền trên là 37.181.000 đồng, còn lại 37.181.000 đồng chia thành 06 kỷ phần bằng nhau mỗi người nhận số tiền 6.196.000 đồng.

Bà Huỳnh Thị T1 là bị đơn trình bày:

Bà và ông Nguyễn Văn S kết hôn vào ngày 13/11/2020 tại Ủy ban nhân dân phường E, thành phố C. Quá trình chung sống có 01 người con chung tên Nguyễn Sơn H2, sinh ngày 13/01/2022. Đến ngày 05/02/2022 ông S chết không để lại di chúc.

Trước khi chết ông S có một số tài sản riêng gồm:

  1. 01 căn nhà và đất có diện tích 152,21m² thuộc thửa số 47, tờ bản đồ số 17, tọa lạc tại số A, Bùi Thị T3, khóm D, phường E, thành phố C;
  2. Số tiền tại Ngân hàng B là 67.000.000 đồng nhưng hiện đã bị trừ các khoản phí hiện còn lại 65.806.000₫
  3. Số tiền tại Ngân hàng thương mại cổ phần C – Chi nhánh C1 là 7.363.071 đồng.
  4. Bà T1 xác định ông S còn phần tài sản hiện bà T đang quản lý là số tiền theo quyết định công nhận kết quả hòa giải thành tại Tòa án do bà Huỳnh Ngọc T còn nợ ông Nguyễn Văn S là 250.000.000 đồng. Do đó bà T1 có đơn khởi kiện yêu cầu bà T phải hoàn trả lại số tiền này.

Ngoài ra bà T1 còn xác định ông S còn nợ cá nhân:

  1. Nợ Ngân hàng TMCP N1 – Chi nhánh C1 số tiền vốn và lãi tính đến ngày xét xử là: 774.679.395 đồng.
  2. Nợ ông Nguyễn Việt K số tiền 98.000.000 đồng
  3. Nợ bà Nguyễn Cẩm L1 số tiền 100.000.000 đồng.
  4. Nợ bà Nguyễn Thị H3 10 lượng vàng SJC
  5. Nợ ông Nguyễn Văn K2 số tiền 200.000.000 đồng.
  6. Nợ ông Nguyễn Hoàng N số tiền 403.000.000đ.

Nay bà T là người đại diện hợp pháp của hai cháu L và P khởi kiện yêu cầu chia thừa kế đối với phần tài sản của ông S bà đồng ý. Nhưng bà yêu cầu những người thuộc hàng thừa kế của ông S cùng có trách nhiệm thanh toán các khoản nợ trên của ông S và yêu cầu bà T trả số tiền 250.000.000 đồng để chia thừa kế theo quy định pháp luật. Yêu cầu chia thừa kế theo pháp luật các tài sản của ông S để lại thành 06 kỷ phần bằng nhau bà yêu cầu được nhận nhà và đất tọa lạc tại số A, Bùi Thị T3, khóm D, phường E, thành phố C, tỉnh Cà Mau với giá theo thỏa thuận của các đương sự là 3.500.000.000đ, bà đồng ý hoàn lại giá trị còn lại cho các đồng thừa kế. Tại phiên tòa bà T1 yêu cầu rút lại yêu cầu bà T trả lại cho ông S 250.000.000₫.

Người đại diện theo ủy quyền của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn T2 và bà Trần Thị H trình bày:

Ông Nguyễn Văn T2 và bà Trần Thị H là cha, mẹ ruột của ông Nguyễn Văn S. Đối với yêu cầu chia thừa kế của ông bà T là đại diện cho hai cháu P và L thì ông T2, bà H đồng ý chia các di sản do ông S chết để lại thành 06 phần cho những người hàng thừa kế thứ nhất của ông S và thống nhất giao các tài sản cho chị T1 quản lý:

  1. Căn nhà và đất tọa lạc tại số A, Bùi Thị T3, khóm C, phường E, thành phố C, tỉnh Cà Mau.
  2. Số tiền tại Ngân hàng B là 65.806.000₫
  3. Số tiền tại Ngân hàng thương mại cổ phần C – Chi nhánh C1 là 7.363.071 đồng.

Thống nhất giá trị nhà là 3.500.000.000đ. Nhưng ông bà xác định ông S còn các khoản nợ cụ thể: Nợ Ngân hàng TMCP N1 – Chi nhánh C1 số tiền vốn và lãi tính đến ngày xét xử là: 774.679.395 đồng; nợ ông Nguyễn Việt K số tiền 98.000.000 đồng; nợ bà Nguyễn Cẩm L1 số tiền 100.000.000 đồng; nợ bà Nguyễn Thị H3 10 lượng vàng SJC; nợ ông Nguyễn Văn K2 số tiền 200.000.000 đồng; nợ ông Nguyễn Hoàng N số tiền 403.000.000đ nên yêu cầu trước khi chia thừa kế thì phải thanh toán hết các khoản nợ trên của ông S, còn lại bao nhiêu mới chia thừa kế theo quy định.

Ông Hồng Quốc D là đại diện hợp pháp của Ngân hàng TMCP N1 là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trình bày:

Vào năm 2021, giữa Ngân hàng TMCP N1 và ông Nguyễn Văn S có ký hợp đồng cho vay hạn mức số 870-2021/HDCV-CMA-TN ngày 16/6/2021 với số tiền 700.000.000 đồng. Mục đích vay thanh toán tiền mua nhà ở đất ở. Thời hạn vay 240 tháng từ ngày tiếp theo ngày giải ngân vốn vay/từng lần nhận nợ. Lãi suất cho vay được xác định tại thời điểm giải ngân vốn cho vay theo thông báo lãi suất cho vay của Ngân hàng trong từng thời kỳ và được ghi trên từng giấy nhận nợ. Lãi phạt quá hạn: 150% lãi suất cho vay trong hạn. Tính đến thời điểm hiện tại ông S còn nợ lại Ngân hàng số tiền vốn 623.025.080 đồng, lãi trong hạn là 63.373.887 đồng, lãi phạt 768.153 đồng.

Ngày 19/7/2021, giữa Ngân hàng TMCP N1 và ông Nguyễn Văn S có ký hợp đồng cho vay hạn mức số 1074-2021/HDCV-CMA-TN với số tiền 100.000.000 đồng. Mục đích vay xây sửa nhà ở. Thời hạn vay 120 tháng từ ngày tiếp theo ngày giải ngân vốn vay/từng lần nhận nợ. Lãi suất cho vay được xác định tại thời điểm giải ngân vốn cho vay theo thông báo lãi suất cho vay của Ngân hàng trong từng thời kỳ và được ghi trên từng giấy nhận nợ. Lãi phạt quá hạn: 150% lãi suất cho vay trong hạn. Tính đến thời điểm hiện tại ông S còn nợ lại Ngân hàng số tiền vốn 79.125.000 đồng, lãi trong hạn là 8.151.393 đồng, lãi quá hạn 235.882 đồng.

Tài sản thế chấp cho các khoản vay trên là Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số 5901041810 do Ủy ban nhân dân tỉnh C cấp ngày 09/01/2004 (ghi nhận thay đổi, chuyển nhượng cho ông Nguyễn Văn S ngày 02/6/2021) theo Hợp đồng thế chấp số 870-2021/HĐTC-CMA-TN ngày 16/6/2021. Ông S chết vào tháng 02/2022, kể từ khi ông S chết đến nay, ông Nguyễn Hoàng N là em trai ông S là người trả nợ thay cho ông S. Hiện nay tài sản thế chấp đang được các đương sự yêu cầu chia thừa kế.

Nay Ngân hàng đã yêu cầu những người thừa kế của ông S có trách nhiệm thanh toán nghĩa vụ nợ của ông S đối với Ngân hàng.

Trường hợp những người thừa kế không thực hiện nghĩa vụ thay cho ông S yêu cầu xử lý tài sản đảm bảo để thu hồi nợ cho ông S theo quy định pháp luật.

Trường hợp phải xử lý tài sản thế chấp là Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số 5901041810 của ông S, Ngân hàng được hưởng quyền ưu tiên thanh toán trước nhất, đảm bảo tất toán và hoàn thành nghĩa vụ trả nợ đối với khoản vay hiện tại của ông Nguyễn Văn S.

Hiện các đương sự thỏa thuận giao nợ cho bà T1 thanh toán xong bà T1 được nhận tài sản đang thế chấp Ngân hàng thống nhất sau khi bà T1 thanh toán xong Ngân hàng sẽ giao trả tài sản thế chấp là giấy chứng nhận quyền sử dụng, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số 5901041810 do Ủy ban nhân dân tỉnh C cấp ngày 09/01/2004 cho bà T1 quản lý.

Ông Nguyễn Hoàng N là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án có yêu cầu độc lập trình bày:

Ông là em ruột của ông Nguyễn Văn S, trong thời gian ông S bệnh, ông là người chi trả các khoản viện phí và chi phí xe di chuyển, tổng số tiền là 241.000.000 đồng. Ngoài ra ông còn đóng lãi cho khoản vay của ông S tại Ngân hàng TMCP N1 đến tháng 8/2023 là 162.000.000 đồng. Nay ông yêu cầu những người thừa kế của ông Nguyễn Văn S phải trả cho ông tổng số tiền là 403.000.000 đồng.

Bà Lê Thị H1 là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án có yêu cầu độc lập trình bày:

Bà là mẹ của bà Huỳnh Thị T1 và là mẹ vợ của ông Nguyễn Văn S. Vào ngày 26/5/2021, ông S có đến hỏi mượn bà 10 lượng vàng SJC và bà đã đưa cho ông S mượn số vàng này. Nay bà yêu cầu những người thừa kế của ông S có nghĩa vụ trả cho bà số vàng trên.

Ông Nguyễn Văn K2 là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập trình bày:

Vào ngày 23/5/2021, ông có cho ông Nguyễn Văn S mượn số tiền 90.000.000 đồng và ngày 10/6/2021, ông có cho ông S mượn thêm số tiền 110.000.000 đồng. Tổng cộng là 200.000.000 đồng. Nay ông S chết, hiện bà T là người đại diện cho cháu L và cháu P yêu cầu chia thừa kế do ông S để lại. Do đó, ông yêu cầu những người thừa kế của ông S phải cùng có trách nhiệm thanh toán cho ông số tiền 200.000.000 đồng.

Bà Nguyễn Cẩm L1 là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án có yêu cầu độc lập trình bày:

Vào ngày 29/5/2021, bà có cho ông Nguyễn Văn S mượn số tiền 100.000.000 đồng để mua căn nhà số A, đường B, khóm C, phường E, thành phố C. Nay ông S chết, bà Huỳnh Ngọc T là người đại diện theo pháp luật của cháu L và cháu P yêu cầu chia thừa kế tài sản cho ông S để lại. Bà yêu cầu những người thừa kế của ông S phải có nghĩa vụ thanh toán cho bà số tiền 100.000.000 đồng.

Ông Nguyễn Việt K là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án có yêu cầu độc lập trình bày:

Vào ngày 18/3/2020, ông có cho ông Nguyễn Văn S là cậu vợ của ông mượn số tiền 98.000.000 đồng, khi mượn không có làm giấy biên nhận nhưng ông có chuyển khoản cho ông S bằng số tài khoản của ông tại Ngân hàng TMCP P1 chuyển qua tài khoản của ông S tại Ngân hàng C. Nay ông S đã chết, ông yêu cầu những người thừa kế của ông S phải thanh toán cho ông số tiền 98.000.000 đồng. Do bận công việc nên ông xin vắng mặt tất cả các giai đoạn tố tụng của Tòa án.

Từ nội dung trên, Bản án dân sự sơ thẩm số: 269/2024/DS-ST ngày 29 tháng 8 năm 2024 của Toà án nhân dân thành phố Cà Mau đã quyết định:

Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của cháu Nguyễn Huỳnh Hải L, Nguyễn Huỳnh Hải P do bà Huỳnh Ngọc T làm đại diện. Chia thừa kế đối với phần di sản của ông Nguyễn Văn S để lại gồm: Căn nhà và đất lạc tại số A, Bùi Thị T3, khóm C, phường E, thành phố C, tỉnh Cà Mau theo giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số 5901041810 do Ủy ban nhân dân tỉnh C cấp ngày 09/01/2004 (chỉnh lý sang cho ông Nguyễn Văn S ngày 02/6/2021) và tổng số tiền 73.169.000 đồng tại các tài khoản Ngân hàng.

  1. Giao căn nhà và đất lạc tại số A, Bùi Thị T3, khóm C, phường E, thành phố C, tỉnh Cà Mau theo giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số 5901041810 do Ủy ban nhân dân tỉnh C cấp ngày 09/01/2004 (chỉnh lý sang cho ông Nguyễn Văn S ngày 02/6/2021) và tổng số tiền 73.169.000 đồng tại khoản của ông Nguyễn Văn S tại Ngân hàng B và Ngân hàng thương mại cổ phần C – Chi nhánh C1 cho bà Huỳnh Thị T1.

Buộc bà Huỳnh Thị T1 có trách nhiệm thanh toán: Ngân hàng TMCP N1 – Chi nhánh C1 số tiền vốn và lãi đến ngày xét xử là 774.679.395 đồng. Thanh toán cho ông Nguyễn Việt K số tiền 98.000.000 đồng; Thanh toán cho bà Nguyễn Cẩm L1 số tiền 100.000.000 đồng; Thanh toán cho bà Lê Thị H1 300.000.000đ; Thanh toán cho ông Nguyễn Văn K2 số tiền 200.000.000 đồng; Thanh toán cho ông Nguyễn Hoàng N số tiền 403.000.000 đồng.

Buộc bà Huỳnh Thị T1 có trách nhiệm giao trả cho ông Nguyễn Văn T2, bà Trần Thị H, cháu Nguyễn Huỳnh Hải L, Nguyễn Huỳnh Hải P, Nguyễn Sơn H2 mỗi người một kỷ phần bằng giá trị là 282.914.000 đồng. Đối với số tiền của cháu Nguyễn Huỳnh Hải L, Nguyễn Huỳnh Hải P giao cho bà Huỳnh Ngọc Thanh quản L2. Đối với số tiền của cháu Nguyễn Sơn H2 sẽ do bà Huỳnh Thị T1 quản lý.

Bà Huỳnh Thị T1 được đăng ký kê khai và toàn quyền sử dụng di sản thừa kế sau khi đã thực hiện xong các nghĩa vụ đối với các nguyên đơn và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

Buộc Ngân hàng thương mại cổ phần N1 phải có nghĩa vụ trả lại cho bà Huỳnh Thị T1 bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số 5901041810 do Ủy ban nhân dân tỉnh C cấp ngày 09/01/2004 (ghi nhận thay đổi, chuyển nhượng cho ông Nguyễn Văn S ngày 02/6/2021) tọa lạc tại khóm C, phường E, thành phố C, tỉnh Cà Mau khi thanh toán dứt nợ.

  1. Đình chỉ yêu cầu phản tố của bà Huỳnh Thị T1 yêu cầu bà Huỳnh Ngọc Thanh thanh T4 số tiền 250.000.000 đồng.

Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên về lãi suất do chậm thi hành, chi phí tố tụng, án phí và quyền kháng cáo của các đương sự.

Ngày 13 tháng 9 năm 2024 người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Lê Thị H1 có đơn kháng cáo. Nội dung kháng cáo không đồng ý với quyết định của bản án sơ thẩm về việc buộc bà Huỳnh Thị T1 thanh toán cho bà H1 số tiền 300.000.000 đồng và yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau sửa một phần Bản án dân sự sơ thẩm số 269/2024/DS-ST ngày 29 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu độc lập của bà H1 buộc những người thừa kế quyền, nghĩa vụ tố tụng của ông S là bà Huỳnh Thị T1, Trần Thị H, Nguyễn Văn T2, Nguyễn Sơn H2 (do bà T1 là người đại diện theo pháp luật) cùng có trách nhiệm thanh toán cho bà H1 10 lượng vàng SJC.

Tại phiên toà phúc thẩm người kháng cáo là bà Lê Thị H1 vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm:

Về thủ tục tố tụng: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán trong quá trình giải quyết vụ án, của Hội đồng xét xử và những người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng tại phiên tòa là đúng theo quy định pháp luật.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 3 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, hủy Bản án dân sự sơ thẩm số: 269/2024/DS-ST ngày 29 tháng 8 năm 2024 của Toà án nhân dân thành phố Cà Mau, giao hồ sơ vụ án về Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau để giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm, do giải quyết không đúng với yêu cầu độc lập của bà H1 làm ảnh hưởng đến quyền lợi của các đồng thừa kế trong vụ án.

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa phúc thẩm; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của những người tham gia tố tụng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Xét về quan hệ tranh chấp giữa các đương sự là yêu cầu khởi kiện tranh chấp yêu cầu chia thừa kế quyền sử dụng đất nên Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau thụ lý và giải quyết vụ án dân sự là đúng thẩm quyền.

[2] Tại đơn kháng cáo cũng như tại phiên tòa phúc thẩm bà H1 kháng cáo cho rằng bản án sơ thẩm quyết định buộc bà Huỳnh Thị T1 thanh toán cho bà H1 số tiền 300.000.000 đồng là không đúng nên bà không đồng ý vì thực tế bà cho mượn vàng nên bà chỉ khởi kiện đòi lại 10 lượng vàng SJC. Bà H1 yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau sửa một phần Bản án dân sự sơ thẩm số 269/2024/DS-ST ngày 29/8/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu độc lập của bà H1 buộc những người thừa kế quyền, nghĩa vụ tố tụng của ông S là bà Huỳnh Thị T1, Trần Thị H, Nguyễn Văn T2, Nguyễn Sơn H2 (do bà T1 đại diện theo pháp luật) cùng có trách nhiệm thanh toán cho bà H1 10 lượng vàng SJC.

Tại phiên tòa phúc thẩm bà H1 tiếp tục khẳng định bà chỉ khởi kiện yêu cầu các đồng thừa kế trả 10 lượng vàng SJC, bà không khởi kiện yêu cầu trả số tiền 300.000.000 đồng và cũng không có yêu cầu gì khác. Bà H1 cho rằng bà cho ông S mượn vàng nhưng bà cũng xác định là không cung cấp được chứng cứ và tài liệu chứng minh bà có cho ông S mượn vàng. Bà H1 cũng khẳng định bà nhận thức được cấp sơ thẩm căn cứ vào nội dung tin nhắn của anh S do chị T1 cung cấp từ đó tuyên buộc chị T1 trả cho bà 300.000.000 đồng là có lợi cho bà. Tuy nhiên do đây là số vàng bà dành để dưỡng già nên bà vẫn giữ yêu cầu cấp phúc thẩm xem xét giải quyết yêu cầu theo đơn khởi kiện của bà.

Theo trình bày của bà T1 thì bà khẳng định ông S chỉ mượn của bà H1 10 lượng vàng chứ không mượn của bà H1 số tiền 300.000.000 đồng, tin nhắn do bà T1 cung cấp có nội dung ông S mượn bà H1 300.000.000 đồng nhưng thực tế bà H1 chưa đưa cho ông S khoản tiền này do bà H1 không có tiền mặt.

Như vậy án sơ thẩm giải quyết buộc bà T1 trả số tiền 300.000.000 đồng cho bà H1 là có lợi cho bà H1 nhưng không đúng yêu cầu khởi kiện của bà H1 và làm ảnh hưởng đến nội dung phân chia di sản thừa kế cho các đồng thừa kế trong vụ án.

Do sai sót nêu trên nên cấp phúc thẩm không thể khắc phục được nên cần thiết phải hủy toàn bộ Bản án dân sự sơ thẩm số: 269/2024/DS-ST ngày 29 tháng 8 năm 2024 của Toà án nhân dân thành phố Cà Mau, giao hồ sơ vụ án về Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau để giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm. Do hủy án nên không xem xét kháng cáo của bà H1.

[3] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tại phiên tòa là phù hợp với nhận định trên nên được Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận.

[4] Án phí dân sự sơ thẩm và các chi phí tố tụng khác được giữ lại và sẽ được xử lý khi giải quyết lại vụ án.

[5] Án phí dân sự phúc thẩm: Người kháng cáo là bà Lê Thị H1 không phải chịu, đã được xét miễn dự nộp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 308, Điều 310 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Hủy bản án dân sự sơ thẩm số: 269/2024/DS-ST ngày 29 tháng 8 năm 2024 của Toà án nhân dân thành phố Cà Mau. Giao hồ sơ vụ án về Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau để giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.
  2. Án phí dân sự sơ thẩm và các chi phí tố tụng khác được giữ lại và sẽ được xử lý khi giải quyết lại vụ án.
  3. Án phí dân sự phúc thẩm: Bà Lê Thị H1 không phải chịu, đã được xét miễn dự nộp.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau;
  • - Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau;
  • - Chi cục THADS thành phố Cà Mau;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ;
  • - Lưu án văn;
  • - Lưu VT(TM:TANDTCM).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Châu Minh Hoàng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 107/2025/DS-PT ngày 13/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU về tranh chấp chia thừa kế

  • Số bản án: 107/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp chia thừa kế
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 13/03/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Hủy bản án sơ thẩm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger