|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 107/2024/HNGĐ-ST Ngày 10-5-2024 V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Vân Thúy
Các Hội thẩm nhân dân:Ông Nguyễn Thanh Hải
Bà Nguyễn Thị Luyến
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Minh Ngọc - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Hinh - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xét xử công khai vụ án thụ lý số 74/2024/TLST-HNGĐ ngày 12 tháng 3 năm 2024 về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 63/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 28 tháng 3 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 47/2024/QĐST-HNGĐ ngày 15 tháng 4 năm 2024 và Thông báo thay đổi lịch phiên tòa số 27/TB-TA ngày 19 tháng 4 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Lê Thị Ngọc H; nơi cư trú: Thôn H, xã H, huyện A, thành phố Hải Phòng; vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt;
- Bị đơn: Anh Phạm Đình T; nơi đăng ký thường trú: Tổ M (hiện là số nhà C đường T), phường T, quận K, thành phố Hải Phòng; hiện đang cư trú tại Nga; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và bản tự khai, nguyên đơn là chị Lê Thị Ngọc H trình bày:
Chị và anh Phạm Đình T kết hôn trên cơ sở tự nguyện có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường T, quận K, thành phố Hải Phòng ngày 07 tháng 02 năm 2018. Quá trình chung sống, vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân chủ yếu do bất đồng về quan điểm, tính cách, vợ chồng không tin tưởng nhau. Mặc dù đã được hai bên gia đình và bạn bè khuyên giải, động viên nhưng đều không có kết quả. Hiện nay, anh T đang làm việc và sinh sống tại Nga, Chị H không biết chính xác địa chỉ của anh T tại Nga ở đâu nên không thể cung cấp được cho Tòa án. Tuy nhiên, chị H được biết anh vẫn thường xuyên liên lạc cho gia đình là ông Phạm Đình C và bà Đỗ Thị H1. Hiện chị H đã về nhà bố mẹ đẻ ở từ năm 2021, hai bên đã sống ly thân. Nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng thực sự trầm trọng, tình cảm không còn nên chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho được ly hôn anh Phạm Đình T.
Về con chung: Chị và anh Phạm Đình T có 03 con chung là Phạm Đình Tiên P, sinh ngày 11/9/2018, Phạm Tiên A, sinh ngày 16/4/2020 và Phạm Đình Tuấn K, sinh ngày 14/6/2021. Khi ly hôn, do các con còn nhỏ và anh T hiện đang ở nước ngoài nên chị H yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cả 03 con chung.
Về cấp dưỡng nuôi con: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đối với bị đơn là anh Phạm Đình T:
Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng đã tiến hành tống đạt, thông báo, niêm yết đầy đủ, hợp lệ các văn bản tố tụng qua bố mẹ đẻ của anh Phạm Đình T là ông Phạm Đình C và bà Đỗ Thị H1, cùng trú tại số nhà C đường T, tổ M, quận K, thành phố Hải Phòng. Toà án đã đề nghị gia đình anh T cung cấp địa chỉ của anh thì được ông bà thông tin: Hiện nay, anh T đang ở Nga, vẫn liên lạc thường xuyên về cho gia đình và gia đình đã thông báo việc Toà án đang giải quyết ly hôn giữa anh T và chị H theo yêu cầu của chị H nhưng vì lý do công việc, anh T không thể trở về Việt Nam để giải quyết ly hôn được, cũng không có tài liệu, văn bản trình bày nào gửi về để cung cấp cho Toà án. Về địa chỉ cụ thể của anh T hiện nay gia đình không nắm được, đề nghị Toà án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Quan điểm của ông Phạm Đình C và bà Đỗ Thị H1 (là bố mẹ đẻ anh Phạm Đình T) như sau:
Về quan hệ hôn nhân: Trong gia đình, con trai ông bà là anh Phạm Đình T kết hôn với chị Lê Thị Ngọc H trên cơ sở tự nguyện có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường T, quận K, thành phố Hải Phòng vào năm 2018. Quá trình chung sống, thời gian đầu, anh chị chung sống với nhau ở nước Nga, vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian thì bắt đầu xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân chủ yếu do bất đồng quan điểm sống, tính cách không phù hợp. Sau đó, chị H trở về Việt Nam sinh sống, vợ chồng mỗi người ở một nơi, anh chị đã ly thân một thời gian dài. Hai bên gia đình cũng đã cố gắng hòa giải mâu thuẫn nhưng không đạt kết quả. Nay chị H làm đơn đề nghị xin ly hôn với anh T, gia đình đề nghị Toà án giải quyết theo quy định của pháp luật. Về con chung: Anh Phạm Đình T và chị Lê Thị Ngọc H có 03 con chung là Phạm Đình Tiên P, sinh ngày 11/9/2018, Phạm Tiên A, sinh ngày 16/4/2020 và Phạm Đình Tuấn K, sinh ngày 14/6/2021 hiện đều đang ở cùng với chị H. Khi ly hôn, bố mẹ anh T đề nghị Tòa án giao cả 03 con chung cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng vì anh T hiện đang ở nước ngoài, còn ông bà lại hay đau ốm nên không có thời gian chăm sóc con hộ anh T. Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con và tài sản chung: Gia đình không nắm được đề nghị Toà án giải quyết theo pháp luật.
Phát biểu của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án: Thẩm phán, Hội đồng xét xử cấp sơ thẩm đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; nguyên đơn đã thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; các đương sự đều vắng mặt tại phiên tòa, nguyên đơn có đơn xin vắng mặt, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa không có lý do mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai. Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn là đúng theo quy định tại Điều 227, Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về quan điểm giải quyết vụ án: Căn cứ Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân gia đình, đề nghị Hội đồng xét xử cho chị Lê Thị Ngọc H được ly hôn anh Phạm Đình T. Về con chung: Giao ba con chung là cháu Phạm Đình Tiên P, sinh ngày 11/9/2018, cháu Phạm Tiên A, sinh ngày 16/4/2020 và cháu Phạm Đình Tuấn K, sinh ngày 14/6/2021 cho chị Lê Thị Ngọc H trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Về việc cấp dưỡng nuôi con chung và về tài sản chung, chị Lê Thị Ngọc H không yêu cầu giải quyết nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết. Ngoài ra đề nghị giải quyết về án phí và quyền kháng cáo theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi xem xét các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
- Về tố tụng:
[1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Chị Lê Thị Ngọc H có đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn và nuôi con chung khi ly hôn với anh Phạm Đình T. Anh Phạm Đình T có đăng ký hộ khẩu thường trú và có nơi cư trú cuối cùng ở thành phố Hải Phòng, hiện đang sinh sống ở Nga, chị Lê Thị Ngọc H hiện nay đang sinh sống tại thành phố Hải Phòng. Do đó quan hệ pháp luật trong vụ án là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”, theo quy định tại khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 37; điểm a khoản 1 Điều 40; điểm d khoản 1 Điều 469 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Toà án nhân dân quận Kiến An, thành phố Hải Phòng đã chuyển hồ sơ vụ án cho Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng giải quyết theo đúng thẩm quyền là có căn cứ.
[2] Về việc vắng mặt của đương sự: Chị Lê Thị Ngọc H vắng mặt và có đề nghị xét xử vắng mặt. Anh Phạm Đình T vắng mặt tại địa phương, sinh sống ở nước ngoài nhưng không cung cấp địa chỉ cho Tòa án và nguyên đơn biết. Tòa án đã thực hiện việc tống đạt, niêm yết các văn bản tố tụng thông qua nhân thân của anh T là ông Phạm Đình C và bà Đỗ Thị H1. Anh T đã biết các văn bản tố tụng của Tòa án nhưng anh T vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai. Căn cứ vào Điều 227, Điều 228, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.
- Về nội dung:
[3] Về quan hệ hôn nhân: Tài liệu trong hồ sơ vụ án thể hiện: Chị Lê Thị Ngọc H kết hôn với anh Phạm Đình T trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường T, quận K, thành phố Hải Phòng vào ngày 07/02/2018. Theo Điều 8, Điều 9 của Luật Hôn nhân và Gia đình, đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Căn cứ vào lời khai của chị H và bố đẻ của anh T xét thấy quá trình chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, tính cách không phù hợp, dù được hai bên gia đình khuyên bảo, hòa giải nhưng không thành. Như vậy nhận thấy mâu thuẫn giữa anh T và chị H đã trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, anh chị đã ly thân trong một thời gian dài nên cần áp dụng Điều 51, Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình, chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Lê Thị Ngọc H đối với anh Phạm Đình T.
[4] Về con chung: Chị Lê Thị Ngọc H và anh Phạm Đình T có 03 con chung là cháu Phạm Đình Tiên P, sinh ngày 11/9/2018, cháu Phạm Tiên A, sinh ngày 16/4/2020 và cháu Phạm Đình Tuấn K, sinh ngày 14/6/2021. Ly hôn, chị H đề nghị giao cả 03 con chung cho chị H được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Xét thấy, anh T hiện đang ở nước ngoài, không có địa chỉ cụ thể, hiện nay cả 03 con chung đều đang ở với mẹ, chị H vẫn đảm bảo việc chăm sóc và nuôi dạy các con. Do đó, chị H yêu cầu giao 03 con chung cho chị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng là phù hợp với quy định tại Điều 81 của Luật Hôn nhân và Gia đình nên cần được chấp nhận. Về cấp dưỡng nuôi con, chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
[5] Về tài sản chung: Chị Lê Thị Ngọc H không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản chung nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
[6] Về án phí ly hôn sơ thẩm: Chị Lê Thị Ngọc H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định pháp luật.
[7] Về quyền kháng cáo: Chị Lê Thị Ngọc H và anh Phạm Đình T được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 37; điểm a khoản 1 Điều 40; khoản 4 Điều 147; Điều 207; khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 238; Điều 273; điểm d khoản 1 Điều 469; Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 51; khoản 1 Điều 56; Điều 81; Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình;
Căn cứ khoản 5 Điều 27 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội,
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị Ngọc H.
- Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Lê Thị Ngọc H được ly hôn anh Phạm Đình T.
- Về con chung: Giao ba con chung là cháu Phạm Đình Tiên P, sinh ngày 11/9/2018, cháu Phạm Tiên A, sinh ngày 16/4/2020 và cháu Phạm Đình Tuấn K, sinh ngày 14/6/2021 cho chị Lê Thị Ngọc H trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi các con chung đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.
Sau khi ly hôn, không ai được cản trở quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.
- Về tài sản chung: Chị Lê Thị Ngọc H không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản chung nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
- Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị Lê Thị Ngọc H phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm đã nộp là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0003870 ngày 17 tháng 10 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Kiến An, thành phố Hải Phòng. Chị Lê Thị Ngọc H đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo:
Chị Lê Thị Ngọc H (vắng mặt) được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc niêm yết.
Anh Phạm Đình T (vắng mặt) được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 (một) tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc niêm yết.
Trường hợp Bản án được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Vân Thúy |
Bản án số 107/2024/HNGĐ-ST ngày 10/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Số bản án: 107/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/05/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lê Thị Ngọc H - Phạm Đình T
