TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 – ĐÀ NẴNG Bản án số: 107/2025/HS-ST Ngày: 24 - 11 - 2025 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 - ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Phúc.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Phi Long.
Bà Nguyễn Thị Thanh Thủy.
- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Như Quỳnh - Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 10 - Đà Nẵng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 10 - Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Ông Trương Vui - Kiểm sát viên.
Ngày 24/11/2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 10 - Đà Nẵng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 87/2025/TLST- HS ngày 09/10/2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 101/2025/QĐXXST- HS ngày 07/11/2025, đối với bị cáo: Nguyễn Văn L, sinh ngày 02 tháng 6 năm 1986 tại xã Đ, thành phố Đà Nẵng; căn cước công dân số: [...]; nơi cư trú: Thôn L, xã Đ, thành phố Đà Nẵng; nghề nghiệp: Lao động phổ thông; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn N và bà Nguyễn Thị L1; vợ: Phạm Thị H và có 01 con sinh năm 2010. Tiền sự: Không; tiền án: Ngày 29/9/2021, bị cáo bị TAND thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam (cũ) xử phạt 03 năm tù về tội trộm cắp tài sản; bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 28/02/2024; nhân thân: Ngày 21/3/2003, bị Chủ tịch Ủy bản nhân dân tỉnh Q (cũ) ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào Trường G về hành vi trộm cắp tài sản; ngày 01/9/2005, bị TAND thành phố Đà Nẵng xử phạt 24 tháng tù về tội trộm cắp tài sản; ngày 10/6/2008, bị TAND huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng (cũ) xử phạt 12 tháng tù về tội trộm cắp tài sản; ngày 02/3/2011, bị TAND thành phố Đà Nẵng xử phạt 06 năm tù về tội cướp giật tài sản; ngày 28/6/2016, bị TAND huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam (cũ) xử phạt 04 năm tù về tội cướp giật tài sản. Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 02/8/2025; hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Phân trại tạm giam Điện Bàn thuộc Trại tạm giam số 02 Công an thành phố Đ. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: Bưu điện Đ - Quảng Nam.
Người đại diện hợp pháp: Bà Tống Thị H1, sinh năm 1977; trú tại: Tổ dân phố H, phường Đ, thành phố Đà Nẵng, là người đại diện theo ủy quyền (văn bản ủy quyền ngày 05/9/2025). Có mặt tại phiên tòa.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Chị Phạm Thị H, sinh năm 1991; bà Phạm Thị X, sinh năm 1957. Cùng trú tại: Khối phố B, phường Đ, thành phố Đà Nẵng; vắng mặt tại phiên tòa.
Ông Phùng Ả, sinh năm 1963; địa chỉ: Số nhà A, T, phường N, thành phố Đà Nẵng; vắng mặt có đơn xin vắng mặt.
Ông Huỳnh N1, sinh năm 1973; địa chỉ: Số G, T, phường N, thành phố Đà Nẵng; vắng mặt có đơn xin vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 18 giờ 00 phút ngày 27/7/2025, Nguyễn Văn L, sau khi đã uống rượu, thì điều khiển xe môtô hiệu Airblade màu đỏ đen, BKS: 43H1 - 020.37 lưu thông theo đường ĐH3 xuống đường ĐH1 (đường C). Khi đi ngang qua Bưu điện Văn hóa xã Đ (nay là xã Đ, thành phố Đà Nẵng), thấy Bưu điện đóng cửa, không có ai trông coi nên L nảy sinh ý định đột nhập vào bên trong để trộm cắp tài sản nhằm bán lấy tiền tiêu xài. L để xe môtô tại cổng, đi bộ vào bên trái Bưu điện theo hướng từ ngoài nhìn vào, lấy 01 cục gạch ở gần đó đập vỡ kính cửa sau của Bưu điện rồi dùng tay mở chốt cửa bên trong. Sau khi vào bên trong, L tìm kiếm và thấy trong ngăn kéo bàn làm việc có một số tờ tiền Việt Nam đồng, mệnh giá 1.000 đồng và 2.000 đồng, L lấy số tiền này bỏ vào túi quần bên phải, tổng cộng được 203.000 đồng. Tiếp tục tìm tài sản thì thấy trên kệ hàng có các sản phẩm hàng tiêu dùng mà Bưu điện Văn hóa xã Đ trưng bày để bán nên L lấy số tài sản gồm: 30 lon sữa hiệu Maika loại 390g; 15 hộp kem đánh răng thảo dược quế hiệu Dạ Lan loại 180g; 04 chai nước rửa tay hiệu Aroma loại 500g; 09 chai dầu gội dược liệu hiệu An Mộc loại 200ml; 04 chai sữa tắm hiệu Deko loại 1200ml; 06 gói bột ngọt hiệu Procook loại 400g; 04 gói mì chính Miwon loại 454g; 28 gói chè Đồng Xuân Tân Cương T loại 100g. L bỏ tất cả số tài sản này vào 01 bao ni lông có sẵn trong Bưu điện rồi lại bỏ vào bao tải màu trắng kích thước 60 x 120cm bên trên có in dòng chữ “BƯU CHÍNH VIỆT NAM”, chở về nhà chị Phạm Thị H (vợ L) tại khối phố B, phường Đ, thành phố Đà Nẵng. Sáng ngày 28/7/2025, L mang các tài sản trộm được cất giấu trong tủ lạnh bị hỏng để ở nhà dưới của chị H. Đến ngày 30/7/2025, Công an phường Đ, thành phố Đà Nẵng mời làm việc thì L thừa nhận về hành vi phạm tội của mình và giao nộp toàn bộ tài sản trộm cắp được.
Tại Kết luận định giá tài sản số 184/KL-HĐĐGTS ngày 19/9/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự thành phố Đà Nẵng kết luận: Tổng giá trị tài sản mà Nguyễn Văn L trộm cắp tại Bưu điện văn hóa xã Đ là 3.686.200 đồng. Gồm: 04 chai sữa tắm hiệu Deko loại 1200ml có giá trị 585.200 đồng; 09 chai dầu gội dược liệu hiệu An Mộc loại 200ml có giá trị 486.000 đồng; 04 chai nước rửa tay hiệu Aroma loại 500g có giá trị 153.000 đồng; 15 hộp kem đánh răng thảo dược quế hiệu Dạ Lan loại 180g có giá trị 516.000 đồng; 28 gói chè Đồng Xuân Tân Cương T loại 100g có giá trị 854.000 đồng; 30 lon sữa hiệu Maika loại 390g có giá trị 750.000 đồng; 04 gói bọt ngọt hiệu Miwon loại 454g có giá trị 140.000 đồng; 06 gói bột ngọt hiệu Procook loại 400g có giá trị 198.000 đồng; 01 cái bao tải màu trắng có ghi dòng chữ màu đen “BƯU CHÍNH VIỆT NAM” có giá trị 4.000 đồng. Đối với 01 tấm kính bị đập vỡ không có thông tin về nguồn gốc xuất xứ, nhãn hiệu kính, thời gian đưa vào sử dụng, không có cơ sở thực hiện định giá. Tại Kết luận giám định số 892/KL-KTHS, ngày 15/9/2025 của Phòng KTHS Công an thành phố Đ xác định: Dấu vết đường vân là vân đầu ngón tay có đường vân màu trắng, rãnh vân màu đen, không rõ dạng vân, mờ nhòe, số lượng đặc điểm riêng ít, không đủ yếu tố giám định.
Về thu giữ và xử lý vật chứng:
- Đối với vật chứng là tiền, tài sản mà bị cáo Nguyễn Văn L đã trộm cắp, sau khi thu giữ và tiến hành định giá, cơ quan cảnh sát điều tra công an thành phố Đ đã trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp là Bưu điện Văn hóa xã Đ, thuộc bưu điện Đ.
- Hiện đang thu giữ và bảo quản các vật chứng: 01 viên gạch kích thước (08 x 10 x 04) cm; 01 cái áo thun màu đen có cổ; 01 cái quần dài Jean màu xanh; 01 cái mũ bảo hiểm màu đen có lưỡi; 01 xe môtô BKS: 43H1 - 020.37, nhãn hiệu Honda, số loại AirBlade màu đỏ - đen, số khung: RLHJF2703BY726735, số máy: JF27E0745099, là phương tiện mà L dùng vào việc trộm cắp tài sản.
Tại Cáo trạng số 78/CT-VKS ngày 30/9/2025, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 10, thành phố Đà Nẵng đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn L về tội “trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm g, khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 và năm 2025.
Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn L khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và thừa nhận các lời khai, lời tường trình của mình trong quá trình điều tra là hoàn toàn tự nguyện, không bị ép buộc, mớm cung, dùng nhục hình hay được hướng dẫn khai báo; bị cáo thống nhất với lời khai của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong quá trình điều tra và tại phiên tòa; thống nhất với Kết luận định giá tài sản số 184/KL-HĐĐGTS ngày 19/9/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự thành phố Đà Nẵng và nội dung các tài liệu chứng cứ khác được công bố, kiểm tra, xem xét, tranh tụng tại phiên tòa.
Ý kiến của người đại diện hợp pháp của bị hại: Bị hại đã được nhận lại tài sản do bị cáo L trộm cắp; xác nhân không có hư hỏng gì. Bị hại không yêu cầu bồi thường thiệt hại gì về dân sự. Đại diện hợp pháp của bị hại đề nghị HĐXX xem xét, giảm một phần mức hình phạt áp dụng đối với bị cáo.
Qua tranh tụng tại phiên tòa, Kiểm sát viên thực hành quyền công tố giữ nguyên quan điểm truy tố như Cáo trạng. Đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm g, khoản 2 Điều 173; điểm h, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn L từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù. Về xử lý vật chứng, đề nghị tuyên tịch thu tiêu hủy: 01 viên gạch kích thước (08 x 10 x 04) cm; 01 cái áo thun màu đen có cổ; 01 cái quần dài Jean màu xanh; 01 cái mũ bảo hiểm màu đen có lưỡi; tuyên trả lại xe môtô BKS: 43H1 - 020.37 cho chị Phạm Thị H. Vật chứng hiện do Phòng thi hành án Khu vực 10 - Đà Nẵng quản lý, bảo quản. Bị cáo thống nhất với nội dung Cáo trạng và quan điểm luận tội của đại diện Viện Kiểm sát về tội danh và hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện; bị cáo không có ý kiến bào chữa, chỉ mong Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ mức hình phạt áp dụng đối với bị cáo.
Những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đều vắng mặt tại phiên tòa nên không có ý kiến gì để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho mình trong vụ án.
Bị cáo, những người tham gia tố tụng khác không có khiếu nại quyết định, hành vi của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố và trong giai đoạn chuẩn bị xét xử vụ án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên toà; trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác, Hội đồng xét xử nhận định:
- Về tố tụng:
- [1.1] Về việc xét xử vắng mặt người tham gia tố tụng: Tại phiên tòa, những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt. Hội đồng xét xử xét thấy việc họ vắng mặt không ảnh hưởng đến việc xác định sự thật khách quan và xét xử vụ án nên căn cứ Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự tiếp tục xét xử vụ án theo thủ tục chung.
- [1.2] Về việc chấp hành pháp luật trong quá trình điều tra, truy tố: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người tham gia tố tụng khác trình bày họ không có khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng. Do đó, các quyết định tố tụng, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố vụ án là đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục.
- Về Nội dung vụ án:
- [2.1] Xét hành vi mà bị cáo Nguyễn Văn L đã thực hiện và Cáo trạng truy tố của Viện Kiểm sát, thì thấy:
- Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn L khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và xác định lời khai, lời tự trình bày của bị cáo trong quá trình điều tra là tự nguyện, đúng sự thật, không bị ép cung hay được hướng dẫn khai báo; bị cáo không phủ nhận nội dung các lời khai đó. Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa thống nhất, không có mâu thuẫn với lời khai của chính bị cáo trong quá trình điều tra; phù hợp với lời khai của đại diện bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong quá trình điều tra và tại phiên tòa; phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập, có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử có cơ sở kết luận: Tối ngày 27/7/2025, lợi dụng sự sơ hở trong việc trông coi tài sản, bị cáo Nguyễn Văn L đã lén lút đột nhập và thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của Bưu điện V xã Đ, thuộc Bưu điện Đ, Quảng Nam (cũ). Tổng giá trị tài sản mà bị cáo L trộm cắp là 3.686.200 đồng và số tiền mặt là 203.000 đồng. Tại bản án hình sự sơ thẩm số 66/2021/HSST ngày 29/9/2021, bị cáo Nguyễn Văn L bị TAND thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam (cũ) xử phạt 03 năm tù về tội trộm cắp tài sản, với tình tiết định khung “tái phạm nguy hiểm”, bị cáo chấp hành xong hình phạt vào ngày 28/02/2024; tính đến ngày 27/7/2025, bị cáo chưa được xóa án tích. Do đó, hành vi phạm tội lần này của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “trộm cắp tài sản” quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, năm 2025. Cáo trạng số 78/CT-VKS ngày 30/9/2025 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 10, thành phố Đà Nẵng truy tố hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Văn L là có căn cứ pháp luật.
- [2.2] Xét mức độ, tính nguy hiểm của hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện thì thấy: Bị cáo Nguyễn Văn L thực hiện hành vi phạm tội khi đã đủ tuổi thành niên; có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Bị cáo có đủ nhận thức để biết rằng tài sản hợp pháp của người khác luôn được pháp luật tôn trọng và bảo vệ nhưng bị cáo vẫn coi thường pháp luật, lén lút thực hiện hành vi chiếm đoạt nhằm có được tài sản để sử dụng cá nhân.
- [2.3] Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thì thấy:
- - Các tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
- - Các tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn L thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; tài sản mà bị cáo trộm cắp có giá trị nhỏ, bị cáo giao nộp ngay sau khi bị phát hiện và hiện tại tài sản đã được trao trả cho chủ sở hữu hợp pháp, đại diện của bị hại xác nhận tài sản không bị hỏng hóc gì lớn; tại phiên tòa, đại diện của bị hại đề nghị giảm mức hình phạt cần áp dụng đối với bị cáo. Từ đó, cần áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt đối với bị cáo.
- [2.4] Xét các đặc điểm về nhân thân, lý lịch của các bị cáo thấy rằng: Bị cáo Nguyễn Văn L có nhân thân xấu. Từ năm 2003 đế nay, bị cáo đã bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào trường G và nhiều lần bị Tòa án có thẩm quyền xét xử, kết án về hành vi chiếm đoạt trái phép tài sản của người khác. Bị cáo không lấy đó làm bài học để tự rèn luyện, tu dưỡng bản thân mà lần này, lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội có tính chất tương tự.
- Xét tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội; các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và các đặc điểm về nhân thân, lý lịch của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo Nguyễn Văn L với mức phù hợp mới đủ răn đe, cảnh tỉnh, ngăn ngừa bị cáo tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội; phòng ngừa các hành vi phạm tội có tính chất tương tự, góp phần đảm bảo an ninh trật tự, an toàn xã hội tại địa phương.
- Bị cáo hiện tại có điều kiện, hoàn cảnh gia đình khó khăn nên không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
- [2.5]. Về xử lý vật chứng:
- - Đối với vật chứng là tiền và tài sản mà bị cáo Nguyễn Văn L đã trộm cắp, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Đ sau khi thu giữ, tiến hành trưng cầu định giá và đã trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp là Bưu điện Văn hóa xã Đ, thuộc bưu điện Đ, là phù hợp pháp luật.
- - Đối với 01 viên gạch kích thước (08 x 10 x 04) cm; 01 áo thun màu đen có cổ; 01 quần dài Jean màu xanh; 01 mũ bảo hiểm màu đen có lưỡi: Đây là công cụ mà bị cáo L dùng vào việc phạm tội, che giấu hành vi phạm tội của mình và không còn giá trị nên cần tịch thu tiêu hủy.
- - Đối với xe môtô hiệu AirBlade có BKS 43H1 - 020.37, quá trình điều tra, tranh tụng thể hiện: Ông Phùng Ả là người đứng tên trên Giấy chứng nhận đăng ký xe; ông Á đã bán lại phương tiện này cho ông Huỳnh N1 và sau đó, ông Huỳnh N1 bán cho Nguyễn Văn L. Khi mua bán xe, các bên không làm thủ tục chuyển quyền sở hữu tài sản theo quy định; bị cáo Nguyễn Văn L khi mua xe của ông Huỳnh N1 chỉ có Giấy mua bán thể hiện L là người mua xe với giá bán là 13.000.000 đồng; không có tài liệu nào thể hiện đây là xe của chị Phạm Thị H. Và, bị cáo L đã sử dụng chiếc xe này làm phương tiện để trộm cắp tài sản nên cần tịch thu, sung quỹ nhà nước. Bà Phạm Thị X và chị Phạm Thị H không biết được bị cáo Nguyễn Văn L đã thực hiện hành vi trộm cắp vào ngày 27/7/2025 nên nên không có căn cứ truy xét.
- [2.6] Các vấn đề khác: Trong vụ án này, để thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, bị cáo Nguyễn Văn L đã dùng một viên gạch nhặt được trong khuôn viên Bưu điện Văn hóa xã Đ để đập vỡ kính cửa phòng phía sau Bưu điện, từ đó, thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. Kết quả điều tra, không đủ cơ sở để định giá thiệt hại đối với tấm kính; đại diện người bị hại không xác định được chủng loại, đặc điểm, thông tin về tấm kính, không yêu cầu xác định giá trị và bồi thường thiệt hại đối với tấm kính này nên Hội đồng xét xử không xem xét. Trường hợp có tranh chấp thì được xem xét, giải quyết bằng vụ án riêng theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự.
- [4]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
- Về trách nhiệm hình sự:
Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 173; điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung vào năm 2017, năm 2025). Áp dụng các Điều 38, 50 của Bộ luật hình sự năm 2015, (được sửa đổi, bổ sung vào năm 2017, năm 2025); các Điều 260, 292, 326, 329 và 333 của Bộ Luật Tố tụng hình sự.
- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn L đã phạm tội “trộm cắp tài sản”.
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn L hình phạt tù, mức hình phạt: 3 (ba) năm 06 (sáu) tháng, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giam (ngày 02/8/2025). T tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo thi hành án.
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy 01 viên gạch có kích thước (08 x 10 x 04) cm; 01 áo thun màu đen có cổ; 01 quần dài Jean màu xanh; 01 mũ bảo hiểm màu đen có lưỡi.
Tịch thu sung quỹ nhà nước 01 xe môtô BKS: 43H1 - 020.37, nhãn hiệu Honda, số loại AirBlade màu đỏ - đen, số khung: RLHJF2703BY726735, số máy: JF27E0745099.
Các vật chứng hiện đang được quản lý tại Phòng thi hành án dân sự khu vực 10, thành phố Đà Nẵng (theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản lập ngày 07 tháng 11 năm 2025).
Trường hợp có tranh chấp về quyền sở hữu tài sản là vật chứng của vụ án thì được xem xét, giải quyết theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự, nếu có yêu cầu.
- Về án phí: Áp dụng các Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Khóa XIV quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Nguyễn Văn L chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Hữu Phúc |
Bản án số 107/2025/HS-ST ngày 24/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 – ĐÀ NẴNG về hình sự sơ thẩm (trộm cắp tài sản)
- Số bản án: 107/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Trộm cắp tài sản)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/11/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 – ĐÀ NẴNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vụ án trộm cắp tài sản
