Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HẠ LONG

TỈNH QUẢNG NINH

Bản án số: 107/2025/HS-ST

Ngày: 10 - 4 - 2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẠ LONG, TỈNH QUẢNG NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Định.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Phạm Thị Hiền và bà Hồ Thị Lan- nguyên là Giáo viên, Giám đốc Cung văn hoá Thanh thiếu nhi Quảng Ninh.

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Hiền - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long tham gia phiên tòa: Bà Phạm Kim Phượng - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 4 năm 2025 tại Phòng xử án Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 79/2025/TLST-HS ngày 12 tháng 3 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 81/2025/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 3 năm 2025 đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Phạm Văn Đ, sinh ngày 08 tháng 3 năm 2007 (đến ngày thực hiện hành vi phạm tội bị cáo 17 tuổi 08 tháng 12 ngày), tại Quảng Ninh; nơi thường trú: thôn D, xã T, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa: lớp 09/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Phạm Văn N; con bà: Vũ Thị T; Vợ con: chưa có; tiền án: không.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú và tạm hoãn xuất cảnh từ ngày 22/01/2025, hiện đang tại ngoại, có mặt.

Người đại diện theo pháp luật của bị cáo Phạm Văn Đ: Ông Phạm Văn N, sinh năm 1976; nơi cư trú: thôn D, xã T, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh, là bố của bị cáo Đ, có mặt.

Người bào chữa cho bị cáo Đ: Bà Khương Thị S - Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Q, có mặt.

2. Họ và tên: Vũ Trọng T1, sinh ngày 09 tháng 7 năm 2005, tại Quảng Ninh; nơi thường trú: tổ C, khu V, phường M, thành phố Đ, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa: Sinh viên trường cao đăng V2; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Vũ Văn V; con bà: Nguyễn Thu H; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: không.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú và tạm hoãn xuất cảnh từ ngày 22/01/2025, hiện đang tại ngoại, có mặt.

- Bị hại:

1. Hộ kinh doanh V3 (nay là Công ty TNHH V4); địa chỉ: nhà O, khu B, Bãi biển S, phường B, TP., tỉnh Quảng Ninh.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Việt A, sinh năm 1990; nơi cư trú: tổ C Long T, phường C, TP., tỉnh Quảng Ninh, văng mặt (có đơn xin xử án vắng mặt).

2. Vũ Trọng T1, sinh năm 2004; nơi cư trú: tổ C, khu V, phường M, thành phố Đ, tỉnh Quảng Ninh, có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ông Vũ Trọng Đ1, sinh năm 2000; thường trú tại: tổ C, khu V, phường M, thành phố Đ, tỉnh Quảng Ninh, vắng mặt (có đơn xin xét xử vắng mặt).

- Người làm chứng:

  1. Ông Trần Minh Đ2, vắng mặt.
  2. Chị Đỗ Thị D, vắng mặt.
  3. Chị Vũ Thu H1, văng mặt.
  4. Chị Tạ Thị Như N1, vắng mặt.
  5. Anh Doãn Đình T2, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Tháng 5/2024, Phạm Văn Đ xin làm nhân viên tại quán bar V5 và thuê phòng 201 nhà nghỉ H3 tại đường H, phường B, thành phố H để ở. Đến khoảng giữa tháng 11/2024, Đ đã tự ý nghỉ việc, do biết trong kho kỹ thuật của quán bar V5 có để nhiều dây điện, nên Đ nhiều lần trộm cắp để bán, cụ thể:

Lần thứ nhất: Khoảng 23 giờ, ngày 19/11/2024, Đ đi bộ đến phòng trọ của Vũ Trọng T1 là nhân viên làm cùng Đ tại quán bar V5 thuộc tổ H, khu A, phường B, thành phố H để hỏi mượn xe mô tô, biển số 14Z1- 447.35 của Trọng T1. Đ nói mượn xe đi chơi, nên T1 đồng ý. Sau đó, Đ đi đến, dựng xe mô tô trên vỉa hè đường bao biển Võ Nguyên G, khuất sau rặng cây dừa và khu vực tắm tráng, cách kho kỹ thuật của bar V1 khoảng 100 mét, rồi đi bộ đến gần kho kỹ thuật quan sát và không thấy có người trông coi. Khoảng 00 giờ 10 phút ngày 20/11/2024, Đ đi đến 01 thùng gỗ màu vàng đặt bên ngoài, cạnh kho kỹ thuật. Đ mở nắp thùng lấy 01 cuộn dây điện màu đen và 02 cuộn màu xám rồi đóng lắp thùng lại. Đ mang 03 cuộn dây điện ra cất giấu trong bụi cây cạnh khu vực tắm tráng cách kho kỹ thuật khoảng 30 mét, rồi điều khiển xe mô tô đi nơi khác. Khoảng 05 giờ, ngày 20/11/2024, biết lúc này quán đã đóng cửa, nên Đ quay lại lấy 03 cuộn dây cho lên yên xe mô tô chở đến cửa hàng thu mua phế liệu của anh Doãn Đình T2 thuộc khu E, phường B, thành phố H để bán. Đ nói đây là dây điện cũ làm ở công trình xây dựng đã hỏng, nên muốn bán. Anh T3 đồng ý mua với giá 125.000 đồng/kg, tổng số 24 kg. Anh Đình T2 đã trả cho Đ số tiền 3.000.000 đồng. Sau đó, Đ điều khiển xe mô tô về phòng trọ của Trọng T1 cất xe rồi ngủ tại đây. Đ xin ở lại phòng trọ vài hôm thì Trọng T1 đồng ý.

Lần thứ hai: Cũng thủ đoạn như trên, khoảng 23 giờ ngày 21/11/2024, Đ mượn xe mô tô biển số 14Z1-447.35 của Trọng T1, sau đó đi đến bar V5 và dựng xe mô tô trên vỉa hè khuất sau rặng cây dừa và nhà tắm tráng. Khoảng 00 giờ 15 phút ngày 22/11/2024, Đ đi đến khu vực kho kỹ thuật, mở thùng gỗ màu vàng (lần trước đã lấy 03 cuộn dây điện) lấy trộm 02 cuộn dây điện màu đen còn lại ở trong thùng gỗ rồi tiếp tục mang ra khu vực tắm tráng để cất giấu. Khoảng 02 giờ 50 phút cùng ngày, Đ quay lại khu tắm tráng lấy 02 cuộn dây điện màu đen cho lên yên xe mô tô chở đến cửa hàng thu mua phế liệu của anh Đình T2, cân 02 cuộn dây điện được tổng số 25kg. Anh Đình T2 mua với giá 140.000 đồng/1kg, trả cho Đ 3.500.000 đồng.

Lần thứ ba: Do trước đó đã lấy trộm hết dây điện ở thùng gỗ, nên Đ này sinh ý định vào trong kho kỹ thuật của bar V1 để lấy trộm dây điện. Khoảng 08 giờ, ngày 22/11/2024, Đ mượn xe mô tô biển số 14Z1- 447.35 của Trọng T1 đến 01 cửa hàng bán đồ gia dụng ở gần đền C mua 01 con dao dọc giấy có cán bằng nhựa màu vàng, 03 lưỡi dao dọc giấy có kích thước (11x02) cm, đựng trong 01 hộp nhựa trong suốt với giá 15.000 đồng, 01 cưa cầm tay cán nhựa màu vàng, dài khoảng 10 cm, lưỡi dao bằng kim loại sáng màu dài khoảng 21cm với giá 25.000 đồng với mục đích dùng để cắt vách kho kỹ thuật (được ghép vằng các tấm nhựa) của quán bar V6 để chui vào trong lấy trộm dây điện. Khoảng 21 giờ ngày 22/11/2024, Đ rủ Trọng T1 đi trộm cắp dây điện thì Trọng T1 đồng ý. Khoảng 00 giờ 10 phút ngày 23/11/2024, Đ cầm theo dao dọc giấy, 01 hộp nhựa đựng 03 lưỡi dao đã mua trước đó rồi điều khiển xe mô tô biển số 14Z1- 447.35 chở Trọng T1 đến cửa hàng mua bán phế liệu của anh Đình T2, nhặt 01 bao tải dứa màu xanh để ngoài vỉa hè trước cửa quán. Sau đó, Đ điều khiển xe chở Trọng T1 đến bar V. Đến dựng xe trên vỉa hè tại vị trí cũ, rồi bảo Trọng T4 đứng ở khu vực giữa khu tắm tráng và kho kỹ thuật để chờ. Đ cầm dao dọc giấy đến gần kho kỹ thuật, thấy không có người trông coi, nên Đ dùng dao cắt 01 miếng vách nhựa ở góc kho kỹ thuật có kích thước (60x40) cm. Nhìn thấy bên trong có rất nhiều các đoạn dây điện khác nhau gần ngay vị trí vừa cắt vách, nên Đ thò tay vào trong kho kéo các cuộn dây điện từ trong kho ra. Mỗi cuộn dây điện lấy được, Đ đều kéo ra đến vị trí Trọng T4 đang đứng, để Trọng T4 kéo ra cất giấu tại khu vực tắm tráng. Tổng cộng, Đ và Trọng T4 đã lấy được 02 cuộn dây điện màu đen, 02 cuộn dây điện màu xám, 01 cuộn dây điện màu đỏ, 01 cuộn dây điện màu vàng. Sau đó, Đ và Trọng T4 cho các đoạn dây điện lấy trộm vào bao tải dứa. Đ quay lại kho kỹ thuật tìm dao và lưỡi dao, nhưng do trời tối, các đồ vật này bị vùi xuống cát nên không tìm thấy. Đ quay lại cùng với Trọng T4 bê bao tải chứa các cuộn dây điện đi ra xe mô tô. Đ chở Trọng T4 ngồi sau ôm bao tải chứa dây điện đến cửa hàng thu mua phế liệu của anh Đình T2 bán. Anh Đình T2 mở bao tải dứa cho từng đoạn dây ra ngoài, chia làm 03 loại: loại 60.000 đồng/kg, khối lượng 06 kg; loại 100.000 đồng/kg, khối lượng 39 kg; loại 125.000 đồng/kg, khối lượng là 16 kg. Anh Đình T2 trả cho Đ và Trọng T4 tổng số tiền là 6.300.000 đồng. Sau khi nhận tiền, Đ điều khiển xe mô tô chở Trọng T4 về phòng trọ và chia cho Trọng T4 số tiền 3.200.000 đồng.

Lần thứ tư: Khoảng 02 giờ 30 phút, ngày 24/11/2024, Đ hỏi mượn xe mô tô của Trọng T4 nói đi có việc, rồi một mình điều khiển xe mô tô đến bar V. Đ kéo rộng phần tấm nhựa đã rạch, chui vào bên trong kho kỹ thuật để trộm cắp dây điện. Đ đang tìm kiếm trong kho thì bị anh Trần Minh Đ2, sinh năm 1971, nơi thường trú tại thôn X, xã Đ, huyện C, tỉnh Hải Dương là bảo vệ của bar V1 đi tuần tra phát hiện. Đ chui ra ngoài và xin bỏ qua. Khi anh Đ2 nói sẽ báo cho quản lý bar V1, thì Đ đã bỏ chạy, lấy xe mô tô đi về phòng trọ của Trọng T4. Khoảng 05 giờ cùng ngày Đ gọi Trọng T4 dậy và nói về việc vừa bị bảo vệ bar V1 phát hiện trộm cắp dây điện, cần mang xe mô tô của Trọng T4 đi đổi xe cho người khác để tránh bị Cơ quan Công an phát hiện, nhưng Trọng T4 không đồng ý. Khi thấy Trọng T4 đi vào trong nhà vệ sinh đóng cửa lại thì Đ này sinh ý định trộm cắp xe của Trọng T4, Đ lấy giấy tờ xe trong ví Trọng Tuấn để trên bàn rồi lấy xe mô tô điều khiển bỏ đi. Đ điều khiển xe mô tô đến 01 quán nước chè ở ngã ba B, thuộc phường G, thành phố H để uống nước. Khoảng 8 giờ 40 phút cùng ngày, Đ gửi lại xe mô tô ở quán nước rồi thuê xe ôm chở đi tìm nơi bán xe. Người xe ôm (chưa rõ nhân thân lai lịch) chở Đ đến cửa hàng dịch vụ cầm đồ, đại lý I và mua bán điện thoại và cầm đồ Thế H2 thuộc tổ F, khu F, phường G, thành phố H do Tạ Thị Như N1 làm chủ để hỏi. Đ nói muốn bán xe, nhưng chị N1 nói chỉ nhận cầm cố. Đ đi xe ôm về quán nước rồi điều khiển xe mô tô biển số 14Z1- 447.35 đến cửa hàng T6 để cầm cố cho chị N1. Đ nói đây là xe của anh trai cho mình, nên chị N1 đồng ý nhận cầm cố với số tiền 7.000.000 đồng. Đ nhận tiền rồi bỏ đi. Số tiền bán dây điện Đ và T4 đã chi tiêu hiết. Đối với số tiền cầm cố chiếc xe của T4, Đ cũng chi tiêu hết. Ngày 30 tháng 11 năm 2024, đại diện bị hại anh Nguyễn Việt A đến cơ quan Công an trình báo sự việc.

Quá trình điều tra, anh Doãn Đình T2 tự nguyện giao nộp 11 loại dây điện, anh T2 khai sau khi mua dây điện của Trọng T4 và Đ, anh T4 đã cắt số cuộn dây điện thành các đoạn dài ngắn có kích thước khác nhau để tiện bán lại cho các đầu mối thu mua khác; anh Bùi Thế H2 (là chồng của chị Tạ Thị Như N1) tự nguyện giao nộp 01 mô tô nhãn hiệu Honda Wave Alpha, màu xanh, biển số 14Z1- 447.35.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 13/KLĐGTS ngày 13/01/2024 của Hội đồng định giá tài sản thành phố H kết luận:

  • + 01 dây điện có vỏ cách điện bên ngoài màu xám đường kính 0,7cm loại 03 lõi bằng kim loại (01 lõi bọc vỏ màu nâu, 01 lõi bọc vỏ màu xanh, 01 lõi bọc vỏ màu vàng) nhãn hiệu Cadi-sun, trên vỏ ngoài cùng ghi dòng chữ Cadi-Sun VCTF 3Cx0,75, chiều dài là 63,1 mét, mua mới vào đầu tháng 10/2024, ngày xâm hại 20/11/2024, tại thời điểm bị xâm hại giá trị là 830.000 đồng.
  • + 01 dây điện có vỏ cách điện bên ngoài màu xám, đường kính 1,1cm loại có 02 lõi bằng kim loại (01 lõi bọc vỏ màu xanh, 01 lõi bọc vỏ màu nâu, mỗi lõi đường kính 40mm) nhãn hiệu Cadi-sun, trên vỏ ngoài cùng ghi dòng chữ Cadi-Sun VCTF-2Cx4, chiều dài là 40,4 mét, mua mới vào tháng 10/2024, ngày xâm hại 20/11/2024, tại thời điểm bị xâm hại giá trị là 1.537.000 đồng.
  • + 01 dây điện có vỏ cách điện bên ngoài màu đen, đường kính 1,1cm, loại có 02 lõi bằng kim loại (01 lõi bọc vỏ màu nâu, 01 lõi bọc vỏ màu xanh, mỗi lõi 40mm) nhãn hiệu Cadi-sun, trên vỏ ngoài cùng ghi dòng chữ Cadi-Sun 2Cx4, chiều dài 57,3 mét, mua mới vào tháng 10/2024, ngày xâm hại 20/11/2024, tại thời điểm bị xâm hại giá trị là 2.179.000 đồng.
  • + 01 dây điện có vỏ cách điện bên ngoài màu đen đường kính 1,1cm, loại 02 lõi bằng kim loại (01 lõi bọc vỏ màu nâu, 01 lõi bọc vỏ màu xanh, mỗi lõi đường kính 40mm), nhãn hiệu Cadi-sun, trên vỏ ngoài cùng ghi dòng chữ Cadi-Sun VCTF 2Cx4.0, chiều dài là 98,6 mét. Trên dây có 01 đoạn được đấu nối với nhau bởi đoạn dây cùng chủng loại và các đầu nối được quấn băng dính, mua mới vào tháng 10/2024, ngày xâm hại 22/11/2024, tại thời điểm bị xâm hại giá trị là 3.750.000 đồng.
  • + 06 đoạn dây điện có vỏ cách điện bên ngoài màu đen, cùng chủng loại, đường kính 0,95cm, loại 03 lõi bằng kim loại (01 lõi bọc vỏ màu hồng, 01 lõi bỏ vỏ màu vàng, 01 lõi bọc vỏ màu xanh, đường kính mỗi lõi 30mm) nhãn hiệu Cadivi, trên vỏ ngoài cùng ghi dòng chữ Cadivi – CVV-3x1,5. Tổng chiều dài các đoạn dây là 44,3 mét, mua mới vào tháng 10/2024, ngày xâm hại 22/11/2024, tại thời điểm bị xâm hại giá trị là 1.261.000 đồng.
  • + 01 dây điện có vỏ cách điện bên ngoài màu vàng loại 02 lõi bằng kim loại (01 lõi bọc vỏ màu đỏ, 01 lõi bọc vỏ màu trắng, mỗi lõi có đường kính 25mm) nhãn hiệu Trần Phú, trên vỏ ngoài ghi Trần P - Trafuco 2Cx1.5, chiều dài là 4,8 mét, mua mới tháng 10/2024, ngày xâm hại 23/11/2024, thời điểm bị xâm hại giá trị 90.000 đồng.
  • + 01 dây điện có vỏ cách điện bên ngoài màu đỏ, loại 2 lõi kim loại (1 lõi bọc vỏ cách điện màu xanh, 1 lõi còn lại bọc vỏ màu nâu, mỗi lõi đường kính 25mm) nhãn hiệu Cadi-sun, trên vỏ ngoài cùng ghi dòng chữ Cadi-Sun VCTFK -2Cx2.5, chiều dài là 27,5 mét, mua mới tháng 10/2024, ngày xâm hại 23/11/2024, tại thời điểm bị xâm hại giá trị là 705.000 đồng.
  • + 01 dây điện có vỏ cách điện bên ngoài màu xám, đường kính 0,7cm, loại 03 lõi bằng kim loại (01 lõi bọc vỏ màu nâu, 01 lõi bọc vỏ màu xanh, 01 lõi bọc vỏ màu vàng) nhãn hiệu Cadi-sun, trên vỏ ngoài cùng ghi dòng chữ Cadi-sun-VCTF- 3Cx0,75, chiều dài là 36 mét, mua mới vào tháng 10/2024, ngày xâm hại 23/11/2024, tại thời điểm bị xâm hại giá trị là 474.000 đồng.
  • + Các đoạn dây điện có vỏ cách điện bên ngoài màu xám, đường kính 1,3cm, các đoạn dây cùng chủng loại, loại có 04 lõi bằng kim loại (01 lõi bọc vỏ màu nâu, 01 lõi bọc vỏ màu vàng; 01 lõi bọc vỏ màu xám; 01 lõi bọc vỏ màu đen), nhãn hiệu Cadi-sun, trên vỏ ngoài cùng ghi chữ Cadi-sun-VCTF 4Cx4. Kích thước các đoạn dây cụ thể: 04 dây mỗi dây dài 0,7 mét; 05 dây mỗi dây 0,88 mét; 09 dây mỗi dây 0,95 mét; 15 dây mỗi dây 1,1 mét; 13 dây mỗi dây 01 mét. Tổng chiều dài các đoạn dây là 45,25 mét, mua mới vào tháng 10/2024, ngày xâm hại 23/11/2024, tại thời điểm bị xâm hại giá trị là 3.418.000 đồng.
  • + 227 đoạn dây điện có vỏ cách điện bên ngoài màu đen đường kính 1,5cm, nhãn hiệu Sang Jin, loại Sang Jin G, có 07 lõi bằng kim loại (có vỏ gồm các màu trắng, xanh lá, đỏ, vàng, xanh dương, màu đen) trong đó đoạn dài nhất 1,4 mét; đoạn ngắn nhất 09cm. Tổng chiều dài các đoạn dây là 125,5 mét, mua mới vào tháng 10/2024, ngày xâm hại 23/11/2024, tại thời điểm bị xâm hại giá trị là 10.828.000 đồng.
  • + 04 đoạn dây điện có vỏ cách điện bên ngoài màu đen, nhãn hiệu Vinakip, loại Vinakip CXV 2x10.0, đường kính 1,5cm, bên trong có lớp nilon cách nhiệt, loại 02 lõi bằng kim loại được bọc vỏ màu trắng trong (trong đó 01 dây dài 4,7 mét; 01 dây dài 5,8 mét; 02 dây mỗi dây dài 4,8 mét. Tổng chiều dài các đoạn dây là 20,1 mét), mua mới vào tháng 10/2024, ngày xâm hại 23/11/2024, tại thời điểm bị xâm hại giá trị là 1.844.000 đồng.

Tổng giá trị các loại dây điện tại thời điểm bị xâm hại có giá trị là 26.916.000 đồng.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 254/KLĐGTS ngày 12/12/2024 của Hội đồng định giá tài sản thành phố H kết luận: mô tô nhãn hiệu Honda Wave Alpha, màu xanh, biển số 14Z1- 447.35, tại thời điểm bị xâm hại có giá trị là 9.218.000 đồng.

Tại bản kết luận giám định số: 83/KL - KTHS ngày 14/01/2025 của Phòng K Công an tỉnh Q đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Alpha, màu xanh-đen-bạc biển số 14Z1.447.35, kết luận: số khung, số máy hiện tại của chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Alpha, màu xanh-đen-bạc biển số 14Z1.447.35 số khung, số máy nguyên thuỷ.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 20/KLĐGTS ngày 09/02/2024 của Hội đồng định giá tài sản thành phố H kết luận: 1,2m² tấm vách ngăn ALU-ALCOREST, loại EV2002 màu trắng sứ, độ dày 4mm, mua mới từ tháng 6/2023, tại thời điểm bị xâm hại vào tháng 11/2024 có giá trị là 389.000 đồng.

Tại Cơ quan điều tra và tại phiên toà các bị cáo Phạm Văn Đ và Vũ Trọng T1 khai báo hành vi phạm tội của mình như nội dung vụ án đã nêu trên. Ngoài ra Vũ Trọng T1, còn khai chiếc xe mô tô biển số 14Z1-447.35 là của anh Vũ Trọng Đ1, sinh năm 2000, trú tại tổ C, khu V, phường M, thành phố Đ, tỉnh Quảng Ninh, là anh trai cho Trọng T1 mượn làm phương tiện đi học tại Trường Cao đẳng V2.

Những người làm chứng ông Trần Minh Đ2, chị Đỗ Thị D, chị Vũ Thu H1, chị Tạ Thị Như N1, anh Doãn Đình T2 vắng mặt tại phiên toà, nhưng có lời khai tại Cơ quan điều tra phù hợp với lời khai của các bị cáo, bị hại về nội dung vụ án.

Đại diện bị hại anh Nguyễn Việt A có lời khai phù hợp với lời khai của các bị cáo về nội dung vụ án, nay anh đã nhận tổng số tiền là 50.000.000 đồng do gia đình các bị cáo bồi thường, nên anh không có yêu cầu, đề nghị gì thêm, anh Việt A có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

Bị hại Vũ Trong T5 (cũng là bị cáo trong vụ án) có lời khai phù hợp với lời khai của bị cáo Đ. Về phần dân sự: xe mô tô đã thu hồi trả lại cho chủ sở hữu nên T5 không yêu cầu bồi thường; về phần hình phạt: T5 đề nghị xử bị cáo Đ theo quy định của pháp luật.

Tại Cáo trạng số 1950/CT-VKSHL ngày 10/3/2025, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long đã truy tố các bị cáo Phạm Văn Đ, Vũ Trọng T1 về tội: “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long giữ nguyên Cáo trạng truy tố đối với các bị cáo về tội: “Trộm cắp tài sản” và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng:

  • - Khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58; khoản 1, 2 và 5 Điều 65; Điều 90; Điều 91 Bộ luật Hình sự. Khoản 1 Điều 119; Điều 124 và khoản 2 Điều 179 Luật Tư pháp người chưa thành niên, xử phạt: bị cáo Phạm Văn Đ từ 12 tháng đến 15 tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 24 tháng đến 30 tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
  • - Khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58: khoản 1, 2 và 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Vũ Trọng T1 từ 09 tháng đến 12 tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 18 đến 24 tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Đ và bị cáo T1 cho chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú theo dõi, giáo dục trong thời gian thử thách.

Gia đình các bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục các bị cáo.

Không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: quá trình điều tra gia đình các bị cáo Phạm Văn Đ và Vũ Trọng T1 đã tự nguyện trả lại số tiền là 12.800.000 đồng cho anh Doãn Đình T2. Gia đình Phạm Văn Đ tự nguyện trả lại số tiền 7.000.000 đồng cho chị Tạ Thị Như N1. Các bị cáo Phạm Văn Đ, Vũ Trọng T1 đã bồi thường số tiền 50.000.000 đồng cho bị hại, nên không đề cập giải quyết.

Về vật chứng của vụ án:

  • - Cơ quan điều tra đã trả lại 11 loại dây điện có chủng loại thông số khác nhau cho anh Nguyễn Việt A; 01 chiếc xe mô tô biển số 14Z1.447.35; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số 050310 cho anh Vũ Trọng Đ1 là chủ sở hữu hợp pháp nên không đề cập lại.
  • - Đối với: 01 chiếc cưa tay có cán bằng nhựa màu vàng, 03 lưỡi dao bằng kim loại; 1,2m² tấm vách ngăn ALU-ALCOREST, loại EV2002 màu trắng sứ, độ dày 4mm, không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu huỷ.

Tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến gì về quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long và bản luận tội của Kiểm sát viên.

Tại phiên toà người bào chữa cho bị cáo Phạm Văn Đ có quan điểm: bị cáo phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, khi phạm tội bị cáo chưa đủ 18 tuổi, nên nhận thức pháp luật còn hạn chế. Quá trình phạm tội đã cùng với gia đình bồi thường thiệt hại khắc phục hậu quả cho bị hại và được bị hại xin cho nên đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng mức án tương ứng đối với người chưa thành viên phạm tội theo Luật Tư pháp người chưa thành niên số 59/2024/QH15 của Quốc hội, đồng thời cho hưởng án treo để bị cáo tiếp tục được học tập, thành người có ích cho xã hội.

Lời nói sau cùng: các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình như đã trình bày và xin Hội đồng xét xử khoan hồng giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố H, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Các bị cáo, bị hại và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, Quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi của các bị cáo thể hiện: tại phiên tòa các bị cáo Phạm Văn Đ và Vũ Trọng T1 khai nhận hành vi phạm tội của mình phù hợp với lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng và phù hợp với các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: trong các ngày 20 và 22/11/2024, Phạm Văn Đ đã lợi dụng sơ hở trộm cắp 05 cuộn dây điện tại quán bar V5 có địa chỉ thuộc khu E, phường B, thành phố H thuộc công ty V7, giá trị tài sản bị trộm cắp 9.557.000 đồng. Ngày 23/11/2024, Phạm Văn Đ cùng Vũ Trọng T1 trộm cắp 06 cuộn dây điện tại quán bar V5, giá trị tài sản bị trộm cắp là 17.359.000 đồng. Ngoài ra, khoảng 05 giờ ngày 24/11/2024, Phạm Văn Đ lợi dụng sơ hở, trộm cắp 01 chiếc xe mô tô Honda Wave Alpha, màu xanh-đen-bạc biển số 14Z1- 447.35 của Vũ Trọng T1 có giá trị 9.218.000 đồng.

Tổng giá trị tài sản: Phạm Văn Đ trộm cắp là 36.134.000đ (ba mươi sáu triệu một trăm ba mươi bốn nghìn đồng); Vũ Trọng T1 trộm cắp là 17.359.000 đồng (mười bầy triệu ba trăm lăm mươi chín nghìn đồng)

Hành vi nêu trên của các bị cáo Phạm Văn Đ và Vũ Trọng T1 đã đủ yếu tố cấu thành tội: “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự, như Cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long đã truy tố các bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an xã hội và gây bất bình trong quần chúng nhân dân. Do đó cần tuyên cho các bị cáo một mức án tương xứng với hành vi phạm tội mới có tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

[3] Về nhân thân: các bị cáo chưa có tiền án, tiền sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đã tự nguyện bồi thường cho người bị hại, được đại diện bị hại (anh Nguyễn Việt A) xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo, nên các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Ngoài ra bị cáo Vũ Trọng T1 phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, nên được áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: bị cáo T1 không có; bị cáo Đ trộm cắp hai lần trở lên, nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

[4] Về vai trò: vụ án mang tính chất đồng phạm giản đơn, bị cáo Đ là người khởi xướng việc trộm cắp và là người rủ rê bị cáo T1 phạm tội nên giữ vai trò cao hơn bị cáo T1.

[5] Về hình phạt: khi lượng hình, căn cứ vào nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ của các bị cáo cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo để thể hiện tính nhân đạo của pháp luật.

Cả hai bị cáo Đ và T1: đều chưa có tiền án, tiền sự, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự; cả hai bị cáo có nơi thường trú rõ ràng, ngoài lần phạm tội này các bị cáo luôn chấp hành đúng chính sách pháp luật và thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của công dân ở nơi cư trú. Ngoài ra bị cáo Đ khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo chưa đủ 18 tuổi nên được áp dụng chính sách hình sự đối với người chưa đủ 18 tuổi phạm tội.

Do đó không cần thiết phải bắt các bị cáo đi chấp hành hình phạt tù mà để các bị cáo được cải tạo, giáo dục tại địa phương dưới sự giám sát của gia đình và xã hội trong một thời gian nhất định cũng đủ răn đe, giáo dục các bị cáo trở thành công dân có ích.

[6] Về hình phạt bổ sung: các bị cáo không có công ăn việc làm ổn định, không có tài sản nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

[7] Về xử lý vật chứng:

  • - Cơ quan điều tra đã trả lại 11 loại dây điện có chủng loại thông số khác nhau cho anh Nguyễn Việt A; trả lại 01 chiếc xe mô tô biển số 14Z1.447.35 và 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số 050310 cho anh Vũ Trọng Đ1 là chủ sở hữu hợp pháp, nên không đề cập lại.
  • - Đối với: 01 chiếc cưa tay có cán bằng nhựa màu vàng; 03 lưỡi dao bằng kim loại và 1,2m² tấm vách ngăn ALU-ALCOREST, loại EV2002 màu trắng sứ, độ dày 4mm, là vật chứng không còn giá trị sử dụng, cần tịch thu tiêu huỷ.

[8] Về dân sự: các bị hại không yêu cầu bồi thường, nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.

[9] Về vấn đề khác:

  • - Đối với việc Phạm Văn Đ sử dụng dao để cắt tấm nhựa Alu kích thước 1,2m² tại kho kỹ thuật của V5 khiến tấm A1 bị hư hỏng, giá trị tài sản là 389.000 đồng. Do Đ chưa bị xử phạt hành chính; chưa bị kết án về tội “hủy hoại tài sản hoặc cố ý làm hư hòng tài sản” nên hành vi của Đ không cấu thành tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 178 Bộ luật Hình sự, Công an thành phố H đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Đ, nên không đề cập giải quyết.
  • - Đối với anh Doãn Đình T2, chị Tạ Thị Như N1 không biết tài sản do Đ, Trọng T1 mang đến bán, cầm cố là tài sản do phạm tội mà có, nên không đề cập xử lý.

[10] Luận tội của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa đối với các bị cáo về tội danh, điều khoản truy tố, nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và mức hình phạt đề nghị áp dụng là có căn cứ, phù hợp với nội dung của vụ án đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[11] Về án phí: các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm.

[12] Về quyền kháng cáo: các bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị cáo Đ, bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ: khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58; khoản 1, 2 và 5 Điều 65; Điều 91 Bộ luật Hình sự. Khoản 1 Điều 119; Điều 124 và khoản 2 Điều 179 Luật Tư pháp người chưa thành niên.

Xử phạt: bị cáo Phạm Văn Đ 12 (mười hai) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 (hai mươi bốn) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 10/4/2025) về tội: “Trộm cắp tài sản”.

- Căn cứ: khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58: khoản 1, 2 và 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Vũ Trọng T1 09 (chín) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 (mười tám) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 10/4/2025) về tội: “Trộm cắp tài sản”.

Giao bị cáo Vũ Trọng T1 cho UBND phường M, thành phố Đ, tỉnh Quảng Ninh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Giao bị cáo Phạm Văn Đ cho UBND xã T, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Gia đình các bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục các bị cáo.

Trong thời gian thử thách, các bị cáo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc các bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án này. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

- Biện pháp ngăn chăn: áp dụng: điểm d khoản 1 Điều 125 Bộ luật Tố tụng hình sự. Hủy bỏ Quyết định tạm hoãn xuất cảnh số 113, số 114/2025/HSST-QĐTHXC ngày 12/3/2025 và Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số 70, số 71/2025/LCĐKNCT-TA ngày 12/3/2025 của Toà án nhân dân thành phố Hạ Long đối bị cáo Phạm Văn Đ và Vũ Trọng T1.

- Về xử lý vật chứng: áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu huỷ: 01 chiếc cưa dài khoảng 35 cm, có lưỡi kim loại sáng màu dài khoảng 22 cm, phần dưới rộng nhất là khoảng 1,4cm, phần cán nhựa màu vàng dài khoảng 13 cm; 02 lưỡi dao bằng kim loại màu đen dài khoảng 11,5cm, rộng khoảng 1,2cm, có một cạnh lưỡi là kim loại sáng màu; 01 lưỡi dao bằng kim loại màu đen dài khoảng 5,3cm, rộng khoảng 1,2cm, có một cạnh lưỡi là kim loại sáng màu; 01 hộp nhựa màu trắng đục có nắp nhựa màu vàng, phần thân hộp có kích thước khoảng (12,5 x 2,5 x 1) cm, thân hộp có 01 mặt dán giấy đề can vàng, xanh, in hình lưỡi dao màu đen, phần nắp hộp có kích thước khoảng (5x1,1x2x3) cm; 01 tấm nhựa ALU màu trắng sứ có độ dày khoảng 4mm, chiều dài nhất là khoảng 33cm, chiều rộng nhất là khoảng 24cm.

(Tình trạng như biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 153/BB-THA ngày 28/02/2025 giữa Công an thành phố H và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Hạ Long).

Về án phí: áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc các bị cáo Phạm Văn Đ, Vũ Trọng T1, mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: căn cứ Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Các bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị cáo Đ và bị hại (T1) có mặt, có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo, ĐD bị cáo, NBC, bị hại, NLQ;
  • - VKSND TP. Hạ Long;
  • - VKSND tỉnh + TAND tỉnh Quảng Ninh;
  • - CQCSĐT+ CQTHAHS Công an tỉnh QN;
  • - Chi cục THADS TP. Hạ Long;
  • - Phòng hồ sơ nghiệp vụ Công an tỉnh Quảng Ninh;
  • - Lưu hồ sơ, Văn phòng, THA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Định

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 107/2025/HS-ST ngày 10/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẠ LONG, TỈNH QUẢNG NINH về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 107/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 10/04/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẠ LONG, TỈNH QUẢNG NINH
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phạm Văn Đức cđp phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger