Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 107/2025/HSST

Ngày: 23/6/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Hà Thị Thanh Hương.

Các hội thẩm nhân dân: Ông Mai Xuân Thường và bà Hoàng Thị Hường.

- Thư ký phiên toà: bà Phan Thị Hương Ly - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân tỉnh Nghệ An: Bà Thái Thị Hạnh Tịnh, kiểm sát viên.

Ngày 23/6/2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 61/2025/HSST ngày 25/4/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 110/2025/QĐXXST-HS ngày 26/5/2025 và quyết định hoãn phiên tòa số 279/2025/HSST-QĐ ngày 10/6/2025 đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Lê Đức T; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày: 25/10/1985 tại: thị xã H, tỉnh Nghệ An; Nơi cư trú: thôn T, xã Q, thị xã H, tỉnh Nghệ An; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Đánh cá biển; Trình độ học vấn: Lớp 6/12; Họ và tên cha: Lê Đức K (Đã chết); Họ và tên mẹ: Phạm Thị T1 (Đã chết); Vợ: Đậu Thị N; sinh năm 1987; Con: Có 02 người, con thứ nhất sinh năm 2005, con thứ hai sinh năm 2007; Tiền án; Tiền sự: Không;

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 25/12/2024 đến ngày 03/01/2025; Hiện tại ngoại đang áp dụng Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 03/01/2025 đến nay. Có mặt tại phiên tòa.

2. Họ và tên: Đậu Thị N; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nữ; Sinh ngày: 05/02/1987 tại: thị xã H, tỉnh Nghệ An; Nơi cư trú: thôn T, xã Q, thị xã H, tỉnh Nghệ An; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: Lớp 9/12; Họ và tên cha: Đậu Đình N1 (Đã chết); Họ và tên mẹ: Trần Thị N2; Chồng: Lê Đức T; sinh năm 1985; Con: 02 người; con thứ nhất sinh năm 2005, con thứ hai sinh năm 2007; Tiền án; Tiền sự: Không; Bị cáo tại ngoại, bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay. Có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng cuối năm 2023, Lê Đức T đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan có quen một người đàn ông tên V1 (không rõ lai lịch, địa chỉ). V1 đã cho T số điện thoại của một người đàn ông (không rõ lai lịch, địa chỉ) và giới thiệu người này có thể bán thuốc nổ cho người đi đánh cá. Đến tháng 10/2024, Lê Đức T về Việt Nam. Do có nhu cầu mua thuốc nổ để bán lại cho người đi đánh cá nhằm kiếm lời, T đã sử dụng số điện thoại 0398.313.xxx liên lạc với người đàn ông trên để đặt vấn đề mua thuốc nổ. Đến khoảng 19 giờ ngày 24/12/2024, người này gọi điện thoại cho Lê Đức T nói “Ngày mai có ít hàng thuốc nổ, có lấy không anh”; T hỏi “Có bao nhiêu đó”, người này nói “Có ba trăm kíp, hai bịch thuốc nổ và một ít dây cháy chậm”; T hỏi “có lấy, khoảng bao nhiêu tiền”, người này nói “Hai lăm triệu đồng, khoảng 12 giờ trưa mai giao hàng”. Đến khoảng hơn 12 giờ ngày 25/12/2024, người đàn ông trên gọi điện thoại cho T hẹn địa điểm gần cầu vượt đường cao tốc gần xã Q, thị xã H, tỉnh Nghệ An để giao thuốc nổ. T nói với Đậu Thị N: “Đưa cho anh H mươi lăm triệu đồng để đi lấy hàng”, Nghĩ hỏi “Lấy hàng gì?”; T nói “Có thằng ni có ít thuốc nổ, anh đi lấy về để bán”, Nghĩ hỏi “Có tin tưởng được không?”, T nói “Thằng ni có người bạn giới thiệu nên tin được”. Nghĩ đồng ý và đưa cho T 25.000.000₫ (Hai mươi lăm triệu đồng) Ngay để đi mua thuốc nổ. Sau đó, T điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Ablade, biển số 37F1-698.40 từ nhà đi nhận thuốc nổ. Đậu Thị N sợ T lừa lấy tiền đi làm việc khác nên điều khiển xe mô tô biển số 37L1-569.79 đi theo. Khi đi đến thôn T, xã Q, thị xã H, tỉnh Nghệ An, Nghĩ vào nhà Đậu Thị V (sinh năm 1999, là cháu của N) đổi lấy xe mô tô biển sổ 37L1-836.18 của V đi theo phía sau để theo dõi T. Khi Lê Đức T đi đến khu vực cầu vượt thuộc xã Q, thị xã H, tỉnh Nghệ An, thì gặp một nam thanh niên mặc bộ quần áo thể thao màu trắng sữa, đi xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe SH, màu đỏ (không biết rõ biển số xe). Khi quan sát thấy T, nam thanh niên gật đầu ra tín hiệu nên T biết người này đã liên hệ bán thuốc nổ, kíp nổ cho T. Nam thanh niên dẫn T đi khoảng 20 mét và chỉ cho T vị trí cất giấu thuốc nổ được để trong 01 (Một) bao bì xác rắn màu trắng, có nhiều màu sắc khác nhau và in dòng chữ “Con cò” để dưới bờ ruộng và yêu cầu T lấy thuốc nổ xong thì để số tiền mua thuốc nổ tại nơi đã lấy thuốc nổ. Tiếp đó, T để xe mô tô trên đường, đi bộ khoảng 03 (Ba) mét đến nơi bờ ruộng lấy bao bì xác rắn bên trong có chứa thuốc nổ và để lại số tiền 25.000.000₫ (Hai mươi lăm triệu đồng) theo yêu cầu của người nam thanh niên, sau đó mang bao bì thuốc nổ đặt lên phía trước đầu xe mô tô biển số 37F1- 698.40 để điều khiển xe đi về nhà. Lúc này, T thấy Đậu Thị N đứng cách vị trí T lấy thuốc nổ khoảng 20m (Hai mươi mét) ở phía sau quan sát, còn người nam thanh niên bán vật liệu nổ cho T lấy tiền lúc nào thì T không biết. Khi T điều khiển xe mô tô đi đến thôn A, xã Q, thị xã H, tỉnh Nghệ An thì bị tổ công tác Công an thị xã H kiểm tra, phát hiện bắt quả tang, thu giữ các vật chứng như đã nêu. Còn Đậu Thị N tiếp tục điều khiển xe về hướng Quốc lộ A thì nhận được cuộc gọi (giọng nữ) từ số thuê bao lạ đến số thuê bao 0398313301 mà Nghĩ đang sử dụng với nội dung “ở mô đó, chồng em bị bắt thuốc nổ, em đi về nhà đi”, thì N đi về nhà.

Nghĩ không vào nhà mà tiếp tục đi đến nhà Đậu Thị X (sinh năm 1971, trú tại thôn Đ, xã Q, thị xã H, tỉnh Nghệ An, là chị gái Đậu Thị N). Tại đây, Nghĩ kiểm tra máy điện thoại và xóa hết nhật ký cuộc gọi. Đến ngày 26/12/2024, Đậu Thị N đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã H, tỉnh Nghệ An để đầu thú.

Ngày 25/12/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã H, tỉnh Nghệ An đã thành lập Hội đồng mở niêm phong, xác định khối lượng, lấy mẫu giám định và niêm phong lại đối với số vật chứng (nghi là vật liệu nổ) đã thu giữ của Lê Đức T, xác định: 02 (Hai) túi ni lông màu trắng, bên trong mỗi túi ni lông đựng 10 (Mười) thỏi chất rắn hình trụ tròn màu nâu giống nhau, mỗi thỏi chất rắn trên có kích thước dài 25cm, đường kính 3cm; Mỗi túi ni lông có khối lượng cả bì là 2,1kg. Sau khi loại bỏ bao bì, 10 (Mười) thỏi chất rắn trong mỗi túi ni lông trên có khối lượng 02kg. Tổng 20 (Hai mươi) thỏi chất rắn trong 02 túi ni lông trên (sau khi trừ bì) là 04kg; 01 (Một) túi nilong màu trắng bên trong có chứa 101 (Một trăm linh một) khối hình trụ tròn bằng kim loại màu bạc, kích thước giống nhau (0,7x6)cm, một đầu có gắn hai sợi dây điện, nghi là kíp nổ; 01 (Một) túi nilong màu đen, bên trong đựng 206 (Hai trăm linh sáu) khối hình trụ tròn bằng kim loại màu bạc, kích thước giống nhau (0,7x6)cm, một đầu có gắn hai sợi dây điện, nghi là kíp nổ; 01 (Một) sợi dây màu đen dài 4,53m, nghi là dây cháy chậm. (Bút lục số 72-73 HSVA).

Kết luận giám định số 77/KL-KTHS (Đ2-CN) ngày 31/12/2024 của Phòng K2 Công an tỉnh N kết luận: “- Các mẫu vật (ký hiệu từ M1, M2) thu giữ của Lê Đức T gửi đến giám định đều là thuốc nổ công nghiệp; loại thuốc nổ Amonit AD1. Thuốc nổ công nghiệp thường được sử dụng để phá đá, mở đường hoặc khai thác khoáng sản.

Các mẫu vật (ký hiệu từ M3, M4, M5) thu giữ của Lê Đức T gửi đến giám định đều là kíp nổ; loại kíp nổ điện số 8. Kíp nổ được dùng để kích nổ các loại thuốc nổ.

Mẫu vật (ký hiệu từ M6) thu giữ của Lê Đức T gửi đến giám định là dây cháy chậm. Dây cháy chậm được dùng để dẫn lửa cho kíp nổ đốt”.

Quá trình điều tra, Lê Đức T và Đậu Thị N thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.

Về thu giữ, xử lý vật chứng vụ án:

  • - 01 (một) bì xác rắn màu trắng, nhiều màu sắc khác nhau, có ghi dòng chữ “Con cò”, bên trong có chứa 04 kg (Bốn ki lô gam) thuốc nổ công nghiệp, Cơ quan điều tra đã lấy 0,4 kg (Không phẩy bốn ki lô gam) gửi giám định, còn 3,6 kg (Ba phẩy sáu ki lô gam); 4,53m (Bốn phẩy năm mươi ba mét) dây cháy chậm, đã lấy 01m (một mét) gửi giám định, còn lại 3,53m (Ba phẩy năm mươi ba mét); 307 (Ba trăm linh bảy) kíp nổ điện số 8.
  • Số vật chứng trên hiện đang được bảo quản tại Kho K - Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh N.
  • - 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA màu đen, bên trong gắn SIM số điện thoại 0398.313.xxx thu giữ của Đậu Thị N và 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu SamSung Galaxy A53 5G gắn SIM số điện thoại 0393.992.xxx thu giữ của Lê Đức T, hiện đang được bảo quản tại Kho vật chứng Cục thi hành án dân sự tỉnh Nghệ An.

- 01 (Một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda ABlade, màu đỏ đen, biển số 37F1-698.40, số máy JF46E-7033683, số khung EZ-405453, quá trình điều tra xác định chiếc xe trên của ông Phạm Trung K1 (sinh năm 1976, trú tại xóm T, xã D, huyện D, Nghệ An) cho Lê Đức T mượn sử dụng. Phạm Trung K1 không biết việc T sử dụng chiếc xe này để đi mua vật liệu nổ. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã H, tỉnh Nghệ An đã ra Quyết định xử lý trả lại cho ông Phạm Trung K1 theo quy định pháp luật.

Tại bản cáo trạng số 93/CT-VKSNA-P1 ngày 22/4/2025 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An đã truy tố ra trước Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An để xét xử Lê Đức T về tội “Vận chuyển, mua bán trái phép vật liệu nổ” quy định tại khoản 1 Điều 305 Bộ luật Hình sự; Đậu Thị N về tội “Mua bán trái phép vật liệu nổ” quy định tại khoản 1 Điều 305 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà hôm nay đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An giữ nguyên quan điểm như Cáo trạng truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 điều 305; điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51; điều 60 Bộ luật hình sự xử phạt: Bị cáo Lê Đức Thực T2 18 tháng tù đến 21 tháng tù về tội "Vận chuyển, mua bán trái phép vật liệu nổ" nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 36 tháng đến 42 tháng; Bị cáo Đậu Thị N từ 12 tháng tù đến 15 tháng tù về tội "Mua bán trái phép vật liệu nổ" nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 24 tháng đến 30 tháng; Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho các bị cáo. Về xử lý vật chứng: Đề nghị tịch thu vật liệu nổ giao cho Bộ chỉ huy quân sự tỉnh N xử lý theo quy định pháp luật; tịch thu sung quỹ nhà nước 01 điện thoại nhãn hiệu Nokia, màu đen của bị cáo Lê Thị N3; Trả lại 01 điện thoại Samsung Galaxy A53 5G cho bị cáo Lê Đức T.

Tại phiên tòa các bị cáo không tranh luận gì và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo và xin được cải tạo địa phương.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an tỉnh N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ an, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Về nội dung: Tại phiên toà, các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình như Bản cáo trạng đã truy tố là đúng. Xét lời khai của bị cáo phù hợp với kết luận giám định và các chứng cứ khác đã được thẩm tra, tranh tụng tại phiên toà. Như vậy, có cơ sở để kết luận:

Vào khoảng 12 giờ ngày 25/12/2024, tại khu vực cầu vượt xã Q, thị xã H, tỉnh Nghệ An, Lê Đức T mua 04 kg thuốc nổ công nghiệp Amonit AD1; 4,53 mét dây cháy chậm và 307 kíp nổ điện số 8 của một nam thanh niên (không rõ lai lịch, địa chỉ) với giá 25.000.000₫ (Hai mươi lăm triệu đồng), mục đích bán kiếm lời. Số tiền này do Đậu Thị N (vợ của Lê Đức T) đưa cho T để mua vật liệu nổ. Sau khi mua xong trên đường về khoản 13 giờ cùng ngày thì Lê Đức T bị Tổ công tác Công an thị xã H phát hiện, bắt quả tang tại thôn A, xã Q, Thị xã H, tỉnh Nghệ An.

Như vậy, hành vi của các bị cáo Lê Đức T và Đậu Thị N đã phạm vào tội “Mua bán trái phép vật liệu nổ", vi phạm vào khoản 1 điều 305 Bộ luật hình sự. Cáo trạng truy tố Lê Đức T về tội “Vận chuyển, mua bán trái phép vật liệu nổ” buộc Lê Đức T phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi vận chuyển, mua bán trái phép vật liệu nổ là chưa chính xác. Xét về thời gian thực hiện hành vi (Bị cáo vừa đi mua 04 kg thuốc nổ công nghiệp Amonit AD1; 4,53 mét dây cháy chậm và 307 kíp nổ điện số 8 thì trên đường về bị bắt) và mục đích mua 04 kg thuốc nổ công nghiệp Amonit AD1; 4,53 mét dây cháy chậm và 307 kíp nổ điện số 8 về để bán (tất cả các lời khai của bị cáo đều trình bày 12 giờ ngày 25/12/2025 bị cáo đi mua thuốc nổ trên đường về bị cáo bị bắt, mục đích mua về để bán kiếm lời nhưng chưa kịp bán thì bị bắt), theo hướng dẫn tại mục 3.3 mà mục 8 điều 3 NQ số 03 ngày 09/9/2022 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thì HĐXX nhận định bị cáo không có hành vi vận chuyển trái phép vật liệu nổ mà hành vi bị cáo là hành vi mua bán trái phép vật liệu nổ nên bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi mua bán trái phép vật liệu nổ quy định tại khoản 1 điều 305 BLHS.

Xét hành vi phạm tội của các bị cáo là nghiêm trọng, nguy hiểm cho xã hội, gây ảnh hưởng đến trật tự an toàn xã hội, xâm phạm đến an toàn công cộng. Vì vậy, cần xét xử nghiêm minh đối với bị cáo.

Xét vai trò của các bị cáo: đối với bị cáo T là người liên hệ mua vật liệu nổ, vừa là người trực tiếp thực hiện hành vi phạm tội nên giữ vai trò chính trong vụ án, đối với bị cáo N là người đưa tiền để bị cáo T mua vật liệu nổ bị cáo giữ giúp sức cho bị cáo T nên bị cáo T phải chịu trách nhiệm hình sự cao hơn bị cáo N.

Tuy nhiên, trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử bị cáo đã thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải, gia đình các bị cáo có công với cách mạng được tặng thưởng (bị cáo Lê Đức T có ông nội (ông Lê Bá D) được Nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng Ba; bà nội (bà Lê Thị X1) tham gia dân công hỏa tuyến; bác ruột (ông Lê Văn C) được Nhà nước tặng thưởng Huân chương chiến sĩ vẻ vang; Bị cáo Nghĩ có mẹ đẻ (bà Trần Thị N2) tham gia dân công hỏa tuyến, có bố đẻ (ông Đậu Đình N1) được Nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng Nhì;. Riêng bị cáo N sau khi thực hiện hành vi phạm tội, bị can Đậu Thị N đã đến Công an thị xã H đầu thú. Vì vậy các bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Bộ luật hình sự nên cần xem xét để giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo.

Về hình phạt bổ sung là phạt tiền: Các bị cáo có hoàn cảnh khó khăn nên không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

[3]. Đối với nam thanh niên đã bán vật liệu nổ cho Lê Đức T, do T không biết nhân thân, lai lịch nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để xác minh, làm rõ và xử lý trong vụ án.

Đối với người đàn ông tên V1 đã cho T số điện thoại của người bán vật liệu nổ, theo lời khai của Lê Đức T không biết nhân thân, lai lịch cụ thể, chỉ biết ở thôn Đ, xã Q, thị xã H; Cơ quan điều tra đã phối hợp với Công an xã Q tiến hành xác minh tại địa phương có Trần Xuân V1, sinh năm 1989; V1 khai không quen biết Lê Đức T và chưa từng đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan. Vì vậy, Cơ quan điều tra không có căn cứ để xác minh, làm rõ.

Đối với Phạm Trung K1 là người cho Lê Đức T sử dụng chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda ABlade, màu đỏ đen, biển số 37F1-698.40, quá trình điều tra xác định Phạm Trung K1 không biết việc Lê Đức T sử dụng chiếc xe mô tô để đi giao dịch mua bán, vận chuyển vật liệu nổ nên không phải chịu trách nhiệm hình sự.

[4]. Về vật chứng:

  • - Số vật liệu nổ gồm thuốc nổ, kíp nổ, dây cháy chậm còn lại sau khi đã lấy mẫu giám định là 3,6 kg (Ba phẩy sáu ki lô gam) thuốc nổ; 3,53m (Ba phẩy năm mươi ba mét) dây cháy chậm; 307 (Ba trăm linh bảy) kíp nổ điện số 8 cần tịch thu giao cho Bộ chỉ huy quân sự tỉnh N xử lý theo quy định của pháp luật.
  • - 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA màu đen, bên trong gắn SIM số điện thoại 0398.313.xxx của Đậu Thị N do bị cáo T sử dụng để liên hệ mua vật liệu nổ cần tịch thu sung quỹ nhà nước.
  • - 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu SamSung Galaxy A53 5G gắn SIM số điện thoại 0393.992.xxx thu giữ của Lê Đức T không liên quan đến việc phạm tội cần trả cho bị cáo T.
  • Đối với 01 (một) xe mô tô biển số 37F1-698.40, nhãn hiệu Honda ABlade, màu sơn đỏ đen, quá trình điều tra xác định chủ sở hữu là anh Phạm Trung K1. Bị cáo sử dụng xe vào việc phạm tội nhưng anh K1 không biết nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã H, tỉnh Nghệ An đã trả lại cho anh K1 nên HĐXX không xem xét.

[5]. Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí HSST theo luật định.

Bởi các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 điều 305; điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51, điều 60 Bộ luật hình sự xử phạt:

  • - Bị cáo Lê Đức T 18 (Mười tám) tháng tù về tội “Mua bán trái phép vật liệu nổ” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 36 (Ba mươi sáu) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
  • - Bị cáo Đậu Thị N 12 (Mười hai) tháng tù về tội “Mua bán trái phép vật liệu nổ” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 (Hai mươi tư) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Lê Đức T và bị cáo Đậu Thị N cho Công an xã nơi các bị cáo cư trú giám sát, UBND xã nơi các bị cáo cư trú giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục người bị kết án.

Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo điều 92 Luật thi hành án Hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Về vật chứng vụ án: Căn cứ vào điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, điều 47 Bộ luật hình sự:

  • - Tịch thu giao cho Bộ chỉ huy quân sự tỉnh N 3,6 kg (Ba phẩy sáu ki lô gam) thuốc nổ; 3,53m (Ba phẩy năm mươi ba mét) dây cháy chậm; 307 (Ba trăm linh bảy) kíp nổ điện số 8 xử lý theo quy định của pháp luật (Vật chứng hiện đang được bảo quản tại Kho K - Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh N theo Biên giao nhận vật chứng ngày 20/02/2025 giữa Cơ quan ANĐT Công an tỉnh N và Kho vũ khí đạn Phòng HC-KT của Bộ chỉ huy quân sự tỉnh N).
  • - Tịch thu sung quỹ nhà nước 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA màu đen, bên trong gắn SIM số điện thoại 0398.313.xxx thu giữ của Đậu Thị N.
  • - Trả lại cho bị cáo Lê Đức T 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu SamSung Galaxy A53 5G gắn SIM số điện thoại 0393.992.xxx thu giữ của Lê Đức T.

(Hai chiếc điện thoại hiện có tại kho vật chứng của Cục thi hành án dân sự tỉnh Nghệ An theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 23/4/2025 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra công an tỉnh N và Cục thi hành án dân sự tỉnh Nghệ An).

Về án phí: Căn cứ vào điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điều 23 Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Toà án buộc các bị cáo Lê Đức T, Đậu Thị N mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí HSST.

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, các bị cáo được quyền kháng cáo lên Toà án nhân dân cấp cao tại Hà Nội./.

Nơi nhận:

  • - VKS, CA, THADS tỉnh Nghệ An;
  • - Công an, UBND nơi cư trú của các bị cáo;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

Hà Thị Thanh Hương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 107/2025/HSST ngày 23/06/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN về mua bán trái phép vật liệu nổ

  • Số bản án: 107/2025/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép vật liệu nổ
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lê Đức Thực mua bán trái phép vật liệu nổ
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger