Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TP. LONG KHÁNH TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 107/2024/HS-ST

Ngày 10/7/2024.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG KHÁNH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm:

  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Phạm Thị Vân Khánh

Các Hội thẩm nhân dân:

  • Ông Phạm Quốc Thân, Cán bộ hưu trí.

  • Bà Nguyễn Thị Diệu Hiền, Nguyên bí thư Đoàn xã Bàu Trâm.

  • - Thư ký phiên tòa: ông Nguyễn Phi Hải, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Long Khánh, tỉnh Đồng Nai.

  • - Đại diện VKSND thành phố Long Khánh, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn K - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Long Khánh, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm, kín vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 122/2024/TLST-HS ngày 14 tháng 6 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 102/2024/QĐXXST-HS ngày 14/6/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 06/2024/HSST-QĐ ngày 27/6/2024.

Chí Viên L, sinh năm 1990, tại Đồng Nai. Nơi cư trú: khu phố T, phường B, thành phố L, tỉnh Đồng Nai; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Hoa; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam. Nghề nghiệp: Cơ khí; Trình độ học vấn: 10/12. Con ông Chí A N, sinh năm 1952 và bà Chềnh Mùn C, sinh năm 1950. Vợ tên Trần Thị Thu H (đã ly hôn), có 02 người con, lớn nhất sinh năm 2014, nhỏ nhất sinh năm 2017. Tiền án, tiền sự: không.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp tạm giữ từ ngày 04/3/2024 và tạm giam cho đến nay tại nhà tạm giữ Công an thành phố L, tỉnh Đồng Nai.

- Bị hại: cháu Hà Thị Ngọc B, sinh ngày 29/5/2013. Địa chỉ: số A đường N nối dài, khu phố F, phường X, thành phố L, tỉnh Đồng Nai.

- Người đại diện hợp pháp của bị hại: (1) ông Hà Văn Q (là cha ruột), sinh năm 1989. Địa chỉ: ấp G, xã S, huyện X, tỉnh Đồng Nai. (2) Bà Đỗ Thị Ngọc Đ (là mẹ ruột), sinh năm 1991. Địa chỉ thường trú: ấp T, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai. Địa chỉ liên lạc: số A đường N nối dài, khu phố F, phường X, thành phố L, tỉnh Đồng Nai.

- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại: bà Nguyễn Thị L1 – Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Đ.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: bà Chí Há M, sinh năm 1973. Địa chỉ: khu phố B, phường P, thành phố L, tỉnh Đồng Nai.

- 1 -

- Người làm chứng:

  1. Anh Cao H1, sinh năm 1989. Địa chỉ: tổ C, khu phố T, phường B, thành phố L, tỉnh Đồng Nai.

  2. Anh Phan Anh T, sinh năm 1992.Địa chỉ: khu phố B. phường B, thành phố L, tỉnh Đồng Nai.

(Bị cáo, bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại chị Đ, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt; những người làm chứng vắng mặt không có lý do)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Chí Viên L và chị Đỗ Thị Ngọc Đ, sinh năm 1991, ngụ ấp T, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai sống chung với nhau như vợ chồng nhưng không đăng ký kết hôn và ở nhà của L tại khu phố T, phường B, thành phố L, tỉnh Đồng Nai. Chị Đ có 01 con riêng là cháu Hà Thị Ngọc B, sinh ngày 29/5/2013 cũng về sống chung với chị tại nhà của L.

Vào khoảng đầu tháng 4/2023, L đi nhậu về nhà và đi vào phòng của L với chị Đ thì thấy cháu B đang nằm ngủ trong phòng, L đi đến và nằm cạnh cháu B. Sau đó, L dùng tay đưa vào bên trong quần cháu B và sờ vào âm đạo của cháu B, khi cháu B giật mình thì L đứng dậy bỏ đi. Đến khoảng 21 giờ (L không nhớ ngày) vào khoảng cuối tháng 4/2023, L tiếp tục đi vào phòng ngủ và thấy cháu B đang nằm ngủ, L tiếp tục đi đến nằm cạnh cháu B và đưa tay vào bên trong quần cháu Bích sờ xung quanh và bên ngoài vùng âm đạo của cháu B, được một lúc thì cháu B giật mình nên L không sờ nữa.

Đến khoảng 17 giờ (L không nhớ ngày) cuối tháng 2/2024, L đi nhậu về và đi vào phòng ngủ thì thấy cháu B đang nằm ngủ với con trai của L, L đóng cửa phòng lại rồi đi đến ngồi cạnh cháu B, L đưa tay vào trong quần cháu B rồi dùng ngón tay sờ bên ngoài và đút vào bên trong âm đạo cháu B nhiều lần, được một lúc thì L đứng lên và đi ra ngoài.

Đến ngày 03/03/2024, cháu B (về nhà của chị Đ chơi) thì gặp chị Đỗ Thị Ngọc L2, sinh năm 1993, ngụ ấp T, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai là em gái chị Đ, cháu B có kể lại cho chị L2 nghe về việc cháu bị L có hành vi sàm sở khi không có chị Đ ở nhà. Ngày 04/3/2024, chị Đ làm đơn tố cáo hành vi trên của L đến Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố L.

Tại bản kết luận giám định xâm hại tình dục ở trẻ emsố 0204/KLTDTE-TTPYĐN, ngày 05 tháng 03 năm 2024, Trung tâm P kết luận đồi với cháu Hà Thị Ngọc B:

Màng trinh hình khe, đường lỗ trinh 1,1 cm. màng trinh không rách, bờ mép màng trinh không phù nề, không xung huyết, không chảy máu.

Tại bản cáo trạng số: 109/CT-VKS-LK ngày 07/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Khánh truy tố bị cáo về tội “Dâm ô với người dưới 16 tuổi” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 146 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Long Khánh giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản Cáo trạng số: 109/CT-VKS-LK ngày 07/6/2024 và đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ Điều 146 Bộ luật hình sự đề nghị Hội đồng xét xử tuyến bố bị cáo Chí Viên L phạm tội: “Dâm ô với người dưới 16 tuổi”.

Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 146; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự. Đề nghị xử phạt: Bị cáo Chí V Lộc từ 04 (bốn) năm đến 05 (năm) giam.

- Về trách nhiệm dân sự: Đại diện hợp pháp của bị hại không yêu cầu gì thêm nên không xem xét giải quyết. Về trách nhiệm hình sự, quá trình điều tra, đại diện hợp pháp của bị hại đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

- Ý kiến của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại có ý kiến như sau: thống nhất với với Viện kiểm sát tội danh và điều luật áp dụng. Hành vi của bị cáo là nghiêm trọng, mặc dù bị cáo ý thức được cháu B còn nhỏ, bị cáo và mẹ cháu B có mối quan hệ vợ chồng nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi của mình nhằm thỏa mãn bản thân. Hành vi của bị cáo đã làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến danh dự, nhân phẩm cũng như tạo tâm lý bất an cho cháu B. Đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo mức án thật nghiêm khắc.

Về việc bồi thường dân sự: đã xong nên không có yêu cầu gì thêm.

Trước khi Hội đồng xét xử nghị án, các bị cáo nói lời sau cùng: Trong thời gian bị cáo bị tạm giam, bị cáo rất ân hận về hành vi của mình mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ mức hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. Về thủ tục tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố L, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Khánh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, bị hại, đại diện hợp pháp của bị hại, người làm chứng và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định.

  2. Lời khai của bị cáo L tại phiên tòa phù hợp với lời khai của chính bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với một phần lời khai của bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, đã xác định được: Trong khoảng thời gian từ tháng 4/2023 đến tháng 02/2024, tại nhà của bị cáo, bị cáo đã có 03 lần có hành vi dâm ô với bị hại cụ thể: Lần đầu tiên, bị cáo dùng tay đưa vào bên trong quần của bị hại và sờ vào âm đạo của bị hại; Lần thứ hai, bị cáo nằm cạnh và đưa tay vào bên trong quần của bị hại, sờ xung quanh và bên ngoài âm đạo của bị hại; Lần cuối cùng, bị cáo dùng ngón tay sờ bên ngoài và đút vào bên trong âm đạo của bị hại nhiều lần. Tại thời điểm bị cáo thực hiện hành vi thì cháu B là người dưới 16 tuổi (09 tuổi 11 tháng). Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với một phần lời khai của cháu B.

    Tại Điều 146 Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định: “Người nào đủ 18 tuổi trở lên mà có hành vi dâm ô đối với người dưới 16 tuổi không nhằm mục đích giao cấu hoặc không thực hiện các hành vi quan hệ tình dục khác, thì bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”.

    Hướng dẫn của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về hành vi dâm ô được quy định tại tiểu mục b, mục 3, Điều 3 của Nghị quyết 06/2019/NQ-HĐTP ngày 01 tháng 10 năm 2019 như sau:

    “...3. Dâm ô quy định tại khoản 1 Điều 146 của Bộ luật Hình sự là hành vi của những người cùng giới tính hoặc khác giới tính tiếp xúc về thể chất trực tiếp hoặc gián tiếp qua lớp quần áo vào bộ phận sinh dục, bộ phận nhạy cảm, bộ phận khác trên cơ thể của người dưới 16 tuổi có tính chất tình dục nhưng không nhằm quan hệ tình dục, gồm một trong các hành vi sau đây: (.....)

    b) Dùng bộ phận khác trên cơ thể (ví dụ: đụng chạm, cọ xát, chà xát,...) với bộ phận sinh dục, bộ phận nhạy cảm của người dưới 16 tuổi;....”

    Như vậy, hành vi của bị cáo L đã đủ yếu tố cấu thành tội: “Dâm ô đối với người dưới 16 tuổi” với tình tiết định khung “phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 146 Bộ luật Hình sự năm 2015. Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Khánh truy tố đối với bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không oan sai cho bị cáo.

    Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền được tôn trọng danh dự, nhân phẩm và sự phát triển bình thường về tình dục của người dưới 16 tuổi. Hành vi của bị cáo không chỉ làm ảnh hưởng đến tâm lý của cháu B, gây hoang mang, lo lắng mà còn ảnh hưởng đến tình hình an ninh, trật tự tại địa phương, do đó cần có mức hình phạt đủ nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ, hậu quả hành vi của bị cáo đã thực hiện, nhằm giáo dục bị cáo có ý thức chấp hành pháp luật và răn đe phòng ngừa chung cho xã hội.

  3. Xem xét các tình tiết tặng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo; tự nguyện bồi thường thiệt hại theo điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự (Sửa đổi, bổ sung năm 2017). Ngoài ra quá trình điều tra, đại diện hợp pháp của bị hại làm đơn đề nghị không truy cứu trách nhiệm hình sự cho bị cáo, nên áp dụng thêm cho bị cáo tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017).

  4. Về trách nhiệm dân sự: đại diện hợp pháp của bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại thêm, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

  5. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

  6. Ý kiến của đại diện Kiểm sát viên phù hợp với nhận định trên của Hội đồng xét xử, nên chấp nhận.

  7. Ý kiến của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại phù hợp với nhận định trên của Hội đồng xét xử, nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 146; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017).

- 4 -

Nghị quyết 06/2019/NQ-HĐTP ngày 01 tháng 10 năm 2019 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao, hướng dẫn áp dụng một số quy định tại các điều 141, 142, 143, 144, 145, 146, 147 của Bộ luật Hình sự năm 2015 và việc xét xử án xâm hại tình dục người dưới 18 tuổi.

Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Chí Viên L phạm tội " Dâm ô đối với người dưới 16 tuổi ".

  2. Về hình phạt: xử phạt bị cáo Chí Viên L 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 04/3/2024.

  3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

  4. Về quyền kháng cáo đối với Bản án: Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại, người bào chữa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày Tòa án tống đạt hợp lệ bản án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Đồng Nai;

  • - VKSND tỉnh Đồng Nai;

  • - Sở Tư pháp tỉnh Đồng Nai;

  • - Chi cục Thi hành án dân sự Tp Long Khánh;

  • - VKSND Tp Long Khánh;

  • - Bị cáo; Nhà tạm giữ CATp Long Khánh;

  • - Đương sự;

  • - CQ CSĐT Công an Tp Long Khánh;

  • - Lưu: Hồ sơ vụ án, án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Thị Vân Khánh

- 5 -

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 107/2024/HS-ST ngày 10/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG KHÁNH về dâm ô với người dưới 16 tuổi

  • Số bản án: 107/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Dâm ô với người dưới 16 tuổi
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 10/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG KHÁNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: 3 năm 6 tháng tù
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger