|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH KHÊ – TP. ĐÀ NẴNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 107/2024/HS.ST Ngày: 07/8/2024. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH KHÊ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Hoàng Dũng.
Các Hội thẩm nhân dân:
1) Bà Lê Thị Nhớ.
2) Bà Nguyễn Thị Hồng.
- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Nguyễn Viết Cường, Thư ký Toà án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Văn Quân, Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 97/2024/TLST-HS ngày 08 tháng 07 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 97/2024/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 7 năm 2024, đối với bị cáo:
PHẠM VĂN B, tên gọi khác: T, sinh ngày 10 tháng 4 năm 1984, tại Thanh Hoá; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: xã L, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; Nơi ở hiện tại: không có nơi cư trú ổn định; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Mường; Tôn giáo: không; Nghề nghiệp: lao động phổ thông; trình độ học vấn: lớp 01/12; Con ông Phạm Thúc T1 (sinh năm 1953) và bà Hà Thị N (đã chết); Bị cáo là con thứ tư (04) trong gia đình có 04 anh chị em; Tiền án, tiền sự: không; Nhân thân: Tháng 10/2008, bị Toà án nhân dân huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng xử phạt 09 tháng tù về tội: “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”; chấp hành xong tháng 10 năm 2009. Năm 2014, bị Toà án nhân dân huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng xử phạt 03 năm tù về tội: “Trộm cắp tài sản”; chấp hành xong năm 2017.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Tạm giam” tại Nhà tạm giữ Công an quận T từ ngày 26/4/2024. Có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: Chị Đỗ Thị K, sinh năm 1979; nơi cư trú: K đường T, quận L, thành phố Đà Nẵng. Có mặt tại phiên tòa.
1
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Bị cáo Phạm Văn B và người bị hại chị Đỗ Thị K có quan hệ tình cảm với nhau từ năm 2019. Tối ngày 19/4/2024, sau khi nhậu say, B đến quán nước mía đối diện quán nhậu của K gần địa chỉ A đường N, thành phố Đà Nẵng ngồi uống nước mía. Lúc này, B thấy một người đàn ông lạ mặt đang ngồi cạnh cửa kho còn K đang đẩy xe nấu đồ ăn vào kho. Bốn ghen tuông nên đã đi đến chiếc xe chứa chén, bát, dao thớt các loại ở gần đó lấy một (01) con dao dài khoảng 30cm, loại dao chặt xương lưỡi dao kim loại inox hình chữ nhật màu trắng bạc, cán dao bằng gỗ màu nâu rồi đi về phía chị K. B đến trước mặt chị K và nói “Mi cặp tao rồi mà còn cặp thằng khác nữa à”, ngay sau đó B dùng tay trái chụp tóc chị K sau đó thả ra và tát vào đầu chị K khoảng 3 cái. Sau đó, B cầm dao bằng tay phải chém về phía chị K; chị K chụp tay B lại, B giật tay ra làm chị K ngã xuống đất; Bốn vung dao chém về phía chị K, chị K dùng chân, tay đỡ; B chém một nhát trúng vào tay trái của chị K. Thấy chị K nằm xuống không chống đỡ nữa thì B dừng lại sau đó cầm dao bỏ đi. Đi được một đoạn gần đến ngã ba P - N thì vứt dao rồi đi thuê nhà nghỉ ngủ. Sau đó, B bị Công an phường T, quận T đưa về trụ sở làm việc. Quá trình điều tra, Phạm Văn B khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 75/KLTTCT-TTPYĐN ngày 25/4/2024 của Trung tâm pháp y thành phố Đ kết luận tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của chị Đỗ Thị K tại thời điểm giám định là 12% (mười hai phần trăm), bao gồm:
- - Chấn thương gãy 1/3 dưới xương trụ trái, cẳng tay trái sưng nề và bầm tím ở đoạn xương gãy, không ngắn chi, các ngón tay hồng ấm, cử động bình thường.
- - Vùng thái dương trái sau đuôi mắt có vết thương đang lành sẹo, kích thước 01cm x 0,1cm.
- - Mu bàn tay trái sưng nề trên nền có vết xước da nông nằm ngang đang tạo vảy khô, kích thước: 1,5cm x 0,1cm.
- - Mặt sau 1/3 giữa cẳng tay phải có vết xước da đang tạo vảy khô, kích thước 05cm x 0,1cm.
- - Vùng sau cổ có vết bầm máu màu tím nhạt, kích thước 4,5cm x 02cm.
- - Mặt sau đùi phải có vết bầm máu màu tím, kích thước 12cm x 05cm.
- - Mặt trước - trong đùi phải có vết bầm máu màu tím, kích thước 16cm x 06cm.
* Về vật chứng: Ngày 23/4/2024, Công an phường T đã tiến hành truy tìm con dao mà B đã sử dụng gây án nhưng không tìm thấy.
2
* Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, bị cáo Phạm Văn B đã bồi thường cho người bị hại chị Đỗ Thị K số tiền 10.000.000 đồng. Chị K đã nhận đủ số tiền bồi thường, không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm đồng thời viết đơn xin bãi nại, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Phạm Văn B.
Tại bản cáo trạng số 91/CT-VKS-TK ngày 05 tháng 7 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê đã truy tố bị cáo Phạm Văn B về tội: “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên thực hành quyền công tố vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với các bị cáo theo như Cáo trạng, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Phạm Văn B phạm tội: “Cố ý gây thương tích” và áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Phạm Văn B từ 02 (hai) năm đến 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù.
Bị cáo Phạm Văn B thống nhất với nội dung cáo trạng, thừa nhận hành vi phạm tội mà mình đã gây ra, bị cáo rất ăn năn, hối lỗi đồng thời mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đều đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Trong quá trình điều tra và truy tố, bị cáo và người bị hại không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo Phạm Văn B khai nhận:
Xuất phát từ mâu thuẫn cá nhân do ghen tuông vô cớ nên vào khoảng 00 giờ 00 phút, ngày 19/4/2024, bị cáo Phạm Văn B đã có hành vi dùng tay đánh nhiều lần và dùng dao chém nhiều nhát vào vùng mặt, thân người của chị Đỗ Thị K, một trong những nhát dao chém trúng vào chị K gây chấn thương gãy 1/3 dưới xương trụ tay trái, kết quả chị K bị tổn thương cơ thể do thương tích gây nên với tỷ lệ là 12% (mười hai phần trăm). Hành vi của bị cáo thể hiện rõ tính chất manh động, côn đồ của bị cáo.
Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan
3
điều tra, truy tố, phù hợp với lời khai của người bị hại và phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, như: Biên bản ghi lời khai, Biên bản hỏi cung bị can; kết luận giám định số 75/KLTTCT-TTPYĐN ngày 25/4/2024 của Trung tâm pháp y thành phố Đ... Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận hành vi của bị cáo B đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự với tình tiết định khung: “Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30 % nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 điều này...”. (Cụ thể: thuộc trường hợp quy định tại điểm a khoản 1 “dùng vũ khí” và điểm i khoản 1 “có tính chất côn đồ”).
Như vậy, Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê truy tố bị cáo tội: "Cố ý gây thương tích" theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự là hoàn toàn có căn cứ, đúng pháp luật, cần được chấp nhận.
[3] Xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của bị cáo thì thấy:
Tính mạng, sức khỏe của con người là một khách thể quan trọng được Bộ luật hình sự bảo vệ, không ai được quyền xâm phạm một cách trái pháp luật. Bản thân bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, lẽ ra bị cáo phải hiểu và nhận thức được hậu quả nghiêm trọng từ hành động nguy hiểm của mình. Thế nhưng, bị cáo vẫn bất chấp thực hiện, điều này thể hiện rõ ý thức xem thường pháp luật của bị cáo. Hành vi của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe của người khác, làm ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự và an toàn xã hội. Do đó, cần phải xử phạt bị cáo một mức án tương xứng với hành vi phạm tội mới đảm bảo tính răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
[4] Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của các bị cáo thì thấy:
Bị cáo Phạm Văn B không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, đã tự nguyện bồi thường cho người bị hại chị Đỗ Thị K số tiền 10.000.000 đồng, chị K đã nhận đủ số tiền bồi thường, không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm đồng thời viết đơn xin bãi nại, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên bị cáo Phạm Văn B được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Đây là các tình tiết được Hội đồng xét xử xem xét để giảm nhẹ cho bị cáo một phần mức hình phạt nhằm thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.
Tuy nhiên, bị cáo B là người có nhân thân xấu, từng 02 lần bị Tòa án nhân dân huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng xử phạt 09 tháng tù về tội “Lạm dụng tín
4
nhiệm chiếm đoạt tài sản” năm 2008 và xử phạt 03 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” năm 2014, bị cáo không lấy đó làm bài học kinh nghiệm để tu dưỡng, rèn luyện bản thân, chăm chỉ lao động, làm ăn lương thiện để đóng góp phát triển xã hội mà lại tiếp tục phạm tội “Cố ý gây thương tích”, điều đó thể hiện ý thức xem thường pháp luật của bị cáo. Vì vậy, Hội đồng xét xử thấy rằng cần phải xét xử nghiêm, áp dụng Điều 38 Bộ luật hình sự, tiến hành cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để bị cáo có cơ hội cải tạo trở thành công dân tốt, đồng thời có tác dụng giáo dục, làm gương răn đe cho những người có ý thức xem thường pháp luật nói chung trong xã hội.
[5] Về trách nhiệm dân sự: Trong quá trình giải quyết vụ án, người bị hại chị Đỗ Thị K có yêu cầu bị cáo B bồi thường số tiền 10.000.000 đồng, bao gồm chi phí điều trị thương tích và mất thu nhập. Bị cáo đã tự nguyện bồi thường thiệt hại cho chị K số tiền 10.000.000 đồng, chị K đã nhận đủ số tiền bồi thường, không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm về trách nhiệm dân sự nên Hội đồng xét xử không tiếp tục xem xét, giải quyết.
[6] Về xử lý vật chứng: Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T đã tiến hành truy tìm con dao mà B đã sử dụng gây án nhưng không tìm thấy. Vì vậy, Hội đồng xét xử không có căn cứ tiếp tục xem xét, giải quyết.
[7] Về án phí: Bị cáo Phạm Văn B phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
-
Tuyên bố: Bị cáo Phạm Văn B phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt: Bị cáo Phạm Văn B 02 (hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bắt tạm giam (ngày 26/4/2024).
- Án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Phạm Văn B phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm số tiền là 200.000đ (hai trăm nghìn đồng).
- Về quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 331 và 333 Bộ luật tố tụng Hình sự: Bị cáo, người tham gia tố tụng có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 07/8/2024).
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án
5
hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hạn thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Hoàng Dũng |
6
Bản án số 107/2024/HS.ST ngày 07/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH KHÊ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG về hình sự (cố ý gây thương tích)
- Số bản án: 107/2024/HS.ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Cố ý gây thương tích)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 07/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH KHÊ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phạm Văn Bốn "Cố ý gây thương tích"
