Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 107/2024/DS- PT

Ngày: 10/5/2024

“Tranh chấp hợp đồng đặt cọc”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG

Thành phần hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán- chủ toạ phiên toà: Ông Đặng Văn Quyết.

Các thẩm phán: Ông Nguyễn Hà Giang

Bà Triệu Thị Luyện

Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hà Giang - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang: Bà Nguyễn Thị Tuyết - Kiểm sát viên trung cấp.

Trong ngày 10/5/2024, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 331/2023/TLPT- DS ngày 13 tháng 12 năm 2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng đặt cọc”.

Do bản án dân sự sơ thẩm số 72/2023/DS-ST ngày 06/10/2023 của Toà án nhân dân huyện Yên Thế bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 70C/2024/QĐ-PT ngày 15/02/2024; Thông báo thay đổi thời gian mở phiên tòa số 88/2024/TB-TA ngày 13/3/2024; Quyết định hoãn phiên tòa phúc thẩm số 122/2024/QĐ- PT ngày 10/4/2024 giữa:

- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn T năm 1967; Địa chỉ: Tổ dân phố B, thị trấn P, huyện Y, tỉnh Bắc Giang- Có mặt.

Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn (ông T Ông Nguyễn Khắc P– Luật sư Công ty Lthuộc đoàn luật sư tỉnh B- có mặt.

- Bị đơn: Ông Dương Văn C năm 1964; Địa chỉ: Tổ dân phố C, thị trấn P, huyện Y, tỉnh Bắc Giang- Có mặt.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

  1. Bà Đoàn Thị C1 năm 1969 (vợ ông T1 chỉ: Tổ dân phố B, thị trấn P, huyện Y, tỉnh Bắc Giang- Có mặt.
  2. Bà Nguyễn Thị Đ năm 1957; Địa chỉ: Tổ dân phố C, thị trấn P, huyện Y, tỉnh Bắc Giang- Có mặt.
  3. Bà Dương Thị D năm 1971; Địa chỉ: Tổ dân phố C, thị trấn P, huyện Y, tỉnh Bắc Giang- Có mặt.

Người kháng cáo: Bị đơn ông Dương Văn C2.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện, bản tự khai và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án cũng như tại phiên tòa nguyên đơn (ông Nguyễn Văn T2 bày:

Mối quan hệ giữa ông và gia đình ông C3 quan hệ hàng xóm láng giềng, trước đây là cùng làng, nay tách ra ở hai tổ dân phố khác nhau. Ngày 20/3/2022, ông được bà Nguyễn Thị Đ1(là chị gái ông ) cho biết gia đình ông C4 bán 01 mảnh đất. Vợ chồng ông đã đến nhà ông C5 hệ mua. Sau khi trao đổi, ông Có trí bán cho ông 01 mảnh đất khoảng 1400m2, trong đó có 70m2 đất thổ cư. Thửa đất này nằm trong tổng diện tích đất ở và đất vườn của ông CCùng ngày 20/3/2022, vợ chồng ông C7 hợp đồng đặt cọc với vợ chồng ông. Nội dung hợp đồng đặt cọc ghi “Bên A nhất trí bán cho bên B thửa đất số 4, tờ bản đồ số 9”, địa chỉ thửa đất ở tổ dân phố C, thị trấn P, Y ghi diện tích là bao nhiêu m2; giá chuyển nhượng là 1.485.000.000đ (Một tỷ bốn trăm tám mươi lăm triệu đồng), không ghi thời hạn đặt cọc trong hợp đồng. Gia đình ông đã đặt cọc cho vợ chồng ông C200 triệu đồng và trả thêm 2.000.000₫ (Hai triệu đồng) tiền cây bạch đàn trồng trên đất; tổng số tiền ông C8 của ông là 202.000.000₫ (Hai trăm linh hai triệu đồng).

Khi hai bên thỏa thuận đặt cọc, phía ông Chà D1 định thửa đất đặt cọc để chuyển nhượng cho vợ chồng ông trước đây có tranh chấp với ông Dương Văn H hàng xóm của gia đình ông C9 đã được Tòa án nhân dân huyện Yên Thế và Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang giải quyết xong, bản án đã có hiệu lực pháp luật, nên không còn có tranh chấp gì nữa. Nên vợ chồng ông tin tưởng mới nhất trí ký hợp đồng đặt cọc với vợ chồng ông C

Thời điểm hai bên ký kết hợp đồng đặt cọc thì giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông C10 thế chấp ở Ngân hàng, ông C8 của ông tiền cọc đã ra Ngân hàng thanh toán tiền vay và lấy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất về đưa cho ông để đi làm thủ tục để ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất.

Tuy nhiên, sau một thời gian ông đi làm giấy tờ chuyển quyền sử dụng đất, ông có thuê ông T3(chuyên làm về việc đo đạc đất) về đo đạc thửa đất này, ông Tícó bảo ông đất đang có tranh chấp không làm thủ tục chuyển quyền được, lúc này ông mới được biết thửa đất của ông C11 nhượng cho ông đang có tranh chấp từ năm 2021 đến nay chưa giải quyết xong nên không thể làm thủ tục chuyển quyền được. Ông và ông C12 đã đến UBND thị trấn P về thủ tục chuyển nhượng QSD đất và cán bộ địa chính UBND xã cũng trả lời cho ông và ông C13 thửa đất của ông C14 có tranh chấp, không thể làm thủ tục chuyển nhượng được. Sau đó vợ ông và bà Đ2 đến đặt vấn đề với ông C15 Dvề việc không tiếp tục mua đất nữa, bà D2 bảo chuyển trả cho vợ chồng ông 80 triệu và yêu cầu ông trả lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng hai bên không thống nhất được việc này.

Do hai bên không thỏa thuận được về việc chấm dứt hợp đồng đặt cọc nên ông đã làm đơn khởi kiện, yêu cầu Tòa án tuyên bố Hợp đồng đặt cọc ngày 20/3/2022 giữa vợ chồng ông và vợ chồng ông Dương Văn C16 vô hiệu. Buộc vợ chồng ông Dương Văn C17 thanh toán trả cho ông số tiền cọc 202.000.000₫ (Hai trăm linh hai triệu đồng) và phải bồi thường cho ông T4 C1400.000.000₫ (Bốn trăm triệu đồng); tổng cộng là 602.000.000₫ (Sáu trăm linh hai triệu đồng).

Tại phiên tòa, ông T5 một phần yêu cầu khởi kiện đối với yêu cầu buộc ông T4 C1phải bồi thường số tiền 400.000.000₫ (Bốn trăm triệu đồng), đề nghị Tòa án đình chỉ đối với yêu cầu này, chỉ yêu cầu vợ chồng ông Dương Văn C17 thanh toán trả cho ông số tiền cọc 202.000.000đ (Hai trăm linh hai triệu đồng).

Bị đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan (ông Dương Văn C18 bà Dương Thị D3 bày:

Giữa vợ chồng ông Chà D4 vợ chồng ông T6 ký kết hợp đồng đặt cọc vào ngày 20/3/2022 về việc vợ chồng ông Cbà D5 ý chuyển nhượng 01 mảnh đất khoảng 1400m2, trong đó có 70m2 đất thổ cư. Thửa đất này nằm trong tổng diện tích đất ở và đất vườn của gia đình ông C15 DNội dung hợp đồng đặt cọc ghi “Bên A nhất trí bán cho bên B thửa đất số 4, tờ bản đồ số 9”, địa chỉ thửa đất ở tổ dân phố C, thị trấn P, Y chuyển nhượng là 1.485.000.000đ (Một tỷ bốn trăm tám mươi lăm triệu đồng), không ghi thời hạn đặt cọc trong hợp đồng. Ông T7 chuyển cho vợ chồng ông C15 D202 triệu đồng tiền cọc. Khi hai bên thỏa thuận, vợ chồng ông Cbà D6 rõ trước đây thửa đất này có tranh chấp giữa ông Dương Văn H1 vợ chồng ông Chà D7 đã được Tòa án nhân dân huyện Yên Thế và Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang giải quyết xong, bản án đã có hiệu lực pháp luật nên không còn tranh chấp gì nữa, chỉ sợ ông H2 ký giáp gianh để làm thủ tục chuyển quyền được và đề nghị ông Thà Đ3 hỏi rõ ông H3 việc này để hai bên ký kết hợp đồng đặt cọc. Bà Đ4 sang hỏi ông H4 đó về nói lại là ông H5 nhận không còn tranh chấp nữa, ông T6 nói trường hợp ông H2 ký giáp gianh thì ông T8 làm được việc chuyển quyền sử dụng đất nên ông T9 đồng ý ký kết hợp đồng đặt cọc với vợ chồng ông C15 DSau đó ông C15 Dbảo ông T10 chứng nhận quyền sử dụng đất (sổ đỏ) đang thế chấp tại Ngân hàng, cần có 200 triệu để lên thanh toán lấy sổ đỏ về, và ông T7 đưa 200 triệu tiền cọc cho ông C15 Dlấy sổ đỏ về và đã đưa sổ đỏ cho ông T11 ông T12 làm thủ tục chuyển quyền sử dụng đất theo thỏa thuận.

Sau khi hai bên thỏa thuận đặt cọc được khoảng 1 tháng thì ông T13 người đo đạc do ông T14 đo đất tách thửa nói đất đang có tranh chấp nên không làm thủ tục tách thửa được, ông C18 ông T6 ra UBND thị trấn Phỏi thì cán bộ địa chính trả lới đất có tranh chấp không làm thủ tục chuyển quyền sử dụng đất được. Khoảng thời gian 1 năm sau ông T13 không làm được thủ tục chuyển quyền do có tranh chấp đất giữa ông H1 ông C15 DThực tế thì khi hai bên ký kết hợp đồng đặt cọc thì không có tranh chấp gì. Sau đó đến tháng 01/2023 thì vợ chồng ông Cbà D8 được biết ông H6 kiện vợ chồng ông Cbà D9 Tòa án nhân dân huyện Yên Thế yêu cầu vợ chồng ông Chà D10 đồng ý cho ông H7 lối đi qua đất nhà ông C15 DĐến nay vụ án được Tòa án nhân dân tỉnh xét xử phúc thẩm vào ngày 15/9/2023 tuyên không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông H3 việc yêu cầu vợ chồng ông Cbà D10 mở lối đi. Vợ chồng ông Chà D1 định khi hai bên giao kết hợp đồng đặt cọc thì không có tranh chấp gì đối với thửa đất hai bên thỏa thuận mua bán, sau này ông H8 có đơn khởi kiện nên đây không phải là lỗi của vợ chồng ông C15 DSau đó bà Đ5 bà C1có đến nhà vợ chồng ông C15 Dđề nghị chấm dứt việc mua bán đất, vợ chồng ông Cbà D6 chỉ có 80 triệu, bảo bà C1mang trả sổ đỏ thì trả lại 80 triệu, số tiền còn lại thì vợ chồng ông T4 C1phải chịu trách nhiệm về thiệt hại hợp đồng của gia đình ông C15 Dnhưng bà C1và ông T15 đồng ý.

Nay vợ chồng ông Chà D11 đồng ý đối với yêu cầu khởi kiện của ông T16 vẫn yêu cầu ông T4 C1tiếp tục thực hiện hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, vì việc đặt cọc không có giới hạn về thời hạn thực hiện hợp đồng; và đề nghị Hội đồng xét xử buộc ông T4 C1phải trả lại cho ông C15 D01 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mà ông Chà D12 đưa cho T11 đi làm thủ tục chuyển quyền sử dụng đất thửa đất đã nêu ở trên.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan (bà Nguyễn Thị Đ6 bày: Bà là chị gái ông T17 có biết vợ chồng ông C4 chuyển nhượng đất nên đã giới thiệu cho ông Tliên hệ với ông C19 thỏa thuận mua đất. Bà xác định bà có sang hỏi ông H3 việc thửa đất của ông C7 hợp đồng đặt cọc với ông T6 tranh chấp hay không nhưng mà là sau thời điểm hai bên ký hợp đồng đặt cọc, khi đó ông H9 đang có tranh chấp với ông C20 như lời trình bày của bà D13 C

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan (bà Đoàn Thị C21 bày: Bà đồng ý như lời trình bày của ông Nguyễn Văn T18 bà.

Tại phiên tòa sơ thẩm ông T5 yêu cầu khởi kiện về việc yêu cầu ông Cbà D10 bồi thường tiền phạt cọc cho ông T19 tiền 400.000.000₫ (Bốn trăm triệu đồng), nên đề nghị đình chỉ đối với phần yêu cầu khởi kiện này của ông T

Với nội dung trên, bản án dân sự sơ thẩm số 72/2023/DS-ST ngày 06/10/2023 của Toà án nhân dân huyện Yên Thế đã quyết định:

Căn cứ khoản 3 Điều 278; các Điều 328; Điều 351; Điều 401; khoản 1, 2 Điều 428; Điều 123; Điều 127; Điều 288; khoản 2 Điều 357 của Bộ luật dân sự; Điều 27, Điều 37 của Luật hôn nhân và gia đình; khoản 3 Điều 26; khoản 1 Điều 35; Điều 39; Điều 147; Điều 271; Điều 273; khoản 2 Điều 244; Điều 217, Điều 218 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn T21

Buộc ông Dương Văn C18 bà Dương Thị D14 có nghĩa vụ liên đới hoàn trả ông Nguyễn Văn T22 bà Đoàn Thị C22 tiền ông T23 cọc là: 202.000.000₫ (Hai trăm linh hai triệu đồng).

Ông Nguyễn Văn T22 bà Đoàn Thị C23 trả lại cho ông Dương Văn C18 bà Dương Thị D15 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa đất số 4, tờ bản đồ số 9, diện tích 5061,6m2; Do UBND huyện Ycấp cho hộ bà Dương Thị D năm 1971 ngày 24/12/2003; vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00875 QSDĐ/1461-QĐ-UB(H).

Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn T21 đối với yêu cầu buộc ông Dương Văn C18 bà Dương Thị D14 chịu tiền phạt cọc trả cho ông Nguyễn Văn T24 tiền là 400.000.000đ (Bốn trăm triệu đồng).

Ngoài ra bản án còn tuyên về án phí, quyền kháng cáo, quyền thi hành án đối với các đương sự.

Sau khi xét xử sơ thẩm: Ngày 16/10/2023, bị đơn ông Dương Văn C2 kháng cáo đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xét xử lại vụ án, không chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn.

Tại phiên tòa phúc thẩm: Nguyên đơn không rút đơn khởi kiện. Bị đơn không rút đơn kháng cáo. Các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.

+ Đại diện VKSND tỉnh Bắc Giang phát biểu:

- Về tố tụng: Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang và các đương sự đã chấp hành đầy đủ các trình tự, thủ tục của BLTTDS.

- Về nội dung vụ án: Đề nghị HDDXX áp dụng khoản 2 Điều 308 BLTTDS xử không chấp nhận kháng cáo của ông C24 bản án dân sự sơ thẩm đã xử vì tuyên chưa hết yêu cầu của đương sự.

Ông C20 phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Xét yêu cầu kháng cáo của bị đơn ông Dương Văn C2, Hội đồng xét xử xét thấy:

[1.1] Căn cứ lời khai của các bên đương sự và tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án có căn cứ xác định: ngày 20/3/2022, ông Tký hợp đồng đặt cọc với vợ chồng ông C19 mua bán, chuyển nhượng 01 mảnh đất khoảng 1400m2, trong đó có 70m2 đất thổ cư. Thửa đất này nằm trong tổng diện tích đất ở và đất vườn của gia đình ông C15 DNội dung hợp đồng đặt cọc ghi “Bên A nhất trí bán cho bên B thửa đất số 4, tờ bản đồ số 9”, địa chỉ thửa đất ở tổ dân phố C, thị trấn P, Y chuyển nhượng là 1.485.000.000đ (Một tỷ bốn trăm tám mươi lăm triệu đồng), không ghi thời hạn đặt cọc trong hợp đồng.

Xét thấy: Hợp đồng đặt cọc nói trên được lập thành văn bản, có chữ ký của bên bán ông Dương Văn C25 Dương Thị D16 bên mua ông Nguyễn Văn T25 dung của Hợp đồng đảm bảo đúng quy định của Điều 398 Bộ luật dân sự.

Tại thời điểm ký hợp đồng, ông Dương Văn H10 khởi kiện bà Dương Thị D17 việc yêu cầu mở lối đi từ thửa đất của ông qua thửa số 04, tờ bản đồ số 9 của bà Dương Thị D18(vụ án được Tòa án nhân dân huyện Yên Thế thụ lý ngày 19/4/2021, xét xử ngày 30/3/2023 theo Bản án dân sự sơ thẩm số 07/2023/DSST, bản án sơ thẩm có kháng cáo, tại phiên tòa ông C26 định ngày 15/9/2023 Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang đã xét xử phúc thẩm tuyên không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông H do ông xác định thửa đất của ông không có lối đi vào. Việc ông C18 ông T26 kết hợp đồng đặt cọc khi thửa đất đang có tranh chấp là trái với quy định của pháp luật tại Điều 188 Luật đất đai năm 2013, vì đất đang có tranh chấp không được chuyển quyền sử dụng đất cho người khác. Bên cạnh đó, khi thỏa thuận đặt cọc thì ông Cbà D19 đưa ra thông tin với ông T4 C1là thửa đất không có tranh chấp. Do đó, có đủ căn cứ xác định hợp đồng đặt cọc ngày 20/3/2022 giữa ông T22 vợ chồng ông Dương Văn C16 vô hiệu theo quy định tại Điều 123 và Điều 127 của Bộ luật dân sự.

[1.2] Về giải quyết hậu quả của Hợp đồng vô hiệu: Như đã phân tích ở mục [1.1] Hợp đồng đặt cọc này vô hiệu theo quy định tại các Điều 123,127 Bộ luật dân sự năm 2015.

Về hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu: Căn cứ quy định tại Điều 131Bộ luật dân sự năm 2015, thì các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận. Do khi ký hợp đồng đặt cọc, ông T4 C1đã nhận của ông C25 D01 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do UBND huyện Y ngày 24/12/2003 cho hộ bà Dương Thị D20 sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00875 QSDĐ/1461-QĐ-UB(H) và 202.000.000 đ tiền cọc nên ông T4 C1phải trả lại cho ông C25 D01 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất này và hoàn trả lại số tiền đã nhận đặt cọc là 202.000.000đ (Hai trăm linh hai triệu đồng).

Việc ông Chà D21 cầu ông Ttiếp tục thực hiện hợp đồng đặt cọc là không phù hợp với quy định của pháp luật nên không được chấp nhận.

Ngoài những tài liệu, chứng cứ đã có trong hồ sơ vụ án, tại cấp phúc thẩm, bị đơn ông Dương Văn C27 cung cấp thêm được tài liệu, chứng cứ nào khác để chứng minh cho yêu cầu kháng cáo của mình.

[2]. Đối với yêu cầu phạt cọc, tại phiên tòa ông T(nguyên đơn) xin rút yêu cầu khởi kiện về việc buộc ông C17 bồi thường tiền phạt cọc số tiền là 400.000.000₫ (Bốn trăm triệu đồng). Xét là tự nguyện, không trái pháp luật và đạo đức xã hội, cần đình chỉ đối với yêu cầu khởi kiện này của ông T

Từ những phân tích trên, không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Dương Văn C2. Tuy nhiên, xét yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn T27 cầu Tòa án giải quyết tuyên bố Hợp đồng đặt cọc ngày 20/3/2022 giữa vợ chồng ông và vợ chồng ông Dương Văn C16 vô hiệu và buộc vợ chồng ông Dương Văn C17 thanh toán trả cho ông số tiền cọc 202.000.000₫ (Hai trăm linh hai triệu đồng). Tại phần Quyết định của Bản án dân sự sơ thẩm số 72/2023/DS-ST ngày 06/10/2023 của Toà án nhân dân huyện Yên Thế mới chỉ tuyên buộc ông Dương Văn C18 bà Dương Thị D14 có nghĩa vụ liên đới hoàn trả ông Nguyễn Văn T22 bà Đoàn Thị C22 tiền ông T23 cọc là: 202.000.000đ (Hai trăm linh hai triệu đồng) và 01 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa đất số 4, tờ bản đồ số 9, diện tích 5061,6m2; Do UBND huyện Ycấp cho hộ bà Dương Thị D năm 1971 ngày 24/12/2003; vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00875 QSDĐ/1461-QĐ-UB(H) là tuyên chưa hết yêu cầu khởi kiện của đương sự. Do đó, cần sửa bản án dân sự sơ thẩm nói trên.

[3] Hội đồng xét xử phúc thẩm không xem xét, giải quyết các quyết định khác của bản án sơ thẩm mà không có kháng cáo, kháng nghị.

[4] Về án phí dân sự phúc thẩm: Do sửa án sơ thẩm nên ông Dương Văn C2 không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ khoản 2 Điều 308; Điều 309 của Bộ luật Tố tụng dân sự, không chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Dương Văn C28 bản án dân sự sơ thẩm số 72/2023/DS-ST ngày 06/10/2023 của Toà án nhân dân huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang.

    Căn cứ khoản 3 Điều 278; các Điều 328; Điều 351; Điều 401; khoản 1, 2 Điều 428; Điều 123; Điều 127; Điều 288; khoản 2 Điều 357 của Bộ luật dân sự; Điều 27, Điều 37 của Luật hôn nhân và gia đình; khoản 3 Điều 26; khoản 1 Điều 35; Điều 39; Điều 147; Điều 271; Điều 273; khoản 2 Điều 244; Điều 217, Điều 218 của Bộ luật tố tụng dân sự.

    Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn T21

    Tuyên bố Hợp đồng đặt cọc ngày 20/3/2022 giữa ông Nguyễn Văn T21 và vợ chồng ông Dương Văn C25 Dương Thị D22 vô hiệu.

    Buộc ông Dương Văn C18 bà Dương Thị D14 có nghĩa vụ liên đới hoàn trả ông Nguyễn Văn T22 bà Đoàn Thị C22 tiền ông T23 cọc là: 202.000.000₫ (Hai trăm linh hai triệu đồng).

    Ông Nguyễn Văn T22 bà Đoàn Thị C23 trả lại cho ông Dương Văn C18 bà Dương Thị D15 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa đất số 4, tờ bản đồ số 9, diện tích 5061,6m2; Do UBND huyện Ycấp cho hộ bà Dương Thị D năm 1971 ngày 24/12/2003; vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00875 QSDĐ/1461-QĐ-UB(H).

    Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn T21 đối với yêu cầu buộc ông Dương Văn C18 bà Dương Thị D14 chịu tiền phạt cọc trả cho ông Nguyễn Văn T24 tiền là 400.000.000₫ (Bốn trăm triệu đồng).

    Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án, cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

  2. Về án phí dân sự phúc thẩm: Căn cứ khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Toà án

    Ông Dương Văn C27 phải chịu 300.000 đồng tiền án phí dân sự phúc thẩm. Hoàn trả ông Dương Văn C29 tiền 300.000 đồng đã nộp tại biên lai số 0000387 ngày 25/10/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Yên Thế.

  3. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

  4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND huyện Yên Thế;
  • - VKSND tỉnh Bắc Giang;
  • - Chi cục THADS huyện Yên Thế;
  • - Các đương sự;
  • - Cổng thông tin điện tử của TANDTC;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đặng Văn Quyết

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 107/2024/DS- PT ngày 10/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG về tranh chấp hợp đồng đặt cọc

  • Số bản án: 107/2024/DS- PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng đặt cọc
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 10/05/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng đặt cọc
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger