Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TAM BÌNH

TỈNH VĨNH LONG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 107/2024/HNGĐ-ST

Ngày 05-8-2024

V/v “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM BÌNH, TỈNH VĨNH LONG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Cảnh

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Hoàng Tiến
  2. Ông Huỳnh Văn Hùng

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Phương– Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Bình: Không tham gia phiên tòa.

Ngày 05 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tam Bình tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 222/2024/TLST - HNGĐ ngày 14 tháng 5 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 102/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 04 tháng 7 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 93/2024/QĐST-HNGĐ ngày 19 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Anh Nguyễn Văn D, sinh năm 1986 – Có đơn vắng mặt
  • - Bị đơn: Chị Lê Thị Bé T, sinh năm 1986 – Vắng mặt

Cùng nơi cư trú: ấp P, xã P, huyện T, tỉnh Vĩnh Long.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện ngày 03/5/2024 và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án nguyên đơn anh Nguyễn Văn D trình bày:

Về hôn nhân: Anh D1 và chị T cưới nhau vào năm 2006, hôn nhân do quen biết, anh D1 và chị T tự nguyện kết hôn với nhau và có đăng ký kết hôn vào ngày 11/7/2006 tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện T, tỉnh Vĩnh Long. Thời gian vợ chồng sống hạnh phúc được khoảng 17 năm đến tháng 8 năm 2023 thì phát sinh vi phạm nghĩa vụ vợ chồng và ly thân cho đến nay.

Nguyên nhân phát sinh vi phạm nghĩa vụ vợ chồng anh D1 trình bày: Là do vợ chồng thường xuyên bất đồng ý kiến với nhau về các vấn đề trong cuộc sống và kinh tế gia đình, từ đó làm cho tình cảm vợ chồng không còn nữa, nên vợ chồng đã ly thân từ tháng 8 năm 2023 cho đến nay không trở về đoàn tụ. Nên anh D1 yêu cầu ly hôn với chị T.

- Về con chung: Anh D1 và chị T có 02 người con chung tên là Nguyễn Lê Tuyết H, sinh ngày 15/9/2010 và Nguyễn Lê Thúy A, sinh ngày 17/4/2013, khi ly hôn anh D1 yêu cầu nuôi 02 con chung, anh D1 không yêu cầu chị T cấp dưỡng nuôi con chung.

- Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Anh Dũng không yêu cầu Tòa án giải quyết;

Bị đơn là chị Lê Thị Bé T: Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng theo quy định tại các Điều 196, Điều 208 của Bộ luật Tố tụng dân sự cho chị Lê Thị Bé T, nhưng chị Lê Thị Bé T không có ý kiến gì bằng văn bản và vắng mặt đến lần thứ hai không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Do vậy, Tòa án căn cứ vào điểm d khoản 3 Điều 203 của Bộ luật Tố tụng dân sự quyết định đưa vụ án ra xét xử theo quy định của pháp luật.

- Các tài liệu, chứng cứ của vụ án: Đã được Tòa án công khai tại Biên bản về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ vào ngày 04/7/2024.

- Các tình tiết, sự kiện không phải chứng minh:

Về hôn nhân: Căn cứ vào bản chính Giấy chứng nhận kết hôn giữa anh Nguyễn Văn D với chị Lê Thị Bé T được Ủy ban nhân dân xã P, huyện T cấp ngày 11/7/2006 thì anh D và chị T là hôn nhân hợp pháp.

Về con chung: Căn cứ vào bản sao Giấy khai sinh được Ủy ban nhân dân xã V, huyện A, tỉnh An Giang cấp ngày 29/9/2010 và ngày 02/5/2013 thì cháu Nguyễn Lê Tuyết H và cháu Nguyễn Lê Thúy A là con chung của anh Nguyễn Văn D với chị Lê Thị Bé T.

- Các tình tiết, sự kiện mà các bên đương sự thống nhất, không thống nhất:

Trong quá trình giải quyết vụ án chị Lê Thị Bé T không có ý kiến bằng văn bản và vắng mặt, do đó không xác định được sự thống nhất và không thống nhất của các đương sự trong vụ án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa; trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện tài liệu, chứng cứ. Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Theo nội dung đơn khởi kiện của anh Nguyễn Văn D yêu cầu ly hôn với chị Lê Thị Bé T về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con được quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn có nơi cư trú tại huyện T, theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tam Bình.

[2]. Về trình tự, thủ tục tố tụng: Tòa án nhân dân huyện Tam Bình tiến hành thụ lý, giải quyết vụ án theo đúng trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Các tài liệu chứng cứ do đương sự tự giao nộp, Tòa án không tiến hành thu thập chứng cứ, các bên đương sự là người đã thành niên, không bị nhược điểm về thể chất tâm thần nên vụ án không thuộc trường hợp Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp phải tham gia kiểm sát việc tuân thủ theo pháp luật tại phiên tòa, theo quy định tại khoản 2 Điều 21 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Tòa án đã tống đạt Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa hợp lệ cho chị Lê Thị Bé T, nhưng chị Lê Thị Bé T vẫn vắng mặt cả hai lần không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan nên Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt đối với chị Lê Thị Bé T.

Ngày 08/7/2024 anh Nguyễn Văn D có đơn yêu cầu xét xử vắng nên Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt đối với anh Nguyễn Văn D.

[2]. Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

- Về hôn nhân: Xét yêu cầu ly hôn của anh Nguyễn Văn D với chị Lê Thị Bé T là có cơ sở chấp nhận. Bởi lẽ, nguyên nhân phát sinh vi phạm nghĩa vụ vợ chồng giữa anh D và chị T do vợ chồng thường xuyên bất đồng ý kiến với nhau về các vấn đề trong cuộc sống và kinh tế gia đình, từ đó làm cho tình cảm vợ chồng không còn nữa. Trong thời gian ly thân anh D và chị T không quan tâm chăm sóc với nhau, không tự đoàn tụ được với nhau. Anh D1 nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn nên yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với chị T.

Xét thấy, hôn nhân giữa anh D1 và chị T đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do vậy, Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 3 Điều 2, Điều 19, khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu ly hôn của anh D1; cho anh Nguyễn Văn D được ly hôn với chị Lê Thị Bé T.

- Về con chung: Xét yêu cầu nuôi con chung của anh D là cháu Nguyễn Lê Tuyết H, sinh ngày 15/9/2010 và Nguyễn Lê Thúy A, sinh ngày 17/4/2013 là có cơ sở. Hội đồng xét xử, xét thấy từ khi anh D và chị T ly thân cho đến nay con chung do anh D là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng; đồng thời tại bản tự khai cùng ngày 03/5/2024 của cháu Nguyễn Lê Tuyết H, sinh ngày 15/9/2010 và Nguyễn Lê Thúy A, sinh ngày 17/4/2013 thì cháu H và cháu A đều có nguyện vọng sống với anh D sau khi anh D và chị T ly hôn với nhau. Do đó, Hội đồng xét xử giao cháu Nguyễn Lê Tuyết H, sinh ngày 15/9/2010 và Nguyễn Lê Thúy A, sinh ngày 17/4/2013 cho anh D tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng.

Chị Lê Thị Bé T không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

- Về cấp dưỡng nuôi con: Anh Nguyễn Văn D không yêu cầu chị Lê Thị Bé T cấp dưỡng nuôi con, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

- Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Anh Nguyễn Văn D không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[3]. Về án phí dân sự sơ thẩm: Anh Nguyễn Văn D phải chịu 300.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ vào khoản 3 Điều 2; Điều 19; khoản 1 Điều 56; Điều 81; Điều 82 và Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, kèm theo danh mục án phí, lệ phí Tòa án. Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Nguyễn Văn D.
    1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa anh Nguyễn Văn D với chị Lê Thị Bé T.
    2. Về con chung: Giao con chung tên Nguyễn Lê Tuyết H, sinh ngày 15/9/2010 và Nguyễn Lê Thúy A, sinh ngày 17/4/2013 cho anh Nguyễn Văn D trực tiếp nuôi dưỡng.

      Chị Lê Thị Bé T không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

      - Về cấp dưỡng nuôi con: Anh Nguyễn Văn D không yêu cầu chị Lê Thị Bé T cấp dưỡng nuôi con, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

    3. Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Anh Nguyễn Văn D không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
  2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Anh Nguyễn Văn D phải chịu 300.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn, được khấu trừ vào số tiền 300.000đồng tạm ứng án phí anh Nguyễn Văn D đã nộp theo biên lai thu số No 0014146 ngày 14/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tam Bình nên anh Nguyễn Văn D không phải nộp thêm.
  3. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7,7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
  4. Về quyền kháng cáo: Anh Nguyễn Văn D và chị Lê Thị Bé T vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Vĩnh Long;
  • - VKSND huyện Tam Bình;
  • - Chi cục THADS huyện Tam Bình;
  • - Đương sự;
  • - UBND xã Phú Thịnh;
  • - Lưu: VT, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

ĐÃ KÝ

Nguyễn Văn Cảnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 107/2024/HNGĐ-ST ngày 05/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM BÌNH, TỈNH VĨNH LONG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 107/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 05/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM BÌNH, TỈNH VĨNH LONG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn Dũng - Lê Thị Bé Thảo
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger