|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUY NHƠN TỈNH BÌNH ĐỊNH Bản án số: 107/2025/HSST Ngày: 28-5-2025 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUY NHƠN-TỈNH BÌNH ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Diễm
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Phạm Ngọc Đông.
2. Bà Phạm Thị Tú Nga.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Văn Phương Nhi là Thư ký của Toà án nhân dân Tp. Quy Nhơn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Tp. Quy Nhơn tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Trà - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 5 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân Tp. Quy Nhơn, tỉnh Bình Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 65/2025/HSST ngày 15/4/2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 105/2025/QĐXXST-HS ngày 14/5/2025, đối với bị cáo:
Họ và tên: Trần Văn Nguyên B, giới tính: Nam; sinh ngày 10/4/1997 tại tỉnh Bình Định; Nơi cư trú: Tổ B, khu phố E, phường H, thành phố Q, tỉnh Bình Định; Nghề nghiệp: Lao động phổ thông; Trình độ học vấn: 11/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông: Trần Văn T, sinh năm 1966 và bà: Nguyễn Thị N, sinh năm 1969; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 09/6/2020, bị Toà án nhân dân thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định xử phạt 09 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 tháng, chấp hành xong ngày 09/12/2021; Bị áp biện pháp ngăn chặn: Cấm đi khỏi nơi cư trú; Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại:
Anh Nguyễn Văn T1, sinh năm 1977; nơi cư trú: Tổ B, khu phố C, phường N, thành phố Q, tỉnh Bình Định. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 18 giờ ngày 29/11/2024, Nguyễn Văn T1 (Sinh năm: 1977; Trú: Tổ B, khu V, phường N, thành phố Q) đậu xe tải biển số 77C-1** ** tại khu vực chợ D thuộc phường N, thành phố Q. Khoảng 23 giờ cùng ngày, anh T1 để điện thoại trong Cabin xe rồi lấy võng ra móc trên thùng xe ngủ. Khoảng 01 giờ 00 ngày 30/11/2024, Trần Văn Nguyên B đi dạo khu vực chợ D thấy xe tải của anh T1 đang đậu không có người trông coi nên tiến lại mở cửa bên tài, leo vào trong cabin lục lấy 01 điện thoại di động Iphone 14 Pro max, màu tím, có dán kính cường lực, có ốp lưng nhựa dẻo trong suốt, viền màu vàng của anh T1 rồi tẩu thoát. Đến 08 giờ 30 phút cùng ngày, Công an phường N phát hiện, đưa Trần Văn Nguyên B về trụ sở làm việc
Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Q kết luận: 01 Điện thoại di động Iphone 14 Promax 128GB có dán kính cường lực, số IMEI: 35413241478****, IMEI 2: 35413241455****, đã qua sử dụng trị giá 15.000.000 đồng (Mười lăm triệu đồng); 01 Kính cường lực Iphone 14 Promax, không rõ nhãn hiệu, đã qua sử dụng trị giá 50.000 đồng (Năm mươi nghìn đồng); 01 Ốp lưng điện thoại di động Iphone 14 Promax băng nhựa dẻo trong suốt, viền màu vàng, đã qua sử dụng trị giá 10.000 đồng (Mười nghìn đồng). Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an thành phố Q đã tạm giữ và trả lại cho anh Nguyễn Văn T1: 01 điện thoại di động Iphone 14 Promax 128GB có dán kính cường lực và ốp lưng bằng nhựa dẻo trong suốt, viền màu vàng. Về trách nhiệm dân sự: Anh Nguyễn Văn T1 đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt, anh T1 không yêu cầu bồi thường gì. Tại bản cáo trạng số 75/CT-VKSQN ngày 14/4/2025 của Viện kiểm sát nhân dân Tp. Quy Nhơn truy tố: Bị cáo Trần Văn Nguyên B về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Bị cáo Trần Văn Nguyên B thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng đã truy tố. Do đó, Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Trần Văn Nguyên B theo Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
- - Về trách nhiệm hình sự: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Trần Văn Nguyên B từ 12 tháng đến 18 tháng tù.
- - Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu bồi thường gì nên không xem xét giải quyết.
Bị cáo tự bào chữa: Bị cáo Trần Văn Nguyên B thừa nhận hành vi phạm tội, không bào chữa.
Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo Trần Văn Nguyên B xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Q, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quy Nhơn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, tại phiên tòa, bị cáo; bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa bị cáo Trần Văn Nguyên B đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố. Lời khai của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án nên Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định:
Do cần tiền tiêu xài cá nhân, bị cáo Trần Văn Nguyên B đã nảy sinh ý định trộm cắp tài sản của người khác đem bán lấy tiền. Vào ngày 30/11/2024, tại khu vực chợ D thuộc phường N, thành phố Q, bị cáo Trần Văn Nguyên B đã có hành vi lén lút chiếm đoạt 01 điện thoại di động Iphone 14 Pro max, màu tím, có dán kính cường lực, có ốp lưng nhựa dẻo trong suốt, viền màu vàng, trị giá 15.060.000 đồng của anh Nguyễn Văn T1.
Bị cáo có đầy đủ sức khỏe, năng lực để nhận thức và điều khiển hành vi của mình nên phải biết trộm cắp tài sản của người khác là vi phạm pháp luật, nhưng do tham lam, xem thường pháp luật, đã lợi dụng sự sơ hở của bị hại trong việc quản lý tài sản, lén lút chiếm đoạt tài sản của bị hại có trị giá 15.060.000 đồng. Do đó, Cáo trạng số 75/CT-VKSQN ngày 14/4/2025 của Viện kiểm sát nhân dân Tp. Quy Nhơn truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng tội.
[3] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác, gây mất trật tự trị an ở địa phương nên cần phải xử phạt nghiêm, cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo riêng đối với bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.
[4] Xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của bị cáo thì thấy:
4.1 Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu.
4.2 Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có các tình tiết tăng nặng.
4.3 Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Do đó xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo để bị cáo an tâm cải tạo tốt.
[5] Về trách nhiệm dân sự: Anh Nguyễn Văn T1 đã nhận lại tài sản, anh T1 không yêu cầu bồi thường gì nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[6] Về án phí: Bị cáo bị kết án về tội “Trộm cắp tài sản” nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[8] Xét lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định đề nghị áp dụng tình tiết giảm nhẹ đối với bị cáo là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận. Đối với mức hình phạt là quá nghiêm khắc với bị cáo nên Hội đồng xét xử sẽ cân nhắc khi áp dụng mức hình phạt.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Văn Nguyên B phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Trần Văn Nguyên B 07 (bảy) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt giam đi thi hành án.
- Về án phí: Bị cáo Trần Văn Nguyên B phải chịu 200.000đ (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại nơi cư trú.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyễn Thị Diễm |
Bản án số 107/2025/HSST ngày 28/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUY NHƠN TỈNH BÌNH ĐỊNH về hình sự sơ thẩm (trộm cắp tài sản)
- Số bản án: 107/2025/HSST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Trộm cắp tài sản)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/05/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUY NHƠN TỈNH BÌNH ĐỊNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần Văn Nguyên B "Trộm cắp tài sản"
