Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 107/2025/HS-ST

Ngày: 28 - 02 - 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Chí Quang.

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Ông Cao Quốc Hưng.
  2. Ông Phạm Thế Hùng.

- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Thế Vinh – Thư ký của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Lê Hà - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 60/2025/HSST ngày 22 tháng 01 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 70/2025/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 02 năm 2025, đối với bị cáo:

Họ và tên: Đoàn Thị Phương A, sinh năm: 1984, tại Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: A P, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi cư trú hiện tại: 12/9 T, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; Quốc tịch: Việt Nam; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Kinh Doanh; Con ông Đoàn Văn Đ, sinh năm 1955 và bà Văn Thị X, sinh năm 1956.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh truy tố về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 2 Điều 174 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Bị hại: Bà Nguyễn Ngọc T, sinh năm 1978. Nơi thường trú: 27/6/1 Đường số A, Khu phố E, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh. Nơi cư trú hiện tại: 27/6/1 Đường số A, Khu phố E, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.

Bị cáo và Người bị hại có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Để người khác tin tưởng nhằm mục chiếm đoạt tài sản, trong các mối quan hệ với bạn bè thì Đoàn Thị Phương A (sinh năm 1984) thường giới thiệu mình tên Lê Vũ Hy P làm “sếp tổng” của Phòng PC02 Công an Thành phố H. Cùng lúc này, chị Nguyễn Ngọc T (sinh năm 1978) bị một số người chưa rõ lai lịch xúc phạm trên mạng xã hội, chị T đã nhiều lần nộp đơn tố cáo nhưng không được giải quyết nên thông qua một người bạn tên Mạc Hoàng L (chưa rõ lai lịch), chị T làm quen với Phương A. Ngày 20/6/2024, chị T và L đến nhà Phương A để nhờ Phương A giúp đỡ. Sau khi nghe chị T trình bày thì Phương A giả vờ nói chị T làm đơn tố cáo gửi Công an Thành phố H để Phương A nhờ người hỗ trợ. Phương A nhờ “T1” (chưa rõ lai lịch) viết giùm nội dung tiếp nhận tố cáo và nói với chị T, chị L rằng T1 là lính của Phương A và là Công an hình sự. Sau đó, Phương A nói chị T cần có giấy khám sức khỏe để chứng minh việc bị ảnh hưởng do việc xúc phạm danh dự, nhân phẩm nêu trên, chị T hỏi Phương A có làm được không thì Phương A nói làm được với giá 17.000.000 đồng, chị T đồng ý nhờ Phương A làm.

Chiều cùng ngày chị T ở nhà tại địa chỉ 27/6/1 Đường A, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh chuyển 17.000.000 đồng vào tài khoản số 0071001252343 ngân hàng V của Phương A. Ngày 21/6/2024, Phương A gọi chị T lên nhà Phương A và nói chị T phải hỗ trợ mấy anh Công an 50.000.000 đồng để làm hồ sơ cho nhanh và cần bổ sung Giấy vệ sinh an toàn thực phẩm, Chứng chỉ dạy nghề và Giấy phép kinh doanh nên chị T nhờ Phương A làm luôn, Phương A báo với chị T là nhờ người quen làm được với giá 26.000.000 đồng nên chị T đồng ý nhưng thực tế Phương A không nhờ ai làm cả

Chiều ngày 21/6/2024, chị T ngồi tại nhà chị T chuyển khoản cho Đoàn Thị Phương A 01 lần 50.000.000 đồng và 01 lần 6.000.000 đồng vào tài khoản của Phương A. Trong đó 30.000.000 đồng là tiền hỗ trợ anh em Công an và 26.000.000 đồng là tiền làm 03 giấy tờ nêu trên.

Ngày 22/6/2024, chị T chuyển tiếp 20.000.000 đồng vào tài khoản của Phương A để hỗ trợ các anh Công an làm hồ sơ. Tổng cộng chị T đã 03 lần chuyển cho Phương A 93.000.000 đồng. Sau đó chị T nói cần tiền để tiêu xài nên Phương A đã chuyển trả lại cho chị T 5.000.000 đồng, số tiền còn lại Phương A đã chi tiêu cá nhân hết.

Ngày 01/8/2024, chị T thấy vẫn chưa được giải quyết đơn nên đã đến Công an phường T trình báo sự việc.

Tại Cơ quan CSĐT Công an thành phố T, Đoàn Thị Phương A đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên.

Tiến hành xác minh, đối tượng Đoàn Thị Phương A chưa có tiền án, tiền sự về hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản.

Vật chứng thu giữ gồm: 01 quyển sổ caro và 02 điện thoại di động hiệu Samsung

Tại bản Cáo trạng số 94/CT-VKS-TPTĐ ngày 21/01/2025, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức đã truy tố bị cáo Đoàn Thị Phương A về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” quy định tại Điểm c Khoản 2 Điều 174 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa:

- Bị cáo Đoàn Thị Phương A đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, thực hiện một mình như nội dung cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức đã truy tố. Bị cáo thừa nhận số tiền chuyển trả lại cho chị T là 5.223.326 đồng (việc chuyển trả bằng hình thức thanh toán các Phiếu chi tiền điện của chị T). Bị cáo Đoàn Thị Phương A thành khẩn khai báo, thái độ ăn năn hối cải.

Bị cáo không tự tranh luận, bào chữa.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo đã biết lỗi. Xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để sớm trờ về với gia đình và làm lại từ đầu.

- Bị hại trình bày: Bà Nguyễn Ngọc T xác nhận hành vi phạm tội của bị cáo Đoàn Thị Phương A đúng theo nội dung cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức đã truy tố. Tại phiên tòa, bà Nguyễn Ngọc T xác nhận số tiền mà bị cáo Phương A chuyển trả lại cho chị T là 5.223.327 đồng (bằng hình thức bị cáo thanh toán 02 Phiếu chi tiền điện 3.700.649đ và 1.522.678đ của chị T) là đúng sự thật. Số tiền bị cáo chiếm đoạt của bị hại là 87.776.673 đồng (93.000.000₫ - 5.223.327₫).

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức phát biểu ý kiến giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Đoàn Thị Phương A về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Về số tiền chiếm đoạt cần xác định cụ thể theo xác nhận của bị cáo, của bị hại tại phiên tòa.

Đề nghị áp dụng khoản 2 Điều 174 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 đối với bị cáo Đoàn Thị Phương A, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thành khẩn khai báo, thái độ ăn năn hối cải được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự; để xử phạt bị cáo Đoàn Thị Phương A mức hình phạt từ 03 năm đến 3 năm 06 tháng tù.

Phần trách nhiệm dân sự: Tại phiên Tòa bà Nguyễn Ngọc T yêu cầu bị cáo Đoàn Thị Phương A bồi thường 87.776.673 đồng.

Vật chứng xử lý theo quy định của pháp luật.

- Vật chứng vụ án gồm:

  • - 01 quyển sổ caro.
  • - 02 điện thoại di động hiệu S.

Theo biên bản giao nhận tang tài vật số 175C ngày 23 tháng 01 năm 2025 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi và quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về nội dung: Căn cứ các tài liệu chứng cứ thu thập được, có đủ căn cứ kết luận hành vi phạm tội của bị cáo Đoàn Thị Phương A, cụ thể như sau:

Để người khác tin tưởng nhằm mục chiếm đoạt tài sản, trong các mối quan hệ với bạn bè thì Đoàn Thị Phương A (sinh năm 1984) thường giới thiệu mình tên Lê Vũ Hy P làm “sếp tổng” của Phòng PC02 Công an Thành phố H. Cùng lúc này, bà Nguyễn Ngọc T (sinh năm 1978) bị một số người chưa rõ lai lịch xúc phạm trên mạng xã hội, bà T đã nhiều lần nộp đơn tố cáo nhưng không được giải quyết nên thông qua một người bạn tên Mạc Hoàng L (chưa rõ lai lịch), bà T làm quen với Phương A. Ngày 20/6/2024, chị T và L đến nhà Phương A để nhờ Phương A giúp đỡ. Sau khi nghe bà T trình bày thì Phương A giả vờ nói bà T làm đơn tố cáo gửi Công an Thành phố H để Phương A nhờ người hỗ trợ. Phương A nhờ “T1” (chưa rõ lai lịch) viết giùm nội dung tiếp nhận tố cáo và nói với bà T, chị L rằng T1 là lính của Phương A và là Công an hình sự. Sau đó, Phương A nói chị T cần có giấy khám sức khỏe để chứng minh việc bị ảnh hưởng do việc xúc phạm danh dự, nhân phẩm nêu trên, bà T hỏi Phương A có làm được không thì Phương A nói làm được với giá 17.000.000 đồng, bà T đồng ý nhờ Phương A làm.

Chiều cùng ngày bà T ở nhà tại địa chỉ 27/6/1 Đường A, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh chuyển 17.000.000 đồng vào tài khoản số 0071001252343 ngân hàng V của Phương A. Ngày 21/6/2024, Phương A gọi điện thoại cho bà T lên nhà Phương A và nói bà T phải hỗ trợ mấy anh Công an 50.000.000 đồng để làm hồ sơ cho nhanh và cần bổ sung Giấy vệ sinh an toàn thực phẩm, Chứng chỉ dạy nghề và Giấy phép kinh doanh nên bà T nhờ Phương A làm luôn, Phương A báo với bà T là nhờ người quen làm được với giá 26.000.000 đồng nên bà T đồng ý nhưng thực tế Phương A không nhờ ai làm cả

Chiều ngày 21/6/2024, bà T ngồi tại nhà chị T chuyển khoản cho Đoàn Thị Phương A 01 lần 50.000.000 đồng và 01 lần 6.000.000 đồng vào tài khoản của Phương A. Trong đó 30.000.000 đồng là tiền hỗ trợ anh em Công an và 26.000.000 đồng là tiền làm 03 giấy tờ nêu trên.

Ngày 22/6/2024, bà T chuyển tiếp 20.000.000 đồng vào tài khoản của Phương A để hỗ trợ các anh Công an làm hồ sơ. Tổng cộng bà T đã 04 lần chuyển cho Phương A 93.000.000 đồng. Sau đó bà T nói cần tiền để chi tiêu, thanh toán các hóa đơn tiền điện nên chị T nhờ Phương A chuyển trả lại cho bà T để thanh toán 02 Phiếu chi tiền điện (3.700.649đ và 1.522.678đ) là 5.223.327 đồng, số tiền còn lại là 87.776.673 đồng (93.000.000đ - 5.223.327đ) bị cáo Phương A đã chi tiêu cá nhân hết.

Ngày 01/8/2024, bà T thấy vẫn chưa được giải quyết đơn nên đã đến Công an phường T trình báo sự việc.

Hành vi nêu trên của bị cáo Đoàn Thị Phương A đã phạm vào tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 2 Điều 174 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

[3] Hành vi trên của bị cáo Đoàn Thị Phương A là gây nguy hiểm cho xã hội và làm mất an ninh trật tự tại địa phương. Khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự; phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp nhằm mục đích chiếm đoạt tài sản hợp pháp của công dân được pháp luật bảo vệ. Bị cáo ý thức được hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Xét thấy cần phải xử lý nghiêm khắc trước pháp luật để răn đe, giáo dục riêng bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.

[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo Đoàn Thị Phương A có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội nhiều lần theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Đoàn Thị Phương A thành khẩn khai báo, có thái độ ăn năn hối cải nên Hội đồng xét xử xem xét áp dụng cho bị cáo Đoàn Thị Phương A tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[5] Đối với các đối tượng Mạc Hoàng L (chưa rõ lai lịch), “Tú” (chưa rõ lai lịch) có liên quan chưa được làm rõ, sẽ xử lý khi cơ quan điều tra làm rõ.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Bà Nguyễn Ngọc T yêu cầu Đoàn Thị Phương A bồi thường 87.776.673 đồng. Tại phiên tòa bị cáo Phương A thừa nhận và đồng ý trả cho bị hại số tiền nêu trên. Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Ngọc T.

[7] Về xử lý vật chứng:

- 01 quyển sổ caro. Hội đồng xét xử xét thấy đây là vật chứng có liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo Phương A nên cần tịch thu tiêu hủy.

- 02 điện thoại di động hiệu S: Hội đồng xét xử xét thấy đây là vật chứng có liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo Phương A nên cần tịch thu sung công quỹ.

Theo biên bản giao nhận tang tài vật số 175C ngày 23 tháng 01 năm 2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

[8] Về án phí sơ thẩm:

- Bị cáo Đoàn Thị Phương A phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng.

- Về án phí dân sự sơ thẩm: Bị cáo Đoàn Thị Phương A phải chịu án phí dân sự thẩm đối với số tiền phải trả lại cho người bị hại Nguyễn Ngọc T.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Về tội danh: Áp dụng Điều 174 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Tuyên bố bị cáo Đoàn Thị Phương A phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

  2. Về hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 174; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

    Xử phạt bị cáo Đoàn Thị Phương A: 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 04/8/2024.

  3. Về trách nhiệm dân sự:

    Buộc bị cáo Đoàn Thị Phương A có trách nhiệm trả cho bà Nguyễn Ngọc T số tiền 87.776.673 đồng, trả một lần ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.

    Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

  4. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 và căn cứ vào Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình năm 2015:

    • - Tịch thu tiêu hủy 01 quyển sổ caro.
    • - Tịch thu sung công quỹ 02 điện thoại di động hiệu S.

    Theo biên bản giao nhận tang tài vật số 175C ngày 23 tháng 01 năm 2025 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

  5. Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án:

    Buộc bị cáo Đoàn Thị Phương A phải chịu 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

    Về án phí dân sự sơ thẩm: Bị cáo Đoàn Thị Phương A phải nộp án phí dân sự sơ thẩm là 4.388.834đ (Bốn triệu, ba trăm tám mươi tám nghìn, tám trăm ba mươi bốn đồng) tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

  6. Quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình năm 2015.

    Bị cáo Đoàn Thị Phương A và bị hại Nguyễn Ngọc T có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

  7. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo; Bị hại;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Công an thành phố Thủ Đức;
  • - Tòa án nhân dân Tp. Hồ Chí Minh;
  • - Viện kiểm sát nhân dân Tp. Thủ Đức;
  • - Viện kiểm sát nhân dân TP. Hồ Chí Minh;
  • - Phòng PV06, PC10 - Công an TP Hồ Chí Minh;
  • - Sở Tư pháp Thành phố Hồ Chí Minh;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức;
  • - Thi hành án hình sự;
  • - Lưu hồ sơ và VT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đỗ Chí Quang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 107/2025/HS-ST ngày 28/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về lừa đảo chiếm đoạt tài sản

  • Số bản án: 107/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger