|
TAND HUYỆN PHONG THỎ TỈNH LAI CHÂU |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 107/2024/HS-ST Ngày 09-09-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG THỎ, TỈNH LAI CHÂU
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Dương Thị Tuyết Thanh
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Ngô Văn Thế
- Ông Lý Quang Minh
Thư ký phiên toà: Bà Đinh Thị Khuyên - Thư ký Tòa án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Loan - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phong Thổ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 112/2024/TLST-HS ngày 22 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 108/2024/QĐXXST-HS ngày 29/8/2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Sùng A L; giới tính: Nam; sinh năm 1985; Nơi sinh: huyện M, tỉnh Yên Bái; Nơi cư trú: bản P, xã C, huyện M, tỉnh Yên Bái; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Mông; Tôn giáo: không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Con ông Sùng Bùa G, đã chết và con bà Giàng Thị P, sinh năm 1937; Gia đình có 07 anh chị em, bị cáo là con thứ ba trong gia đình; Vợ: Giàng Thị M, sinh năm 1990; Con có 02 con: con lớn sinh năm 2011, con nhỏ sinh năm 2015; Tiền án, tiền sự: Không;
Nhân thân: Tòa án nhân dân huyện Mù Cang Chải, tỉnh Yên Bái ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc số 40/2018/QĐ-TA ngày 13/11/2018 đối với Sùng A L, thời gian cai nghiện bắt buộc 12 tháng, đến ngày 18/12/2019 bị cáo đã chấp hành xong.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 09/5/2024 đến ngày 18/5/2024 bị áp dụng biện tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh L cho đến nay. Có mặt.
* Người bào chữa cho bị cáo: Bà Nguyễn Thị N - Trợ giúp viên pháp lý - Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh L. Có mặt.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ông Thào A S, sinh năm 1973; địa chỉ: bản C, xã N, huyện T, tỉnh Lai Châu. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 08/5/2024, Sùng A L đến nhà em gái là Sùng Thị T ở tổ dân phố P, thị trấn P, huyện P, tỉnh Lai Châu chơi. Khoảng 10 giờ 00 phút ngày 09/5/2024, Sùng A L điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 17B1-373.36 đi từ thị trấn P, huyện P đến bản N, xã H, huyện P, mục đích tìm mua Heroine để sử dụng. Khi đến bản Nậm Cáy, L gặp và mua được của một người đàn ông không rõ lai lịch 01 gói Heroine giá 200.000 đồng. L cất giấu gói Heroine trong lòng bàn tay trái rồi điều khiển xe mô tô đi về. Khi đi đến đoạn đường vắng người, L dừng xe lấy gói Heroine chia thành 02 gói nhỏ, 01 gói (được gói bằng mảnh nilon màu xanh) L cất giấu trong túi quần sau bên trái đang mặc, 01 gói (bên trong gói bằng mảnh giấy bạc, bên ngoài gói bằng mảnh nilon màu xanh) L cất giấu trong túi áo khác bên trái đang mặc. Số Heroine còn lại L sử dụng hết bằng hình thức hít. Sau đó, L điều khiển xe mô tô đi đến chợ T1 thị trấn P, huyện P chơi. Đến 16 giờ 40 phút cùng ngày, khi Sùng A L đang ở tổ dân phố P, thị trấn P, huyện P thì bị Công an thị trấn P phát hiện, bắt quả tang về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Vật chứng thu giữ của L gồm: 02 gói Heroine (do L tự giao nộp), 01 bật lửa ga, 01 vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu Thăng Long, 01 xe mô tô biển kiểm soát 17B1- 373.36. Chiếc xe mô tô trên bị cáo mượn của anh Thào A S, trú tại bản Chin Chu Chải, xã N, huyện T, tỉnh Lai Châu.
Tại bản Kết luận giám định số 29 ngày 09/5/2024 của người giám định tư pháp theo vụ việc, kết luận: số chất bột màu trắng thu giữ của Sùng A L có tổng khối lượng là: 0,18 gam. Tại bản Kết luận giám định số 545 ngày 12/5/2024 của Phòng K Công an tỉnh L kết luận: 02 mẫu chất bột, màu trắng gửi giám định là ma túy; loại Heroine.
Bản cáo trạng số 65/CT-VKSPT ngày 22/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ đã truy tố bị cáo Sùng A L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về bản kết luận điều tra số 65/KLĐT ngày 06/8/2024 của Cơ quan CSĐT Công an huyện P và bản Cáo trạng nêu trên.
Tại phiên tòa, vị đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo từ 15 đến 18 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo theo khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự và xử lý vật chứng theo quy định tại điểm a hoản 1, 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm a, c khoản 2; điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự và đề nghị miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
2
Người bào chữa đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo do bị cáo là người đồng bào dân tộc thiểu số, sống ở vung có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn nên nhận thức pháp luật có phần còn hạn chế; đề nghị miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng, không có ý kiến tranh luận đối với quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ và nhất trí với lời bào chữa của người bào chữa cho bị cáo.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án đề nghị Hội đồng xét xử trả lại cho ông xe mô tô biển kiểm soát 17B1-373.36 do ông cho bị cáo mượn xe nhưng không biết bị cáo dùng vào việc thực hiện hành vi vi phạm pháp luật.
Tại lời nói sau cùng bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt để sớm trở về với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện P, Điều tra viên,Viện kiểm sát nhân dân huyện P, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa, bị cáo, người bào chữa không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội:
Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với nội dung vụ án, phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thu thập hợp pháp. Như vậy, có đủ cơ sở để xác định: hồi 16 giờ 40 phút ngày 09/5/2024, tại tổ dân phố P, thị trấn P, huyện P, tỉnh Lai Châu, bị cáo Sùng A L đã có hành vi tàng trữ trái phép 02 gói Heroine có tổng khối lượng là 0,18 gam, mục đích để sử dụng thì bị Công an thị trấn P bắt quả tang. Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự nên hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Vì vậy, quan điểm đề nghị về tội danh, mức hình phạt đối với bị cáo của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là hoàn toàn có cơ sở, đúng pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo nhận thức được việc tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng do bị cáo nghiện ma túy đã lâu
3
nên vẫn cố ý thực hiện. Hành vi đó là nguy hiểm cho xã hội, có tính chất nghiêm trọng, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý các chất ma tuý của Nhà nước, gây mất trật tự trị an trên địa bàn nên cần được xử lý nghiêm minh.
[3] Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:
Về nhân thân: Bị cáo là người dân tộc thiểu số, khi công án phát hiện bắt quả tang xét nghiệm chất ma túy trong nước tiểu bằng test nhanh kết quả xác định trong nước tiểu của bị cáo phát hiện có ma túy nhóm O (M, Heroine); quá trình sinh sống tại địa phương thường xuyên qua lại với các đối tượng nghiện chất ma túy gây mất trật tự trị án trên địa bàn xã C, huyện M, tỉnh Yên Bái. Năm 2018 bị Tòa án nhân dân huyện Mù Cang Chải, tỉnh Yên Bái áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với bị cáo, thời hạn 12 tháng.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bị cáo là người đồng bào dân tộc thiểu số, sống ở vùng sâu, vùng xa, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn nên nhận thức pháp luật còn hạn chế. Do vậy, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Đề nghị của người bào chữa về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Không có.
Trên cơ sở tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và đặc biệt là nhân thân của bị cáo đã từng đi cai nghiện ma túy bắt buộc nhưng lại tiếp tục tái sử dụng chất ma túy. Xét thấy cần thiết phải có mức hình phạt nghiêm khắc đối với bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để bị cáo tiếp tục cai nghiện ma túy và răn đe, giáo dục, cải tạo bị cáo thành công dân có ích cho xã hội.
[5] Về vật chứng của vụ án:
Đối với 0,18 gam Heroine thu giữ của bị cáo, Cơ quan điều tra đã lấy toàn bộ gửi giám định chất ma túy (không hoàn lại mẫu vật) nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Vật chứng còn lại của vụ án gồm: 02 bì niêm phong đã mở, 02 mảnh nilon màu xanh, 01 mảnh giấy bạc màu trắng; 01 bật lửa, 01 vỏ thuốc lá Thăng Long là vật chứng không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy theo điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
01 xe mô tô biển kiểm soát 17B1-373.36 là tài sản của ông Thào A S. Xét thấy, việc ông S cho bị cáo mượn xe nhưng không biết việc bị cáo dùng vào việc
4
phạm tội nên cần trả lại cho ông Thào A S theo quy định tại khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
[6] Những vấn đề liên quan:
Về nguồn gốc ma túy, bị cáo khai mua của một người đàn ông không rõ nhân thân, lai lịch. Do đó, không có căn cứ để điều tra, xử lý trong vụ án.
Đối với ông Thào A S là chủ sở hữu chiếc xe mô tô mang biển kiểm soát 17B1-373.36. Quá trình điều tra xác định, ông S không biết việc bị cáo Sùng A L sử dụng chiếc xe mô tô để đi mua Heroine sử dụng. Do vậy, không có căn cứ để xử lý đối với ông Thào A S.
[7] Về án phí: Bị cáo là người đồng bào dân tộc thiểu số, sống ở vùng có điều kiện kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn nên căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 và khoản 6 Điều 15 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1, khoản 5 Điều 249; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38; điểm a khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2; điểm b khoản 3 Điều 106; Điều 135; Điều 136; Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 6 Điều 15 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Sùng A L phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
- Về hình phạt: Xử phạt bị cáo 17 (Mười bảy) tháng tù. Thời hạn tù tính từ 09/5/2024.
- Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo.
- Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 02 bì niêm phong ban đầu đã mở, 02 mảnh nilon màu xanh, 01 mảnh giấy bạc màu trắng; 01 bật lửa, 01 vỏ thuốc lá T.
- Trả lại 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA, loại xe WAVE S, sơn màu đen trắng, trên thân vỏ xe nhiều vết trầy xước, Biển kiểm soát 17B1-373.36, số khung JC52E4103728, xe đã qua sử dụng, không có chìa khóa (không kiểm tra chất lượng bên trong máy móc, thiết bị) cho ông Thào A S, sinh năm 1973, địa chỉ: bản C, xã N, huyện T, tỉnh Lai Châu.
(Tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng vào hồi 16 giờ 30 phút ngày 29/8/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện P với Chi Cục thi hành án dân sự huyện Phong Thổ)
- Về án phí: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Dương Thị Tuyết Thanh |
6
7
8
9
Bản án số 107/2024/HS-ST ngày 09/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG THỎ, TỈNH LAI CHÂU về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 107/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 09/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG THỎ, TỈNH LAI CHÂU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Sùng A L phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy
