Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ TỪ SƠN
TỈNH BẮC NINH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 107/2025/HS- ST

Ngày 16 tháng 4 năm 2025

NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TỪ SƠN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Minh Huệ

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Ngô Xuân Hải;

Ông Nguyễn Như Điệu;

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Hoàng Anh – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hòa - Kiểm sát viên.

Ngày 16/4/2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh xét xử sơ thẩm công khai theo hình thức trực tuyến vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 114/2025/TLST-HS ngày 21/3/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 102/2025/QĐXXST-HS ngày 02/4/2025 đối với bị cáo:

Âu Trí D, sinh năm 1996;

HKTT: Thôn Đ, xã N, huyện Y, tỉnh Tuyên Quang; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 11/12; Dân tộc: Cao Lan; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Âu Văn V, sinh năm 1958 và con bà La Thị Q, sinh năm 1964; Có vợ là Đào Thị T, sinh năm 1998 và có 02 con (lớn sinh năm 2020, nhỏ sinh năm 2024);

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 05/01/2025 đến nay. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại phân trại tạm giam khu vực thành phố T– Trại tạm giam công an tỉnh B (có mặt ở điểm cầu trực tuyến tại Trại tạm giam Công an tỉnh B).

Người tham gia tố tụng khác: Ông Đinh Văn K – Thẩm tra viên, cán bộ phụ trách tin học thuộc Tòa án nhân dân thành phố Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh (có mặt tại điểm cầu trực tuyến Tòa án nhân dân thành phố Từ Sơn).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bản thân D sử dụng ma túy heroine từ tháng 10/2024 đến nay. Khoảng 19 giờ 15 phút ngày 05/01/2025, D một mình đi bộ lang thang ở đường N thuộc khu phố T, phường Đ, T, Bắc Ninh để tìm mua ma túy về sử dụng. Tại đây, D gặp một nam thanh niên không quen biết có biểu hiện nghiện ma túy. D hỏi mua ma túy heroine thì người này nói có bán ma túy nên D bảo người này bán cho D 200.000 đồng. Nam thanh niên này cầm tiền và đưa lại cho D một gói nhỏ được bọc ngoài bằng lớp giấy màu trắng. D biết đây là gói ma túy heroine nên D cầm ở trong lòng bàn tay phải và đi tìm nơi sử dụng thì bị lực lượng Công an kiểm tra, bắt giữ và thu giữ vật chứng.

Vật chứng thu giữ: Thu giữ tại lòng bàn tay phải của D 01 (một) gói nhỏ được bọc ngoài bằng giấy màu trắng, bên trong chứa chất bột màu trắng, được niêm phong theo quy định.

Tại Kết luận giám định số 272/KL- KTHS ngày 07/01/2025 của Phòng K1 Công an tỉnh B kết luận: “Chất bột màu trắng bên trong 01 gói nhỏ bọc ngoài bằng lớp giấy màu trắng gửi giám định có khối lượng là 0,1523 gam là ma túy Heroine”.

Với nội dung trên, tại bản Cáo trạng số 40/CT-VKSTS ngày 11/3/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh đã quyết định truy tố Âu Trí D về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như bản Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố. Bị cáo thừa nhận trong quá trình điều tra, truy tố vụ án, bị cáo tự nguyện khai nhận hành vi phạm tội, không bị bức cung, nhục hình buộc để khai nhận hành vi phạm tội và cũng không khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng trong giai đoạn điều tra, truy tố vụ án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh phát biểu luận tội về hành vi phạm tội của bị cáo và giữ nguyên quan điểm của Cáo trạng đã truy tố bị cáo Âu Trí D. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Âu Trí D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự: xử phạt Âu Trí D từ 14 tháng tù đến 17 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 05/01/2025. Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy mẫu vật ma túy còn lại sau giám định trong phong bì thư được niêm phong.

Tại phiên toà, bị cáo không tranh luận với đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh về tội danh, điều luật áp dụng, mức hình phạt và các nội dung khác mà chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để sớm được trở về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố T, tỉnh Bắc Ninh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự 2015. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều là hợp pháp.

[2] Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, thời gian, địa điểm, tang vật thu được, phù hợp với kết luận giám định, lời khai của người làm chứng và các chứng khác có trong hồ sơ vụ án thể hiện: Hồi 19 giờ 15 phút ngày 05/01/2025, tại khu phố K, phường Đ, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh, tổ tuần tra Công an phường Đ bắt quả tang Âu Trí D có hành vi tàng trữ trái phép 0,1523 gam ma túy Heroine nhằm mục đích sử dụng cho bản thân. Vì vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Âu Trí D đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Từ Sơn truy tố bị cáo với tội danh và điều luật đã viện dẫn ở trên là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Hành vi phạm tội của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, không những trực tiếp xâm hại tới chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy mà còn làm gia tăng tệ nạn nghiện hút trong xã hội, gây tác hại cho sức khoẻ người sử dụng, nhân cách con người, phá hoại hạnh phúc gia đình và gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến trật tự, an toàn xã hội, là nguyên nhân làm phát sinh các loại tội phạm và hành vi vi phạm pháp luật khác. Do vậy, cần phải xử phạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm giáo dục riêng đối với bị cáo và phòng ngừa chung trong nhân dân.

[4] Xét về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo thì thấy: Bị cáo không có tiền án, tiền sự, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã thành khẩn khai báo và tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; gia đình bị cáo có thờ cúng bác ruột của bị cáo là liệt sĩ Âu Văn T1 nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Đây là những tình tiết mà Hội đồng xét xử cần xem xét để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo khi quyết định hình phạt.

[5] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo tàng trữ ma túy nhằm mục đích sử dụng cho bản thân, không nhằm mục đích kiếm lời bất chính, bị cáo là lao động tự do, nghề nghiệp không ổn định và không có tài sản riêng nên miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo là phù hợp.

[6] Về xử lý vật chứng: Mẫu vật ma tuý còn lại sau giám định là vật Nhà nước cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy.

[7] Liên quan trong vụ án có nam thanh niên đã bán ma túy cho bị cáo nhưng bị cáo không biết tên, tuổi, địa chỉ của người này nên Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau là phù hợp.

[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Âu Trí D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

2. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 47 Bộ luật hình sự. Các Điều 106; Điều 136; Điều 329; Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự. Nghị quyết 326/2016/ UBTVQH ngày 30/12/2016 quy định về án phí và lệ phí Tòa án:

3. Xử phạt bị cáo Âu Trí D 14 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 05/01/2025. Tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án. Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

4. Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy mẫu vật ma túy còn lại sau giám định trong phong bì thư niêm phong theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 21/02/2025.

5. Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

6. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bắc Ninh;
  • - VKSND tỉnh Bắc Ninh
  • - VKSND thành phố Từ Sơn;
  • - Chi cục THADS thành phố Từ Sơn;
  • - Cơ quan CSĐT- Công an tỉnh Bắc Ninh;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu HS, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TÒA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Minh Huệ

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 107/2025/HS- ST ngày 16/04/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TỪ SƠN, TỈNH BẮC NINH về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 107/2025/HS- ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/04/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TỪ SƠN, TỈNH BẮC NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tàng trữ trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger