|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CÀ MAU TỈNH CÀ MAU Bản án số: 107/2025/HS-ST Ngày 18-6-2025 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CÀ MAU, TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Hoàng Tuấn.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Minh Mẫn.
Ông Nguyễn Hoàng Kha.
- Thư ký phiên tòa: Bà Tô Huyền Trang là Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa: Ông Lê Quốc Nin - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 6 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau xét xử vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 96/2025/TLST-HS ngày 14 tháng 5 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 102/2025/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 5 năm 2025, đối với bị cáo:
Họ và tên: Lê Quang C, sinh năm 2002 tại huyện P, tỉnh Cà Mau; Nơi thường trú: ấp P, xã P, huyện P, tỉnh Cà Mau; Nơi tạm trú: ấp H, xã T, huyện Đ, tỉnh Cà Mau; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Minh S và bà Lê Mai T; Vợ: Nguyễn Thị Khánh L (đã ly hôn); con: 01 người sinh năm 2024; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 17/01/2025 cho đến nay.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN :
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 09 giờ 45 phút ngày 17/01/2025, Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về Kinh tế - Ma túy Công an thành phố C kết hợp Công an xã H tuần tra trên tuyến đường thuộc ấp H - xã H phát hiện Lê Quang C đang điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 69K1-303.33 có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành dừng phương tiện kiểm tra, phát hiện bên trong túi áo khoác phía trước bên trái của C đang mặc có 01 bọc nilon, bên trong bọc nilon có chưa tinh thể màu trắng dạng rắn nghi là ma túy. Lực lượng tiến hành thu giữ bọc nilon nói trên, cùng ngày Công an xã H tiến hành thử nước tiểu của C thì kết quả dương tính với chất ma túy.
Quá trình điều tra, Lê Quang C đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình và đã khai nhận số ma túy trên là do chức mua của người phụ nữ khoảng 40 tuổi ở khu vực chùa “Cô Hồn” thuộc khóm G, phường G, thành phố C với giá 200.000 đồng. Việc đi mua ma túy là có người bạn tên Đ (bạn học chung trường phổ thông ở Đ) nhờ C đi đến địa điểm trên để nhận đồ giùm Đảm.
Tại Kết luận giám định số 35/KL-KTHS ngày 20/01/2025 của Phòng K Công an tỉnh C kết luận: Tinh thể màu trắng bên trong bọc nilon màu trắng, được niêm phong trong phong bì thư hình chữ nhật, ký hiệu M.17/2025, có khối lượng 0,1999 gam là ma túy, loại Methamphetamine.
Vật chứng vụ án: 01 phong bì thư hoàn mẫu số 35/KL-KTHS ngày 20/01/2025 của Phòng K Công an tỉnh C; 01 điện thoại di động hiệu Redmi màu đen, bị bể mặt phía sau, gắn sim số 0947 706 884 và 0963 330 706.
Tại Bản Cáo trạng số: 105/CT-VKS ngày 12 tháng 5 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cà Mau truy tố bị cáo Lê Quang C về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
* Tại phiên tòa:
- Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự xử phạt bị cáo Lê Quang C 01 (một) năm đến 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù; Về xử lý vật chứng: Đề nghị tịch thu tiêu hủy 01 phong bì thư hoàn mẫu số 35/KL-KTHS ngày 20/01/2025 của Phòng K Công an tỉnh C và trả cho bị cáo C 01 điện thoại di động hiệu Redmi màu đen, bị bể mặt phía sau, gắn sim số 0947 706 884 và 0963 330 706. Về án phí hình sự sơ thẩm buộc bị cáo C phải chịu theo quy định pháp luật.
- Bị cáo Lê Quang C thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như cáo trạng truy tố, đồng ý với bản luận tội và mức án phạt mà Kiểm sát viên đề nghị, không có ý kiến tranh luận, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cà Mau, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp và đúng theo quy định của pháp luật.
[2] Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các tài liệu, chứng cứ thể hiện trong hồ sơ vụ án, đã được thẩm tra và tranh luận tại phiên tòa, có đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng 09 giờ 45 phút ngày 17/01/2025, trên tuyến đường thuộc ấp H - xã H - thành phố C, Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về Kinh tế - ma túy Công an thành phố C kết hợp với Công an xã H bắt quả tang Lê Quang C có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy với khối lượng đang tàng trữ 0,1999gam tinh thể màu trắng theo kết luận giám định của Phòng K Công an tỉnh C là ma túy (loại Methamphetamine), việc cất giấu để sử dụng. Như vậy, hành vi của bị cáo Lê Quang C đã cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Do đó, Cáo trạng số: 105/CT-VKS ngày 12 tháng 5 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cà Mau truy tố đối với bị cáo Lê Quang C theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội và đúng theo quy định pháp luật.
[3] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, cho chính bản thân của bị cáo, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy. Bị cáo biết rõ ma túy là chất độc, chất gây nghiện, bị Nhà nước cấm sử dụng bởi tác hại của ma túy đối với người sử dụng, gây hệ lụy cho gia đình và xã hội, nhưng bị cáo bất chấp pháp luật, cố ý thực hiện hành vi phạm tội, đồng thời bị cáo cũng sử dụng và nghiện ma túy. Do đó, cần phải có hình phạt nghiêm, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian, để giúp bị cáo có thời gian chữa bệnh, cai nghiện; đồng thời cải tạo, giáo dục bị cáo thành người công dân có ích cho xã hội và mang tính phòng ngừa chung cho xã hội.
[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- Bị cáo Lê Quang C không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
- Trong quá trình điều tra, cũng như tại phiên tòa: bị cáo C đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó, bị cáo C được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
[5] Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự tịch thu tiêu hủy 01 phong bì thư hoàn mẫu số 35/KL-KTHS ngày 20/01/2025 của Phòng K Công an tỉnh C; trả cho bị cáo C 01 điện thoại di động hiệu Redmi màu đen, bị bể mặt sau, gắn sim số 0947 706 884 và 0963 330 706.
(Tất cả vật chứng hiện nay do Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cà Mau đang quản lý)
[6] Đối với việc bị cáo khai người tên Đ đưa tiền cho C nhờ mua ma túy, hiện nay không biết rõ họ tên và địa chỉ cụ thể của Đ, nên không làm việc được. Vì vậy, giao Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an tỉnh C tiếp tục điều tra, xác minh làm rõ, có căn cứ sẽ xử lý sau.
Đối với người phụ nữ bán ma túy theo lời khai của C, hiện không xác định được nhân thân nên giao cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh C tiếp tục điều tra làm rõ, nếu có căn cứ sẽ xử lý sau là phù hợp.
[7] Ý kiến của Kiểm sát viên là có cơ sở nên được chấp nhận.
[8] Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, buộc bị cáo Lê Quang C phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng.
[9] Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: Điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 và Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy Ban Thường vụ Quốc Hội.
-
Tuyên bố: bị cáo Lê Quang C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”,
Xử phạt bị cáo Lê Quang C 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 17/01/2025.
-
Về xử lý vật chứng:
- - Tịch thu tiêu hủy 01 (một) phong bì thư hoàn mẫu số 35/KL-KTHS ngày 20/01/2025 của Phòng K Công an tỉnh C;
- - Trả lại cho bị cáo C 01 (một) điện thoại di động hiệu Redmi màu đen, bị bể mặt sau, gắn sim số 0947 706 884 và 0963 330 706.
(Tất cả vật chứng hiện nay do Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cà Mau đang quản lý)
-
Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Lê Quang C phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng.
-
Án xử sơ thẩm, bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Hoàng Tuấn |
Bản án số 107/2025/HS-ST ngày 18/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CÀ MAU, TỈNH CÀ MAU về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 107/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/06/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CÀ MAU, TỈNH CÀ MAU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tàng trữ trái phép chất ma túy
