|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC NINH TỈNH BẮC NINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 107/2025/HSST |
Ngày: 21/3/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC NINH, TỈNH BẮC NINH
- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thanh Ngọc.
Các hội thẩm nhân dân: Bà Hoàng Thảo Yến và bà Nguyễn Thị Hường.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Khánh Huyền.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên tòa: Bà Vũ Thị Chiêm - Kiểm sát viên.
Hôm nay, ngày 21 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh Bắc Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 127/2025/TLST-HS ngày 07 tháng 3 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 224/2025/QĐXXST-HS ngày 10/3/2025 đối với bị cáo:
Nguyễn Tiến Đ, sinh ngày 25/5/2006;
HKTT: Khu Thái Bảo, phường N, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh. Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 09/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Bố đẻ là Nguyễn Thu Đi, sinh năm: 1982, mẹ đẻ là Nguyễn Thị D, sinh năm 1983; Gia đình có 04 anh em, bị cáo là con thứ nhất. Vợ, con: Chưa có.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 26/12/2023 đến ngày 04/01/2024 thì được áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị tạm giam từ ngày 18/02/2025 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Phân trại tạm giam khu vực thành phố B, có mặt tại phiên tòa.
* Người đại diện hợp pháp của bị cáo: Anh Nguyễn Thu Đ, sinh năm: 1982 và chị Nguyễn Thị Doan, sinh năm 1983; HKTT: Khu Thái Bảo, phường N, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh.
* Người bào chữa cho bị cáo: Ông Nguyễn Văn Hải – Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Bắc Ninh.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 00 giờ 00 phút ngày 26/12/2023, Nguyễn Tiến Đ, sinh ngày 25/5/2006; HKTT: Khu Thái Bảo, phường N, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh; Nguyễn Tài T, sinh ngày 19/9/2006; HKTT: Khu phố Giang Liễu, phường Phương Liễu, thị xã Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh; Nguyễn Việt H, sinh năm 2004; HKTT: Khu Niềm Xá, phường Kinh Bắc, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh; Nguyễn Duy Thanh Tù, sinh ngày 05/8/2006; HKTT: Khu Khúc Toại, phường Khúc Xuyên, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh và Mai Nhật M, sinh ngày 21/7/2008; HKTT: Khu Nghiêm Thôn, phường Phố Mới, thị xã Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh là bạn bè quen biết với nhau cùng đi chơi về đến cửa quán Net Pro ở gần Bệnh viện đa khoa Thiện Nhân thuộc phường Phố Mới, thị xã Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh thì tất cả cùng đứng quây thành vòng tròn rồi bàn bạc với nhau mỗi người góp 1.000.000 đồng để mua ma túy và thuê nhà nghỉ để sử dụng nH do không ai có tiền nên cả nhóm thống nhất vay tiền người quen của M là anh Nguyễn Khắc Quyết, sinh năm 1979; HKTT: Khu phố Đỉnh, phường Phố Mới, thị xã Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh là chủ quán Nét Pro. Anh Quyết đồng ý cho vay nH phải có tài sản để lại làm tin nên cả nhóm thống nhất để lại xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision BKS 99G1-663.58 của Tù để vay 6.300.000 đồng của anh Quyết. Sau khi vay được tiền, Đ cầm và đưa cho H 2.000.000 đồng để H, T, M bắt taxi đi thuê nhà nghỉ trước. H, T và M bắt taxi lên thành phố B thuê phòng VIP2 nhà nghỉ Phương Linh 1 ở khu Bồ Sơn, phường Võ Cường, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh. Còn Tù điều khiển xe mô tô Honda Wave màu đỏ BKS 99E-666.91 của M chở Đ đi mua ma tuý. Trên đường đi Đ dùng số điện thoại 03988615xxx gọi vào số máy 0393966456 của Nguyễn Văn Bảy, sinh năm 2002; HKTT: Khu Thái Bảo, phường N, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh hỏi mua 01 chỉ ma tuý Ketamine. Bẩy báo giá 1.500.000 đồng và hẹn Đ đến gần nhà Bẩy ở khu Thái Bảo, phường N, thành phố B giao ma tuý. Khi Tù chở Đ gần đến nhà Bẩy, Đ bảo Tù dừng xe đứng chờ, Đ đi bộ đến gần cổng nhà Bẩy gặp Bẩy, Đ đưa cho Bẩy 1.500.000 đồng, Bẩy đưa lại cho Đ 01 túi nilong màu trắng bên trong có chứa chất tinh thể màu trắng là ma tuý Ketamine. Mua được ma tuý Đ đi bộ ra chỗ Tù đứng chờ, rồi nói với Tù “Lấy được đồ rồi”, tức là lấy được ma tuý rồi. Sau đó Tù điều khiển xe mô tô chở Đ về nhà nghỉ Ngọc Linh 1 nơi H, T, M đã thuê trước đó. Khi Tù, Đ lên phòng VIP 2 thì thấy T, M cùng nằm một giường, H nằm một giường. Đ và Tù vào ngồi tại giường H đang nằm, Đ đưa gói ma tuý vừa mua được cho H, H cầm để xuống giường. Đ ra bàn uống nước lấy chiếc đĩa sứ ở bàn uống nước (đĩa đựng chén), một ống hút bằng nhựa có sẵn trong phòng và lấy bật lửa ga, thẻ nhựa màu cam của Đ mang tất cả ra giường đưa cho H. H để túi ma tuý lên đĩa. Sau đó cả nhóm nằm trên hai giường trong phòng nói chuyện với nhau, chưa sử dụng ma tuý. Đến khoảng 03 giờ ngày 26/12/2023 thì đội Cảnh sát quản lý hành chính về TTXH Công an thành phố B kiểm tra, phát hiện và bắt quả tang. Do sợ hãi nên Tù đã cầm túi ma tuý trên ném xuống gầm giường của T và M đang nằm. Cơ quan Công an đã thu giữ vật chứng:
Vật chứng thu giữ:
- - Thu tại gầm giường của M và T đang nằm có 01 túi nilong màu trắng bên trong có chứa chất tinh thể màu trắng. Cơ quan Công an đã niêm phong túi nilon chứa chất tinh thể màu trắng vào phong bì thư (Ký hiệu M1).
- - Thu trên giường của Đ, H và Tù đang nằm 01 đĩa sứ màu trắng trên mặt đĩa có một ống hút màu nâu, 01 thẻ nhựa màu cam; 01 bật lửa ga màu đỏ. Lực lượng Công an đã niêm phong đĩa sứ, ống hút, thẻ nhựa và bật lửa ga vào túi nilong màu xanh (Ký hiệu M2).
Tại bản Kết luận giám định số 182/KL-KTHS ngày 26/12/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Ninh kết luận:
- “- Chất tinh thể màu trắng trong phong bì thư ký hiệu M1 gửi giám định có khối lượng là 1,1208 gam; Là ma túy; Loại ma túy: Ketamine.
- - Trên 01 đĩa sứ màu trắng, 01 ống hút màu nâu, 01 thẻ nhựa màu cam, 01 bật lửa màu đỏ bên trong 01 túi nilong màu xanh ký hiệu M2 không bám dính chất ma tuý”.
Ngày 26/12/2023, Nguyễn Văn Bẩy đã đến Cơ quan CSĐT Công an thành phố B đầu thú về hành vi bán trái phép chất ma tuý cho Đ và tự nguyện giao nộp 01 túi nilong màu trắng bên trong có chứa chất tinh thể màu trắng, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 Promax và số tiền 1.500.000 đồng.
Ngày 26/12/2023, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã tiến hành khám xét nơi ở của Bẩy tại khu Thái Bảo, phường N, thành phố BắcNinh, tỉnh Bắc Ninh nH không thu giữ đồ vật, tài liệu gì.
Ngày 26/12/2023 Cơ quan CSĐT Công an thành phố B tạm giữ tài sản, đồ vật, tài liệu gồm:
- - Nguyễn Tiến Đ: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone X lắp sim số 0398.861.xxx và số tiền 2.800.000 đồng.
- - Nguyễn Việt H: số tiền 1.250.000 đồng.
- - Mai Nhật M: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, sơn màu đỏ, BKS 99E1-666.91, số khung RLHSA3926PY521775, số máy HA39E3154771.
- - Nguyễn Khắc Quyết: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision, sơn màu xanh đen đỏ, BKS 99G1-663.58, số khung RLHJK0328NY020730, số máy JK03E8020786.
Tại bản Kết luận giám định số 183/KL-KTHS ngày 28/12/2023 của Phòng KTHS Công an tỉnh Bắc Ninh kết luận: “Chất tinh thể màu trắng trong túi nilong màu trắng gửi giám định có khối lượng là 0,6474 gam; Là ma tuý; Loại ma tuý: Ketamine".
Quá trình điều tra, truy tố bị cáo Bẩy khai nhận chiều ngày 25/12/2023 bị cáo bắt xe bus sang khu vực thị xã Quế Võ với mục đích để tìm mua ma túy về bán kiếm lời. Tại đây, bị cáo gặp 01 người đàn ông không quen biết và hỏi mua 2.400.000.000 đồng ma túy, người đàn ông đồng ý, nhận tiền rồi đưa bị cáo 02 túi nilon màu trắng bên trong chứa chất tinh thể màu trắng. Bị cáo biết là ma túy nên cầm rồi đi xe bus về nhà. Đến khoảng 01 giờ sáng ngày 26/12/2023, bị cáo đang ở nhà thì có Nguyễn Tiến Đ gọi vào số điện thoại 0393.966.xxx của bị cáo và bảo bị cáo lấy hộ 01 chỉ ke, bị cáo hiểu là Đ muốn mua ma túy nên bị cáo đồng ý và bán cho Đ với giá 1.500.000 đồng.
Ngay 22/4/2024 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố B ra Quyết định truy nã số 119/QĐTN đối với Nguyễn Tiến Đ.
Ngày 18/02/2025 Nguyễn Tiến Đ ra Cơ quan Công an đầu thú.
Cáo trạng số 75/CT-VKSTPBN ngày 07/3/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố B truy tố bị cáo Nguyễn Tiến Đ về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm g khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà hôm nay bị cáo Đ đã khai nhận hành vi phạm tội của mình.
Trong phần luận tranh, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố B giữ quyền công tố tại phiên toà giữ nguyên Cáo trạng truy tố Nguyễn Tiến Đ về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm g khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự và đề nghị Hội đồng xét xử:
Căn cứ điểm g khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 17; Điều 58; Điều 91 Bộ luật hình sự; Điều 119, 179 Luật tư pháp người chưa thành niên. Đề nghị xử phạt Nguyễn Tiến Đ từ 08 tháng đến 10 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 18/02/2025 nH được trừ thời gian tạm giữ từ 26/12/2023 đến 04/01/2024.
Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Ý kiến của bị cáo: Bị cáo nhất trí với phần luận tội và không tham gia tranh luận với đại diện Viện kiểm sát.
Ý kiến người bào chữa, người đại diện của bị cáo: Về tội danh nhất trí với quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố B. Song xét thấy bị cáo tại thời điểm phạm tội là người dưới 18 tuổi, phạm tội lần đầu. Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng nên đề nghị áp dụng các quy định đối với người dưới 18 tuổi phạm tội quy định tại Điều 91, Điều 101 Bộ luật hình sự để cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo sớm trở về gia đình, xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, các tài liệu trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố B, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến, khiếu nại đối với các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng. Vì vậy, các hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng là hợp pháp.
[2] Về nội dung vụ án: Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với không gian, phù hợp với thời gian, địa điểm, cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ thấy đã có đủ cơ sở để kết luận: Hồi 03 giờ 00 phút ngày 26/12/2023 tại phòng VIP2 nhà nghỉ Phương Linh 1 ở khu Bồ Sơn, phường Võ Cường, thành phố B, Nguyễn Tiến Đ, Nguyễn Tài T, Nguyễn Việt H và Nguyễn Duy Thanh T có hành vi tàng trữ trái phép 1,1208 gam ma tuý loại Ketamine để sử dụng cho bản thân.
Vậy, Cáo trạng truy tố số 75/CT-VKSTPBN ngày 07/3/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố B đã truy tố bị cáo Nguyễn Tiến Đ về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm g khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự là hoàn toàn đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[3] Xét tính chất, mức độ, hành vi: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Bị cáo biết rõ ma túy là chất gây nghiện làm tổn hại sức khỏe con người, là mầm mống của các loại tội phạm khác, nhà nước ta đã nghiêm cấm mọi hành vi mua bán, tàng trữ trái phép chất ma túy, nH bị cáo vẫn cố tình thực hiện tội phạm. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm, coi thường pháp luật. Vì vậy, đối với bị cáo cần áp dụng một hình phạt nghiêm M, tương xứng với tính chất và hành vi phạm tội của bị cáo để giáo dục riêng đối với bị cáo và phòng ngừa chung đối với xã hội.
Nguyễn Văn Bẩy, Nguyễn Việt H, Nguyễn Duy Thanh T, Nguyễn Tài T và bị cáo Đ cùng nhau thực hiện tội phạm nH không có bàn bạc trước, không có sự phân công nhiệm vụ rõ ràng, tiếp nhận ý trí của nhau một cách tức thời nên chỉ là đồng phạm giản đơn. Cả nhóm có sự thống nhất cùng góp tiền ma túy và thuê nhà nghỉ để cùng sử dụng sau khi được bị cáo Đ khởi xướng. H, Tù, T đều không trực tiếp đi mua ma túy nH cùng nhau đi thuê nhà nghỉ để sử dụng. Tù và bị cáo Đ đi mua ma túy về cùng sử dụng nên Bẩy, H, Tù, T và bị cáo Đ có vai trò ngang nhau trong vụ án.
[4] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân bị cáo:
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Bị cáo sau khi bị truy nã đã ra đầu thú và được tặng giấy khen có thành tích suất sắc trong tháng thanh niên nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.
[5] Về áp dụng hình phạt đối với bị cáo: Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đã viện dẫn, Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, có hiểu biết pháp luật nH coi thường pháp luật. Bị cáo biết rõ tác hại của ma túy, biết nhà nước cấm tàng trữ các chất ma túy nH vẫn cố ý thực hiện thể hiện thái độ coi thường pháp luật nên cần phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một gian nhất định mới đủ mới đủ tác dụng răn đe, giáo dục đối với bị cáo trở thành công dân có ích và phòng ngừa, chống tội phạm chung. Tuy nhiên, khi lượng hình hội đồng xét xử xem xét đến các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo để giảm nhẹ một phần hình phạt nhằm thực hiện chính sách khoản hồng của pháp luật. Mức hình phạt như đề nghị của vị đại diện viện kiểm sát là phù hợp nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[6] Về hình phạt bổ sung : Tại thời điểm thực hiện phạm tội bị cáo Đ chưa thành niên nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền.
[7] Về vật chứng, trách nhiệm dân sự và các vấn đề khác: Tại bản án số 197/2024/HSST ngày 31/5/2024 của Tòa án nhân dân thành phố B đã xét xử Nguyễn Việt H, Nguyễn Duy Thanh T và Nguyễn Tài T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm g khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự; Nguyễn Văn Bảy phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự và các đồ vật, tài liệu do cơ quan Công an thu giữ đã được Toà án nhân dân thành phố B xử lý tại bản án trên.
[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo qui định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ điểm g khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 17; Điều 58; Điều 91 Bộ luật hình sự năm 2015. Khoản 2 Điều 136, 329, 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự. Điều 119, 179 Luật tư pháp người chưa thành niên. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
-
T bố bị cáo Nguyễn Tiến Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Tiến Đ 10 (Mười) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 18/02/2025 nH được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 26/12/2023 đến ngày 04/01/2024.
Quyết định tạm giam bị cáo Nguyễn Tiến Đ 45 ngày kể từ ngày T án sơ thẩm để đảm bảo việc thi hành án.
Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền cho bị cáo.
- Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Tiến Đ phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị cáo, người bào chữa cho bị cáo có mặt có quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày T án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Đỗ Thanh Ngọc |
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
|
Hội thẩm nhân dân |
Chủ tọa phiên tòa |
|
|
Hoàng Thảo Yến |
Nguyễn Thị Hường |
Đỗ Thanh Ngọc |
Bản án số 107/2025/HSST ngày 21/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC NINH, TỈNH BẮC NINH về tàng trữ trái phép chất ma tuý
- Số bản án: 107/2025/HSST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma tuý
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC NINH, TỈNH BẮC NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: K1
