Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CHỢ MỚI

TỈNH AN GIANG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 107/2024/HS-ST

Ngày 04 tháng 12 năm 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Nguyễn Trung Kiên.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Ly và ông Võ Thanh Nhàn.

Thư ký phiên toà: Ông Hồ Nhựt Huy - Thư ký Toà án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang tham gia phiên toà: Ông Phan Anh Kiệt - Kiểm sát viên

Ngày 04 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 138/2024/TLST-HS ngày 29 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 125/2024/QĐXXST- HS ngày 19 tháng 11 năm 2024, đối với các bị cáo:

  1. Đỗ Thị Mai P, sinh năm 1972; nơi sinh: huyện C, tỉnh An Giang; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: ấp T, xã M, huyện C, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: mua bán; trình độ văn hóa: 04/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Phật giáo; quốc tịch: Việt Nam; đảng, đoàn: Không; con ông Đỗ Hữu Đ và bà Nguyễn Thị M; chồng Nguyễn Thành P1, con: 01 người con; tiền án: không, tiền sự: ngày 27/5/2021 bị Công an xã M, huyện C xử phạt 1.500.000 đồng, về hành vi “Đánh bạc trái phép”, đã nộp phạt; bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 28/6/2024 đến nay; có mặt.
  2. Đỗ Thị M1, sinh năm 1974; nơi sinh: huyện C, tỉnh An Giang; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: ấp T, xã M, huyện C, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: mua bán; trình độ văn hóa: 03/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Phật giáo; quốc tịch: Việt Nam; đảng, đoàn: Không; con ông Đỗ Văn S và bà Đào Thị S1; chồng Nguyễn Thái B, con: 02 người con, lớn sinh năm 1996, nhỏ sinh năm 2007; tiền án: không, tiền sự: ngày 12/6/2021 bị C a xã M, huyện C xử phạt 1.500.000 đồng, về hành vi “Đánh bạc trái phép”, đã nộp phạt; bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 28/6/2024 đến nay; có mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

- Bà Đỗ Ngọc D, sinh năm 1990; địa chỉ: ấp T, xã M, huyện C, tỉnh An Giang; vắng mặt.

- Bà Nguyễn Thị Hồng X, sinh năm 1973; địa chỉ: ấp T, xã M, huyện C, tỉnh An Giang; vắng mặt.

Người làm chứng: Bà Lê Thị Kim S2, anh Đỗ Phú A (đều vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 13 giờ 30 phút ngày 20/7/2021, Đỗ Thị Mai P, Đỗ Thị M1 đến quán ăn T1 của Lê Thị Kim S2 thuộc ấp T, xã M, huyện C, nên cả hai nảy sinh ý định đánh bài tứ sắc được thua bằng tiền. M1 gọi điện thoại rủ thêm Đỗ Ngọc D, Nguyễn Thị Hồng X cùng đến, tại quán 04 người chơi đánh bài tứ sắc được thua bằng tiền, số tiền cá cược từ 5.000 đồng đến 10.000 đồng/người/ván, cụ thể ván bài tới chơn thì thắng thua 5.000 đồng, ván bài tới quan thì thắng thua 10.000 đồng (trong đó P mang theo 70.000 đồng, M1 mang theo 90.000 đồng (đưa 20.000 đồng cho Đỗ Phú A nhờ mua 02 hộp bài tứ sắc), D mang theo 100.000 đồng, X mang theo 120.000 đồng, đến 15 giờ 30 cùng ngày khi 04 đối tượng đã chơi được khoảng 06 ván thì bị Công an xã M, huyện C bắt quả tang.

Vật chứng thu giữ: 20 bộ bài tứ sắc, số tiền 210.000 đồng trên chiếu bạc (trong đó 70.000 đồng của P, 70.000 đồng của M1, 70.000 đồng của D, 120.000 đồng của X), 01 điện thoại di động hiệu Samsung A30 màu đen của P, 01 điện thoại di động hiệu Iphone màu vàng của Muội; 01 điện thoại di động hiệu Samsung A07 màu đen và 01 xe mô tô nhãn hiệu Vison của D (đã xử lý xong).

Do P, M1 đã bị xử lý vi phạm hành chính vào ngày 27/5/2021, ngày 12/6/2021, đã nộp phạt, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện C khởi tố P, M1 để điều tra xử lý.

Tại Cơ quan điều tra, bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan khai phù hợp với nội dung vụ án nêu trên.

Trần Văn B1, Trần Văn V, S. Trượng Thanh H Tại Cáo trạng số: 113/CT-VKSCM ngày 28/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang đã truy tố Đỗ Thị Mai P, Đỗ Thị M1 về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa sơ thẩm các bị cáo Đỗ Thị Mai P, Đỗ Thị M1 vẫn khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu trên, tại phần lời nói sau cùng các bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, xin được hưởng án treo.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt khai phù hợp với nội dung cáo trạng nêu trên, phù hợp với lời khai của bị cáo tại phiên tòa.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng: Đối với hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp.

Về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng: tại phiên tòa người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; người làm chứng vắng mặt, mặc dù Tòa án đã tống đạt giấy triệu tập hợp lệ. Xét thấy, sự vắng mặt của họ không gây trở ngại gì đến việc xét xử của vụ án. Căn cứ Điều 292, 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.

[2] Về nội dung: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa các bị cáo Đỗ Thị Mai P, Đỗ Thị M1 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng, cũng như xác định lời khai trong quá trình điều tra là đúng, không bị ép buộc. Lời khai nhận tội phù hợp lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; người làm chứng về thời gian, địa điểm, thủ đoạn, mục đích, động cơ phạm tội và hậu quả do tội phạm gây ra, cùng các tang vật đã thu giữ và các tài liệu đã được thu thập đúng quy định pháp luật. Do đó có đủ căn cứ để kết luận:

Khoảng 13 giờ 30 phút ngày 20/7/2021, các bị các Đỗ Thị Mai P, Đỗ Thị M1 cùng với các đối tượng Đỗ Ngọc D, Nguyễn Thị Hồng X chơi bài tứ sắc được thua bằng tiền, với số tiền cược từ 5.000đồng đến 10.000 đồng/người/ván, nếu ván bài tới chơn thì thắng thua là 5.000 đồng, ván bài tới quan thì thắng thua là 10.000 đồng, khi bị bắt quả tang thu giữ trên chiếu bạc với số tiền là 210.000 đồng (trong đó 70.000 đồng của P, 70.000 đồng của M1, 70.000 đồng của D, 120.000 đồng của X) cùng 20 bộ bài, cũng như điện thoại, xe mô máy của các bị cáo và đối tượng đánh bạc cùng, do P, M1 trước đó đã bị xử lý vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc trái phép, đã nộp phạt, nhưng chưa hết thời hạn, nhưng các bị cáo P, M1 tiếp tục thực hiện hành vi đánh bạc trái phép là đã đã phạm tội “Đánh bạc” tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 có khung hình phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm (tội phạm ít nghiêm trọng).

[3] Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự công cộng; hành vi của các bị cáo gây mất trật tự trị an và an toàn cho xã hội, làm ảnh hưởng đến an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội ở địa phương, mặc dù các bị cáo đánh bạc với giá trị thấp, nhưng trước đó bị cáo đã bị xử lý vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc, đã chấp hành việc nộp phạt, nhưng chưa hết thời hạn xử lý hành chính, lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội, là cố ý thực hiện hành vi.

Riêng đối với những người liên quan như Đỗ Ngọc D, Nguyễn Thị Hồng X trong vụ án này, thực hiện đánh bạc với giá trị thấp, chưa đủ định lượng theo quy định của Bộ luật hình sự, hình thức chơi nhỏ, không có sự phân công, số tiền thu được trên chiếu bạc thấp, các đối tượng chưa có tiền sự về hành vi đánh bạc trái phép, nên việc Cơ quan điều tra chuyển xử lý hành chính là phù hợp.

[4] Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Các bị cáo Đỗ Thị Mai P, Đỗ thị M1 là người có sức khỏe, có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Trong vụ án này, các bị cáo trước đó đã bị xử lý hành chính về hành vi đánh bạc, mặc dù các bị cáo đã nộp phạt, nhưng tại thời điểm bị bắt phạm tội quả tang các bị cáo đã bị xử lý vi phạm hành chính nhưng vẫn tiếp tục thực hiện hành vi tội phạm với hình thức đánh bài tứ sắc được thua bằng tiền là đã vi phạm pháp luật hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà các bị cáo đã thành khẩn khai báo và thực sự ăn năn hối cải, thuộc trường phạm tội ít nghiêm trọng. Đây là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xét thấy, hậu quả của tội phạm là ít nghiêm trọng, mặc dù trước đó các bị cáo đã bị xử lý hành chính về hành vi đánh bạc, các bị cáo đã không lấy đó làm bài học, rút kinh nghiệm, vẫn tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội. Tuy nhiên, các bị cáo được áp dụng 02 tình tiết giảm nhẹ mà không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào, các bị cáo phạm tội nhưng hậu quả của hành vi phạm tội thấp, giá trị không lớn, khi đánh bạc không có tính tổ chức, tự phát; các bị cáo có trình độ văn hóa thấp, nhận thức pháp luật có phần hạn chế, các bị cáo chấp hành nghiêm theo giấy triệu tập của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, phạm tội lần đầu. Vì vậy, nếu không bắt các bị cáo phải chấp hành hình phạt tù thì không gây nguy hiểm cho xã hội, không gây ảnh hưởng xấu đến công cuộc phòng chống tội phạm nói chung và để các bị cáo sửa chữa lỗi lầm, trở thành người có ích cho xã hội, không cần cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội, cũng đảm bảo tính răn đe, phòng ngừa chung, nên cần chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa để cho các bị cáo được cải tạo tại địa phương.

Khi quyết định hình phạt nhận thấy: Nguyên nhân dẫn đến tội phạm có một phần là do bị cáo vì hám lời, các bị cáo đều là người lao động có thu nhập thấp, nhưng vì muốn kiếm tiền nhanh nên đã thực hiện hành vi phạm tội, do nhận thức pháp luật hạn chế. Mặt khác, các bị cáo được áp dụng nhiều tình tiết giảm nhẹ mà không phải chịu tình tiết tăng nặng nào nên cần quyết định một hình phạt phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo, đây là cơ hội để các bị cáo yên tâm cải tạo và phấn đấu sửa chữa lỗi lầm. Tuy nhiên, xét về tính chất thì cả 02 bị cáo có hành vi phạm tội như nhau, không có tính tổ chức, nhưng riêng đối với bị cáo M1 có hành vi gọi điện rủ thêm người khác đánh bạc, chủ động đưa tiền cho người khác mua bài để thực hiện hành vi đánh bạc nên cần phân loại tính chất mức độ, hành phạt khác với bị cáo P, đảm bảo mức răn đe, phòng ngừa tội phạm, mức hình phạt đối với bị cáo M1 phải cao hơn bị cáo P. Đối với mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị đối với các bị cáo là tương xứng với tính chất mức độ tội phạm đã gây ra nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[5] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 3 Điều 321 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 thì người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng. Xét thấy, tại phiên tòa đã làm rõ, các bị cáo là lao động tự do, thu nhập thấp, bản thân không nghề nghiệp ổn định nên Hội đồng xét xử quyết định miễn hình phạt bổ sung cho các bị cáo.

[6] Về vật chứng: Quá trình điều tra, đã xử lý vật chứng, đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa xác định vật chứng đã được xử lý theo quy định, nên Hội đồng xét xử không đề cập xem xét, quyết định.

[7] Về các vấn đề khác: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[8] Phần kiến nghị: Trong hồ sơ vụ án theo các tài liệu, chứng cứ thể hiện việc các bị cáo Đỗ Thị Mai P tham gia đánh bài tứ sắc vào ngày 25/5/2021, Đỗ Thị M1 tham gia đánh bài tứ sắc vào các ngày 11/6/2021, có các đối tượng tham gia đánh bạc mang theo số tiền lớn trong người, mặc dù không liên quan đến vụ án này, nhưng các bị P, M1 bị xử lý hành chính về hành vi đánh bạc liên quan đến 02 vụ việc này, nên kiến nghị Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát làm rõ xử lý trách nhiệm theo đúng quy định. Ngoài ra vụ việc đã được xử lý từ năm 2021, bản thân các bị cáo công nhận hành vi đánh bạc, cơ quan Điều tra đã chứng minh được việc các bị cáo đã bị xử lý hành chính, nhưng đến nay mới xử lý theo quy định là chưa đảm bảo công tác đấu tranh, phòng chống tội phạm nhất là các vụ việc đánh bạc đang ngày càng có diễn biến phức tạp như hiện nay tại địa phương, thời gian các bị cáo, người liên quan thực hiện hành vi đánh bạc diễn biến dịch Covid-19 phức tạp, nhưng công tác phòng chống tội phạm, chống dịch chưa đảm bảo. Vì vậy, Hội đồng xét xử kiến nghị cần có các biện pháp ngăn ngừa tội phạm tại địa phương đảm bảo đúng quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố các bị cáo Đỗ Thị Mai P và Đỗ Thị M1 phạm tội “Đánh bạc”.

  1. Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 1, khoản 2, khoản 5 Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Đỗ Thị Mai P 06 (Sáu) tháng tù, cho hưởng án treo; thời gian thử thách là 01 (Một) năm, kể từ ngày tuyên án. Giao bị cáo Đỗ Thị Mai P cho Ủy ban nhân dân xã M, huyện C, tỉnh An Giang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
  2. Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 1, khoản 2, khoản 5 Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Đỗ Thị M1 08 (T) tháng tù, cho hưởng án treo; thời gian thử thách là 01 (Một) năm 04 (bốn) tháng, kể từ ngày tuyên án. Giao bị cáo Đỗ Thị M1 cho Ủy ban nhân dân xã M, huyện C, tỉnh An Giang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

(Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 của Luật thi hành án Hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo).

Về vật chứng: Đã xử lý, nên không đề cập xem xét, quyết định.

Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án: các bị cáo Đỗ Thị Mai P, Đỗ Thị M1 mỗi bị cáo phải chịu 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Căn cứ Điều 321; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Riêng những người vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật./.

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 107/2024/HS-ST ngày 04/12/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG về tội đánh bạc

  • Số bản án: 107/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tội Đánh bạc
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 04/12/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: P, M đánh bài tứ sắc, đã bị xử lý vi phạm hành chính
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger