|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 107/2025/HNGĐ-ST Ngày: 18 - 03 - 2025 V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Bà Nguyễn Thị Thanh Nga |
| Các Hội thẩm nhân dân: | Ông Trần Mai Khanh |
| Ông Trần Xuân Thành |
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trọng Chiến - Thư ký viên, Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An: Không tham gia phiên toà.
Ngày 18 tháng 03 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 625/2024/HNGĐST ngày 16 tháng 12 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 53/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 13 tháng 02 năm 2025 và quyết định hoãn phiên tòa số 70/2025/QĐST-HNGĐ ngày 28/02/2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Lê Văn Á, sinh năm 1992; Địa chỉ trước khi xuất cảnh: xóm A, xã X, huyện N, tỉnh Nghệ An; Chỗ ở hiện nay: 3 L, London N12 0QZ, Vương quốc Anh. Vắng mặt (có đơn xin xét xử vắng mặt).
Người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn: bà Phan Thị T, sinh năm 1987; Nơi thường trú: nhà số E, đường P, khối D, phường T, thành phố V, tỉnh Nghệ An. (Uỷ quyền giao nhận văn bản tố tụng).
- Bị đơn: Chị Nguyễn Thị S, sinh năm 1995; Địa chỉ: xóm G (xóm L), xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt (lần thứ hai).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện, Bản tự khai và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn anh Lê Văn Á trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: A và chị Nguyễn Thị S kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có tìm hiểu, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 06 ngày 10/01/2017. Sau khi kết hôn, thời gian đầu hai vợ chồng chung sống hạnh phúc, sau đó anh đi xuất khẩu lao động tại V A. Năm 2022, chị S đi xuất khẩu lao động tại đất nước Singapore. Từ đó, do khoảng cách địa lý xa xôi, vợ chồng nảy sinh mâu thuẫn, không quan tâm gì đến nhau cả về vật chất lẫn tinh thần, mâu thuẫn càng trở nên trầm trọng, cuộc sống vợ chồng bế tắc. Hiện nay xét thấy, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, nên yêu cầu Toà án giải quyết cho ly hôn với chị Nguyễn Thị S.
- Về con chung: Anh Á và chị S có 01 con chung là cháu Lê Nguyễn Anh T1, sinh ngày 26/6/2019. Tại đơn khởi kiện về việc ly hôn, anh Á có nguyện vọng được nuôi dưỡng cháu T1, không yêu cầu chị S cấp dưỡng nuôi con. Tuy nhiên, do hiện nay cháu T1 đang ở với chị Nguyễn Thị S và ông bà ngoại nên anh Á đồng ý giao con chị S trực tiếp nuôi dưỡng và anh Á đồng ý cấp dưỡng cháu Lê Nguyễn Anh T1 mỗi tháng 4.000.000 đồng (Bốn triệu đồng).
- Về tài sản chung và nợ chung: Anh không yêu cầu Toà án giải quyết.
Tại Bản tự khai ngày 07/2/2025 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn là chị Nguyễn Thị S trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị S và anh Lê Văn Á kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn vào ngày 10/01/2017 tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An. Sau khi kết hôn, thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, hoà thuận, quan tâm chăm sóc nhau. Đến ngày 19/11/2020 anh Á đi nước ngoài, chị S ở nhà cùng con gái và bố mẹ chồng thì đã phát sinh mâu thuẫn với bố mẹ anh Á nên bị ông bà đuổi ra khỏi nhà. Chị đã quyết định cùng con gái là cháu Lê Nguyễn Anh T1 ra ngoài ở riêng. Trong thời gian đó thì chị và anh Á không còn liên lạc với nhau. Đến ngày 07/9/2022 chị cũng đi xuất khẩu lao động tại Singapore. Trong thời gian chị ở Singapore thì anh Á có liên lạc với chị về chuyện con cái và tiền chu cấp cho con, hai vợ chồng đã thỏa thuận ổn thỏa nhưng sau đó anh Á đã thay đổi nên vợ chồng lại tiếp tục mâu thuẫn, cãi vã nhau và đã cùng nhau quyết định ly hôn. Vì vậy, nay anh Á khởi kiện yêu cầu ly hôn thì chị S đồng ý.
- Về con chung: Chị và anh Á có 01 con chung là cháu Lê Nguyễn Anh T1, sinh ngày 26/6/2019 hiện nay đang ở cùng chị tại xóm L, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An. Nay ly hôn, chị S yêu cầu được tiếp tục được chăm sóc nuôi dưỡng cháu Anh T1.
Về nghĩa vụ cấp dưỡng, theo chị S hiện nay cháu Lê Nguyễn Anh T1 đang học tập tại Trường mầm non N1 thuộc xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An với mức học phí và chi phí là: 8.800.000 đồng (Tám triệu tám trăm nghìn đồng). Ngoài ra, còn có các chi phí đi lại, ăn uống, mua sắm quần áo... Vì vậy, chị S yêu cầu anh Á cấp dưỡng nuôi con là 15.000.000 đồng/tháng cho đến khi cháu T1 đủ tuổi trưởng thành.
- Về tài sản chung, nợ chung: Chị S không yêu cầu Toà án giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng: Ngày 17 tháng 10 năm 2024, anh Lê Văn Á có đơn khởi kiện gửi tới Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An yêu cầu giải quyết ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn với chị Nguyễn Thị S. Theo đơn khởi kiện và các tài liệu, chứng cứ kèm theo thì chị S có nơi cư trú tại xóm G, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An; còn anh Á trước khi xuất cảnh có địa chỉ cư trú tại xóm A, xã X, huyện N, tỉnh Nghệ An và có chỗ ở hiện nay tại 3 Leisure W, London N12 0QZ, Vương Quốc A nên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, Điều 37, Điều 40, Điều 469 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 122, Điều 123, Điều 127 của Luật Hôn nhân và Gia đình.
Quá trình giải quyết vụ án, anh Lê Văn Á không thể tham gia hòa giải được do đang ở nước ngoài, xin vắng mặt tất cả các buổi làm việc nên vụ án không tiến hành hòa giải được theo quy định tại Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, nguyên đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt, bị đơn đã được Toà án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt. Theo quy định tại khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn. Đồng thời, do trong vụ án ly hôn này, Tòa án không tiến hành các biện pháp thu thập chứng cứ nên thuộc trường hợp Viện kiểm sát không phải tham gia phiên tòa theo quy định tại khoản 2 Điều 21 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung: Xét các yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Lê Văn Á:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: cuộc hôn nhân giữa anh Lê Văn Á và chị Nguyễn Thị S được xác lập trên cơ sở do hai người tự nguyện, có tìm hiểu và có đăng ký kết hôn. Sau khi kết hôn, vợ chồng đã có thời gian chung sống hoà thuận và đã có một người con chung nhưng hạnh phúc gia đình không xây dựng được lâu dài do hai anh chị có nhiều bất đồng, mâu thuẫn trong cuộc sống, sau khi anh Á đi xuất khẩu lao động tại A thì mâu thuẫn vợ chồng đã trở nên trầm trọng. Tại các bản tự khai, anh Á và chị S đều thừa nhận tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng nên thống nhất giải quyết ly hôn. Hội đồng xét thấy, thời gian vợ chồng chung sống với nhau là chưa dài nhưng đã phát sinh mâu thuẫn một thời gian mà cả hai bên đương sự đều không có giải pháp gì để đoàn tụ, đều yêu cầu giải quyết ly hôn. Điều đó chứng tỏ tình trạng vợ chồng đã thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, việc anh Á yêu cầu giải quyết ly hôn và chị S đồng ý ly hôn là phù hợp với quy định tại Điều 51, 53, 55 Luật Hôn nhân - Gia đình nên ghi nhận sự thuận tình ly hôn này của hai anh chị.
[2.2] Về quan hệ con chung: Tại các bản tự khai, anh Á và chị S đều trình bày vợ chồng có một con chung là: Lê Nguyễn Anh T1, sinh ngày 26/6/2019. Nay ly hôn, chị S có nguyện vọng được tiếp tục nuôi dưỡng con chung và anh Á cũng đồng ý giao cháu T1 cho chị S tiếp tục nuôi dưỡng. Xét thấy, từ khi vợ chồng sống ly thân đến nay, cháu T1 đang được chị S và gia đình bên ngoại chăm sóc, nuôi dưỡng và phát triển hoàn toàn bình thường. Anh Á hiện nay đang cư trú tại nước ngoài, không thể trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng con chung. Vì vậy, cần giao con chung cho chị Nguyễn Thị S tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng như anh Á và chị S đã thống nhất trình bày là đảm bảo sự ổn định học tập, cuộc sống của cháu Lê Nguyễn Anh T1.
Về cấp dưỡng nuôi con: Tại Bản tự khai, chị S yêu cầu anh Lê Văn Á cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 15.000.000 đồng/tháng (mười lăm triệu đồng/tháng) cho đến khi cháu T1 đến tuổi trưởng thành, còn anh Á chỉ đồng ý mức cấp dưỡng là 4.000.000đồng/tháng. Toà án đã giao trách nhiệm cho chị S cung cấp toàn bộ tài liệu, chứng cứ chứng minh cho yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung, các chi phí thực tế, hợp lý cho việc nuôi con nhưng chị S không cung cấp được. Hội đồng xét thấy, mức cấp dưỡng mà chị S yêu cầu là khá cao so với mức sinh hoạt trung bình tại địa phương cũng như các chi phí trung bình cho việc học tập của cháu hiện nay nên căn cứ vào thu nhập, khả năng thực tế của anh Á cũng như để đảm bảo các nhu cầu thiết yếu của cháu T1 thì chỉ có cơ sở chấp nhận mức cấp dưỡng nuôi con chung 4.000.000 đồng/tháng là phù hợp với quy định tại Điều 116 Luật Hôn nhân và Gia đình.
Anh Á không trực tiếp nuôi con sau ly hôn nên có quyền đi lại thăm nom con chung; không ai được cản trở theo quy định tại Điều 82, 83 Luật Hôn nhân và Gia đình.
[2.3]. Về tài sản chung và nợ chung: Tại các Bản tự khai, anh Á và chị S đều không yêu cầu Toà án giải quyết về phần tài sản nên miễn xét.
[3]. Về án phí: Anh Lê Văn Á phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm và án phí cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật; chị Nguyễn Thị S phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: khoản 2 Điều 21, khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 37, Điều 40, Điều 147, Điều 207, khoản 1 Điều 228, khoản 1 Điều 273, Điều 469, Điều 478 và khoản 2 Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 51, 53, 55, 58, 81, 82, 83, 84, 104, 107, 110, 122, 123, 127 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; khoản 5, 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; điểm a khoản 2 Điều 11 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình.
Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Lê Văn Á.
- Về quan hệ hôn nhân: Ghi nhận sự thuận tình ly hôn giữa anh Lê Văn Á và chị Nguyễn Thị S.
-
Về quan hệ con chung: Giao con chung là cháu Lê Nguyễn Anh T1, sinh ngày 26/6/2019 cho chị Nguyễn Thị S trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.
Anh Lê Văn Á có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng là 4.000.000 đồng (Bốn triệu đồng) kể từ tháng 3 năm 2025 cho đến khi cháu T1 thành niên đủ 18 tuổi.
Anh Lê Văn Á có quyền đi lại thăm nom con chung, không ai được cản trở anh Lê Văn Á trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Vì lợi ích mọi mặt của con, khi có lý do chính đáng hoặc có căn cứ theo quy định của pháp luật, theo yêu cầu của một hoặc các bên thì Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
- Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: anh Lê Văn Á và chị Nguyễn Thị S không yêu cầu nên Toà án không giải quyết. Dành quyền khởi kiện liên quan đến chia tài sản chung, nợ chung cho các đương sự trong một vụ án dân sự khác khi các đương sự có yêu cầu.
- Về án phí: Anh Lê Văn Á phải chịu 75.000 đồng (Bảy mươi lăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm và 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí cấp dưỡng nuôi con, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng anh đã nộp theo Biên lai số 0013623 ngày 11/12/2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Nghệ An. Anh Á phải nộp tiếp 75.000 đồng. Chị Nguyễn Thị S phải chịu 75.000 (bảy mươi lăm nghìn) đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn. (Chị S chưa nộp).
- Kể từ ngày chị Nguyễn Thị S có đơn yêu cầu thi hành án cấp dưỡng nuôi con cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, nếu anh Lê Văn Á không chịu thi hành thì hàng tháng anh Á còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật Dân sự 2015 tương ứng với thời gian chưa thi hành án.
- Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
- Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án lên Toà án nhân dân cấp cao tại Hà Nội trong thời hạn như sau: Anh Lê Văn Á có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật. Chị Nguyễn Thị S có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thanh Nga |
| CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN | THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TÒA |
| Trần Mai Khanh Trần Xuân T2 | Nguyễn Thị Thanh N |
Bản án số 107/2025/HNGĐ-ST ngày 18/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Số bản án: 107/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/03/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Giải quyết ly hôn giữa A và S
