TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRỰC NINH TỈNH NAM ĐỊNH | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 107/2025/HNGĐ-ST Ngày 26-6-2025 V/v: “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRỰC NINH, TỈNH NAM ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Vũ Hoàng Giang
Các Hội thẩm nhân dân.
- Ông Nguyễn Văn Chuyết
- Ông Phạm Hồng Thái
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Bích Thủy - Thư ký viên TAND huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trực Ninh tham gia phiên tòa:
Bà Đặng Thị Thu Bích - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở, Toà án nhân dân huyện Trực Ninh mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 65/2025/TLST-HNGĐ ngày 22 tháng 4 năm 2025 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 65/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 1 tháng 6 năm 2025, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Anh Phạm Xuân P, sinh năm 1980
CCCD số: [...], cấp ngày 11/4/2021
Nơi thường trú: Thôn H, xã P, huyện T, tỉnh Nam Định
Bị đơn: Chị Phạm Minh T, sinh năm 1983
CMND số: [...]
Nơi thường trú: Thôn D, xã T, huyện T, tỉnh Nam Định
Tại phiên tòa: Anh P có đơn xin xét xử vắng mặt, chị T vắng mặt lần 2 không có lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện xin ly hôn, bản tự khai, nguyên đơn anh Phạm Xuân P trình bày:
Anh và chị Phạm Minh T có đăng ký kết hôn vào ngày 16 tháng 10 năm 2014 tại UBND xã P, huyện T, tỉnh Nam Định. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống bình thường đến tháng 12 năm 2014 phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do vợ chồng không hợp nhau, chị T đã bỏ về nhà bố mẹ đẻ ở từ ngày 12 tháng 12 năm 2014, vợ chồng sống ly thân từ đó đến nay. Xét thấy tình cảm giữa anh và chị T không còn, vợ chồng không thể chung sống cùng nhau được nữa, anh xin ly hôn chị T để yên tâm làm ăn, ổn định cuộc sống.
Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là Phạm Thu T1, sinh ngày 30 tháng 10 năm 2015. Hiện cháu T1 đang ở với chị T. Sau khi ly hôn anh đồng ý để chị T tiếp tục nuôi dưỡng cháu T1 và đồng ý cấp dưỡng tiền nuôi con theo quy định pháp luật.
Về tài sản chung, công nợ chung: Anh không đề nghị Tòa án giải quyết.
Tại biên bản lấy lời khai ngày 29 tháng 5 năm 2025, bà Lê Thị T2 (mẹ đẻ chị T) trình bày:
Anh Phạm Xuân P và chị Phạm Minh T kết hôn năm 2014 có đăng ký kết hôn tại UBND xã P, huyện T, tỉnh Nam Định. Sau khi kết hôn, chị T chung sống cùng gia đình anh P đến tháng 01 năm 2015 chị bỏ về nhà bà, từ đó chị không về nhà anh P, vợ chồng sống ly thân từ đó đến nay. Nguyên nhân mâu thuẫn bà T2 không nắm rõ. Chị T hiện nay đang làm công nhân tại Công ty G (Địa chỉ: Thị trấn C, huyện T). Chị T đã nhận được các văn bản tố tụng của Tòa án như: Thông báo thụ lý vụ án, giấy triệu tập, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải nhưng chị không đến Tòa án giải quyết việc ly hôn với anh P được vì chị không xin nghỉ được. Chị có trao đổi với gia đình quan điểm: Chị đồng ý ly hôn.
Về con chung: Vợ chồng có một con chung là Phạm Thu T1, sinh ngày 30 tháng 10 năm 2015, hiện cháu T1 đang ở với chị T. Khi ly hôn chị đề nghị được nuôi dưỡng cháu T1. Về cấp dưỡng nuôi con chị đề nghị giải quyết theo pháp luật.
Về tài sản chung, công nợ chung, bà T2 trình bày: Ngày chị T kết hôn với anh P, ông bà tặng cho chị 01 dây chuyền trị giá 05 chỉ vàng 9999, 01 chỉ vàng 9999 và 01 xe máy; anh P vay của ông bà 03 chỉ vàng 9999 khi làm nhà, vay 1 dây chuyền trị giá 5 chỉ vàng 9999, 1 nhẫn vàng 9999 khi làm ăn kinh doanh. Ngoài ra ông bà còn nhiều lần cho anh P vay tiền, đến nay anh chưa trả. Số tiền, vàng cho anh P vay đều không có giấy tờ vay nợ gì để đề nghị Tòa án giải quyết. Nay bà T2 đề nghị anh P xem xét, suy nghĩ để trả ông bà để bà hỗ trợ chị T nuôi dạy cháu T1.
2
Tại biên bản thu thập chứng cứ ngày 28 tháng 5 năm 2025, chính quyền xã P cung cấp:
Ngày 16 tháng 10 năm 2014, anh Phạm Xuân P và chị Phạm Minh T có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện T, tỉnh Nam Định. Về con chung anh chị không đăng ký khai sinh tại địa phương.
Tại biên bản thu thập chứng cứ ngày 29 tháng 5 năm 2025, chính quyền xã T cung cấp:
Năm 2015 Ủy ban nhân dân xã T có đăng ký khai sinh cho cháu Phạm Thu T1, sinh ngày 30 tháng 10 năm 2015 là con anh Phạm Xuân P, sinh năm 1980, nơi thường trú: H, xã P, huyện T, tỉnh Nam Định, con chị Phạm Minh T, sinh năm 1983, nơi thường trú: Thôn D, xã T, huyện T, tỉnh Nam Định. Nay anh P xin ly hôn chị T, chính quyền địa phương đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến:
Về thủ tục tố tụng: Việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa của Thẩm phán, HĐXX đúng quy định của BLTTDS. Nguyên đơn đã chấp hành đúng các quy định về quyền, nghĩa vụ của mình theo quy định tại các Điều 70; 71 BLTTDS.
Bị đơn đã được tống đạt các văn bản tố tụng của Tòa án nhưng không có mặt để giải quyết, không xuất trình chứng cứ chứng minh cho yêu cầu của mình; vắng mặt tại phiên tòa, vi phạm quy định về quyền và nghĩa vụ của bị đơn theo quy định tại các Điều 70; 72 BLTTDS.
Tòa án hoãn phiên tòa do bị đơn vắng mặt lần thứ nhất, mở lại phiên tòa lần thứ hai xét xử vụ án khi nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt là đúng quy định tại Điều 227; 233; 238 BLTTDS.
Về nội dung: Xét thấy vợ chồng anh P, chị T mâu thuẫn trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, nên đề nghị HĐXX áp dụng các Điều 51; 56; Điều 81; 82; 83 Luật Hôn nhân và Gia đình, chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của anh Phạm Xuân P: Xử ly hôn giữa anh Phạm Xuân P và chị Phạm Minh T.
Về con chung: Giao chị Phạm Minh T tiếp tục nuôi dưỡng con chung Phạm Thu T1, sinh ngày 30 tháng 10 năm 2015.
Về cấp dưỡng nuôi con: Áp dụng Điều 116 Luật HNGĐ, khoản 2 Điều 7 Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTPĐiều 3 Nghị định 74/2024/NĐ-CP30/6/2024, buộc anh P cấp dưỡng tiền nuôi con chung cho chị T theo quy định của pháp luật đến khi con chung trưởng thành, tự lập.
Về tài sản chung, công nợ chung: Anh Phòng không đề nghị Tòa án giải quyết. Gia đình chị T có yêu cầu giải quyết về tài sản nhưng không có tài liệu
3
chứng cứ chứng minh nên đề nghị Tòa án không xem xét giải quyết. Bà Lê Thị T2, chị Phạm Minh T có thể khởi kiện bằng một vụ án khác.
Về án phí: Án phí ly hôn và án phí cấp dưỡng nuôi con chung: Anh P phải nộp theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Tòa án đã tiến hành các thủ tục tống đạt văn bản tố tụng cho nguyên đơn, bị đơn được biết. Nguyên đơn đã chấp hành nghiêm chỉnh quy định về quyền và nghĩa vụ theo quy định tại các Điều 70; 71 BLTTDS. Bị đơn mặc dù đã được tống đạt các văn bản tố tụng của Tòa án nhưng không có mặt tại các buổi làm việc để xuất trình chứng cứ chứng minh cho yêu cầu của mình là vi phạm quy định về quyền và nghĩa vụ của bị đơn theo quy định tại các Điều 70; 72 BLTTDS.
Anh P có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa, chị T vắng mặt lần thứ hai không có lý do. Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh P, chị T là đúng theo quy định tại Điều 238 BLTTDS.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Anh Phạm Xuân P và chị Phạm Minh T tự do tìm hiểu, tự nguyện đăng ký kết hôn vào ngày 16 tháng 10 năm 2014 tại UBND xã P, huyện T, tỉnh Nam Định. Như vậy cuộc hôn nhân này là hợp pháp theo quy định tại Điều 8 Luật Hôn nhân và Gia đình.
Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hòa thuận được thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng về quan điểm. Vợ chồng sống ly thân từ tháng 12 năm 2014 đến nay, không ai còn quan tâm đến nhau. Xét thấy quan hệ hôn nhân giữa anh P và chị T đã phát sinh mâu thuẫn trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Xét yêu cầu xin ly hôn của anh P là phù hợp với quy định của pháp luật được HĐXX chấp nhận.
[3] Về con chung, cấp dưỡng nuôi con chung: Vợ chồng có 01 con chung là Phạm Thu T1, sinh ngày 30 tháng 10 năm 2015.
Xét yêu cầu của các đương sự về việc nhận nuôi con chung, HĐXX thấy: Khi ly hôn anh P đồng ý để chị T tiếp tục nuôi dưỡng cháu T1. Hiện nay cháu T1 đang ở với chị T và học tập tại trường tiểu học xã T, cháu có nguyện vọng được ở với mẹ và chị T nhất trí được tiếp tục nuôi dưỡng cháu T1. Để đảm bảo điều kiện nuôi dưỡng, sự phát triển ổn định của con chung HĐXX xét thấy cần tiếp tục giao con chung là cháu Phạm Thu T1 cho chị T nuôi dưỡng là phù hợp với các Điều 71; 81; 82; 83 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
4
Anh P tự nguyện cấp dưỡng tiền nuôi con theo quy định của pháp luật đến khi con chung trưởng thành, có khả năng lao động tự lập. Chị T thông qua gia đình đề nghị việc cấp dưỡng nuôi con chung được giải quyết theo quy định của pháp luật. Căn cứ khoản 2 Điều 82 Luật Hôn nhân gia đình “Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con”; Căn cứ vào Điều 116 Luật HNGĐ, khoản 2 Điều 7 Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTPĐiều 3 Nghị định 74/2024/NĐ-CP30/6/2024; Căn cứ vào nhu cầu thiết yếu của cháu T1 và để bảo đảm quyền lợi cho con chung, HĐXX thấy cần buộc anh P phải có trách nhiệm đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con cho chị T với mức 2.000.000 đồng/1 tháng cho đến khi con chung trưởng thành, tự lập là hoàn toàn phù hợp với quy định của pháp luật cũng như điều kiện sống hiện nay của cháu T1.
[4] Về tài sản chung, công nợ chung, công sức đóng góp: Bà Lê Thị T2 là mẹ đẻ chị T có trình bày về số vàng ông bà cho chị T khi kết hôn gồm 06 chỉ vàng 9999 (1 vòng cổ trị giá 5 chỉ 9999 và 1 chỉ vàng 9999) và 01 xe máy. Sau đó ông bà có cho anh P vay 09 chỉ vàng 9999 (3 chỉ vàng 9999 khi xây nhà + 1 dây chuyền vàng trị giá 5 chỉ 9999 + 01 nhẫn vàng 9999) và nhiều lần vay tiền, đến nay anh chưa trả. Số tiền, vàng ông bà cho anh P vay đều không có giấy tờ vay nợ nên Tòa án không xem xét giải quyết. Bà Lê Thị T2, chị Phạm Minh T có thể khởi kiện bằng một vụ án khác.
[5] Về án phí: Án phí dân sự sơ thẩm, án phí cấp dưỡng nuôi con: Anh Phạm Xuân P phải nộp theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào các Điều 51, 56, 81, 82, 83, Điều 116 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
- Căn cứ vào Điều 28; Điều 35; Điều 39; khoản 4 Điều 147; Điều 271; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Căn cứ khoản 2 Điều 7 Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP16/5/2024 hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình;
- Căn cứ Điều 3 Nghị định 74/2024/NĐ-CP30/6/2024 quy định mức lương tối thiểu đối với người lao động làm việc theo Hợp đồng lao động;
- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án:
- Về quan hệ hôn nhân: Xử ly hôn giữa anh Phạm Xuân P và chị Phạm Minh T.
5
- Về con chung, cấp dưỡng nuôi con chung: Giao cho chị Phạm Minh T có trách nhiệm nuôi dưỡng con chung Phạm Thu T1, sinh ngày 30 tháng 10 năm 2015 cho đến tuổi trưởng thành và có khả năng lao động tự lập được hoặc có tài sản để tự nuôi mình.
Anh Phạm Xuân P có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con chung Phạm Thu T1 cùng chị Phạm Minh T số tiền là 2.000.000 (hai triệu) đồng/tháng, kể từ tháng 07 năm 2025 đến khi con chung trưởng thành tự lập, có khả năng lao động, tự lập được.
Anh Phạm Xuân P có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung sau ly hôn; không ai được cản trở, không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.
- Án phí:
Án phí dân sự sơ thẩm: Anh Phạm Xuân P phải nộp 300.000 (ba trăm nghìn) đồng.
Án phí cấp dưỡng nuôi con chung: Anh Phạm Xuân P phải nộp 300.000 (ba trăm nghìn) đồng.
Được trừ với số tiền tạm ứng án phí 300.000 (ba trăm nghìn) đồng anh P đã nộp theo biên lai thu tiền số 0004267 ngày 22 tháng 4 năm 2025 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định. Anh P phải nộp 300.000 (ba trăm nghìn đồng) đồng án phí cấp dưỡng nuôi con chung.
- Quyền kháng cáo: Anh Phạm Xuân P, chị Phạm Minh T có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ theo quy định của BLTTDS.
Trường hợp Bản án, Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Hoàng Giang |
6
Bản án số 107/2025/HNGĐ-ST ngày 26/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRỰC NINH, TỈNH NAM ĐỊNH về ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Số bản án: 107/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRỰC NINH, TỈNH NAM ĐỊNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phạm Xuân P - Phạm Minh T
