TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN TỈNH CÀ MAU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ———————————— |
Bản án số: 107/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 29 - 5 - 2025
V/v Ly hôn
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Sơn Ngọc Trọng.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Vũ Minh Hoàng.
Ông Trần Văn Giang.
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Quang Nhật là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân tham gia phiên tòa: Ông Huỳnh Huỳnh Văn Kil - Kiểm sát viên
Ngày 29 tháng 5 năm 2025, tại Tòa án nhân dân huyện Phú Tân xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 108/2025/TLST-HNGĐ ngày 01 tháng 4 năm 2025 về “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 93/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 28 tháng 4 năm 2025, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ông Huỳnh Văn K, sinh năm 1988 (xin vắng mặt).
Địa chỉ cư trú: Ấp R, xã R, huyện P, tỉnh Cà Mau.
Bị đơn: Bà Thái Ngọc G, sinh năm 1992 (vắng mặt).
Địa chỉ cư trú: Ấp R, xã R, huyện P, tỉnh Cà Mau.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 21/3/2025 cùng các văn bản kèm theo ông Huỳnh Văn K trình bày:
Về hôn nhân: Năm 2010, ông và bà Thái Ngọc G thành hôn và chung sống với nhau như vợ chồng có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã R, huyện P, tỉnh Cà Mau ngày 05/7/2016. Trong thời gian chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, không hòa hợp nhau, thường xuyên cự cãi. Sự việc mâu thuẫn được gia đình hai bên hòa giải hàn gắn nhưng vẫn không thành. Vợ chồng đã ly thân từ năm 2022 cho đến nay. Hiện nay ông không còn tình cảm dành cho bà Thái Ngọc G và không thể tiếp tục sống cùng bà Thái Ngọc G. Xét thấy cuộc sống hôn nhân không mang lại hạnh phúc, tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn nên ông cương quyết yêu cầu ly hôn bà Thái Ngọc G.
Về con chung có 01 người tên là Thái Huỳnh Khánh B, (giới tính nữ), sinh ngày 24/12/2010. Hiện con chung đang chung sống với bà G, ông yêu cầu giao Thái Huỳnh Khánh B cho bà Thái Ngọc G tiếp tục nuôi dưỡng, ông không cấp dưỡng nuôi con.
Tài sản chung và nợ chung không có, không yêu cầu giải quyết.
Do công việc làm ăn xa nên việc đi lại khó khăn, ông Huỳnh Văn K xin vắng mặt tham gia tố tụng và không có ý kiến gì khác.
Bà Thái Ngọc G đã được Tòa án tống đạt Thông báo thụ lý vụ án và Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, đồng thời triệu tập xét xử nhiều lần nhưng bà Thái Ngọc G vẫn không tham gia tố tụng.
Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát:
Thẩm phán xác định đúng quan hệ pháp luật, thẩm quyền giải quyết, tư cách tham gia tố tụng của các đương sự trong vụ án. Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án và chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự được thực hiện đúng quy định của pháp luật. Về nội dung, cụ thể về hôn nhân đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các điều 56, 81, 82 và 83 của Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận cho ông Huỳnh Ngọc K ly hôn với bà Thái Ngọc G; Về con chung: Có một người tên là Thái Huỳnh Khánh B, (giới tính nữ), sinh ngày 24/12/2010. Hiện tại đang do bà Thái Ngọc G nuôi dưỡng. Ông Huỳnh Văn K yêu cầu giao con chung cho bà G nuôi dưỡng. Mặt khác, cháu B có nguyện vọng sống cùng với bà G nên chấp nhận yêu cầu của ông K là phù hợp, bà G không yêu cầu ông K cấp dưỡng nuôi con nên không đặt ra xem xét.
Về tài sản chung và nợ chung không có, không có yêu cầu nên không đặt ra xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng: Vụ án tranh chấp ly hôn là thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án, thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân cấp huyện, thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo lãnh thổ, được quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Ông Huỳnh Văn K xin vắng mặt tham gia phiên tòa. Nay căn cứ vào khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt là có căn cứ.
Bà Thái Ngọc G đã được Tòa án triệu tập tham gia phiên tòa xét xử đến lần thứ hai, nhưng bà Thái Ngọc G vắng mặt không có lý do. Nay căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt là có căn cứ.
[2] Về hôn nhân: Năm 2010, ông Huỳnh Văn K và bà Thái Ngọc G chung sống với nhau như vợ chồng và có đăng ký kết hôn tại Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền. Cuộc sống chung phát sinh nhiều mâu thuẫn, bất đồng quan điểm thường xuyên tranh cãi, cả hai không còn chung sống với nhau từ năm 2022 cho đến nay mà không hàn gắn được. Ông Huỳnh Văn K xác định không còn tình cảm dành cho bà Thái Ngọc G và ông Huỳnh Văn K cương quyết ly hôn. Xét thấy, quan hệ hôn nhân của ông Huỳnh Văn K và bà Thái Ngọc G không thể tiếp tục duy trì, mục đích hôn nhân không đạt được. Hôn nhân giữa ông Huỳnh Văn K và bà Thái Ngọc G đã và đang trong tình trạng trầm trọng. Đối với yêu cầu của ông Huỳnh Văn K, bà Thái Ngọc G không có ý kiến gì. Tuy nhiên, cả hai đã không còn chung sống với nhau như vợ chồng thời gian dài nhưng không thể hàn gắn đoàn tụ gia đình. Xét cho ông Huỳnh Văn K ly hôn với bà Thái Ngọc G là có cơ sở.
[3] Về con chung: Có một người tên là Thái Huỳnh Khánh B, (giới tính nữ), sinh ngày 24/12/2010. Hiện tại đang do bà Thái Ngọc G nuôi dưỡng. Ông Huỳnh Văn K yêu cầu giao con chung cho bà G nuôi dưỡng. Mặt khác, cháu B có nguyện vọng sống cùng với bà G nên chấp nhận yêu cầu của ông K là phù hợp, bà G không yêu cầu ông K cấp dưỡng nuôi con nên không đặt ra xem xét.
[4] Về tài sản chung: Không có nên không đặt ra xem xét.
[5] Về nợ chung: Không có nên không đặt ra xem xét.
[6] Từ những phân tích và nhận định nêu trên xét thấy quan điểm đề nghị của Viện kiểm sát về hôn nhân, con chung, tài sản chung và nợ chung là có căn cứ nên được chấp nhận.
[7] Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Ông Huỳnh Văn K phải chịu theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng vào các điều 56, 81, 82 và 83 của Luật hôn nhân và gia đình;
Căn cứ các điều 28, 35, 39, 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
- Về hôn nhân: Chấp nhận cho ông Huỳnh Văn K ly hôn với bà Thái Ngọc G.
- Về con chung: Giao Thái Huỳnh Khánh B, (giới tính nữ), sinh ngày 24/12/2010 cho bà Thái Ngọc G tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng.
Ông Huỳnh Văn K có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung, không ai được cản trở.
- Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Ông Huỳnh Văn K phải chịu 300.000 đồng. Ông Huỳnh Văn K đã nộp tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng, theo biên lai thu tiền số 0003963 ngày 24/3/2025, của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau, nay chuyển thu.
“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.
Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Sơn Ngọc Trọng |
Bản án số 107/2025/HNGĐ-ST ngày 29/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH CÀ MAU về ly hôn
- Số bản án: 107/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/05/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH CÀ MAU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ông Huỳnh Văn K yêu cầu ly hôn với bà Thái Ngọc G
