|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN TỈNH AN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 107/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 17 - 6 - 2025
V/v "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: ông Trần Văn Hân Em.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Văn Hòa.
- Ông Lý Đạt Thành.
- Thư ký phiên toà: bà Đặng Huỳnh Hoa Lý - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thoại Sơn tham gia phiên tòa: bà Nguyễn Thị Diệu - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 140/2025/TLST-HNGĐ ngày 04/4/2025 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 84/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 13/5/2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 74/2025/QĐST-HNGĐ ngày 03/6/2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: bà Nguyễn Tuyết N, sinh năm 1995 (có mặt).
- Bị đơn: ông Nguyễn Văn M, sinh năm 1996 (vắng mặt).
Địa chỉ: khóm T, thị trấn B, huyện T, tỉnh An Giang.
Địa chỉ: ấp P, xã A, huyện T, tỉnh An Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, biên bản lấy lời khai ngày 18/4/2025, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn bà Nguyễn Tuyết N (sau đây gọi là bà N) trình bày: sau thời gian tự tìm hiểu, bà N với ông Nguyễn Văn M (sau đây gọi là ông M) sống chung từ năm 2023, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân (UBND) thị trấn B, huyện T, tỉnh An Giang vào ngày 06/10/2023. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc nhưng đến tháng 5 năm 2024 thì phát sinh mâu thuẫn, do ông M không lo làm ăn, thường xuyên uống rượu, không quan tâm đến gia đình. Mặc dù bà N nhiều lần khuyên ngăn nhưng ông M không thay đổi, từ đó vợ chồng thường xuyên cãi vã nhau. Mặc dù được cha, mẹ hai bên hòa giải nhưng do mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng nên đã ly thân từ tháng 02 năm 2025 cho đến nay. Quá trình chung sống, vợ chồng có 01 con chung tên là Nguyễn Hoàng B, sinh ngày 28/10/2024.
Nay bà N yêu cầu ly hôn với ông Nguyễn Văn M; về con chung, cháu Nguyễn Hoàng B đang sống chung với bà N nên bà yêu cầu được tiếp tục nuôi con, không yêu cầu ông M cấp dưỡng; về tài sản chung và nợ chung: không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại tờ tự khai ngày 09/5/2025, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn ông Nguyễn Văn M trình bày: sau thời gian tự tìm hiểu, ông M với bà N sống chung từ năm 2023, có đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn B, huyện T, tỉnh An Giang vào ngày 06/10/2023. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc và sinh được 01 con chung tên là Nguyễn Hoàng B, sinh ngày 28/10/2024. Tuy nhiên, đến đầu năm 2025, thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, do trước đây ông M không có việc làm ổn định, kinh tế gia đình do bà N tự gánh vác nên vợ chồng thường xuyên cãi vã và đã ly thân từ đầu năm 2025 cho đến nay. Ông M vẫn còn tình cảm với bà N nên không đồng ý ly hôn theo yêu cầu của bà N. Về con chung: có 01 con chung là Nguyễn Hoàng B, đang sống chung với bà N nên ông M đồng ý cho bà N được tiếp tục nuôi con, ông M không cấp dưỡng; về tài sản chung và nợ chung: không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thoại Sơn phát biểu ý kiến:
Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán được phân công trực tiếp giải quyết vụ án đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật về việc thụ lý, về thời hạn giải quyết vụ án, về việc chuyển hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát nghiên cứu để tham gia xét xử. Tại phiên tòa, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện đúng, đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định tại các điều 70, 71; bị đơn đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt nên đã vi phạm các điều 70 và 72 của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về nội dung giải quyết vụ án: qua xem xét toàn bộ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; các điều 8, 9, 51, 56, 81, 82, 83 và 84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, tuyên: chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Tuyết N.
+ Về hôn nhân: bà Nguyễn Tuyết N được ly hôn với ông Nguyễn Văn M.
+ Về con chung: giao cháu Nguyễn Hoàng B, sinh ngày 28/10/2024 cho bà Nguyễn Tuyết N trực tiếp nuôi dưỡng; ông M không phải cấp dưỡng nuôi con, do bà N không yêu cầu.
+ Về tài sản chung và nợ chung: không có nên không xem xét.
+ Về án phí: bà N phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: theo đơn khởi kiện, bà N yêu cầu ly hôn với ông M, đồng thời yêu cầu giải quyết việc nuôi con. Vì vậy, quan hệ tranh chấp của vụ án là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn ông Nguyễn Văn M có nơi cư trú tại xã A, huyện T, tỉnh An Giang nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn theo quy định tại Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về thủ tục tố tụng: Tòa án đã triệu tập hợp lệ ông Nguyễn Văn M đến lần thứ hai để tham gia phiên tòa. Tuy nhiên, các lần triệu tập ông M đều vắng mặt, không lý do. Do vậy, căn cứ vào khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt ông M theo thủ tục chung.
[3] Về quan hệ hôn nhân: bà N và ông M tiến đến hôn nhân vào năm 2023, có đăng ký kết hôn nên được UBND thị trấn B, huyện T, tỉnh An Giang cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 107/2023, ngày 06/10/2023. Vì vậy, quan hệ hôn nhân của bà N và ông M phù hợp với quy định tại Điều 8 và Điều 9 của Luật hôn nhân và gia đình nên được pháp luật công nhận là vợ chồng.
[3.1] Xét yêu cầu ly hôn của bà N thấy rằng, bà N và ông M sống hạnh phúc thời gian đầu nhưng đến tháng 5 năm 2024 thì phát sinh mâu thuẫn. Bà N cho rằng, ông M không lo làm ăn, không quan tâm đến gia đình nên vợ chồng thường cãi vã nhau, từ đó không còn tình cảm vợ chồng. Mặc dù được gia đình 02 bên hòa giải nhưng bà N và ông M vẫn ly thân, bỏ mặc nhau từ tháng 02 năm 2025 cho đến nay.
[3.2] Tại phiên hòa giải ngày 09/5/2025, bà N xác định tình trạng hôn nhân đã mâu thuẫn trầm trọng nên vẫn giữ nguyên yêu cầu ly hôn với ông M. Về phía bị đơn ông M thừa nhận quá trình chung sống, vợ chồng có phát sinh mâu thuẫn nhưng ông không đồng ý ly hôn theo yêu cầu của bà N.
Từ những nhận định nêu trên, xét thấy tình trạng hôn nhân giữa bà N và ông M mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, áp dụng Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà N.
[4] Về quan hệ con chung: bà N và ông M có 01 con chung tên là Nguyễn Hoàng B, sinh ngày 28/10/2024. Bà N yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng cháu B; không yêu cầu ông M cấp dưỡng nuôi con.
Xét thấy, việc giao con cho ai nuôi cần xem xét quyền lợi về mọi mặt của con chưa thành niên. Cháu B dưới 36 tháng tuổi, rất cần sự chăm sóc của người mẹ và hiện cháu đang sống chung với bà N. Về phía ông M vẫn đồng ý giao cháu B cho bà N tiếp tục nuôi dưỡng. Do vậy, để không xáo trộn cuộc sống và tạo điều kiện cho sự phát triển thể chất, tinh thần của cháu B, căn cứ vào khoản 3 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử giao cháu Nguyễn Hoàng B cho bà N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Ông M không cấp dưỡng nuôi con, do bà N không yêu cầu. Bà N cùng các thành viên gia đình (nếu có) không được cản trở ông M trong việc thăm nom, chăm sóc, giáo dục con.
[5] Về tài sản chung và nợ chung: không có nên không xem xét.
[6] Về án phí dân sự sơ thẩm: bà N yêu cầu ly hôn nên phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[7] Xét, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thoại Sơn có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các điều 8, 9, 56, 81, 82, 83 và 84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Tuyết N.
Về hôn nhân: bà Nguyễn Tuyết N được ly hôn với Nguyễn Văn M.
Về con chung: có 01 con chung tên là Nguyễn Hoàng B, sinh ngày 28/10/2024.
Giao cháu Nguyễn Hoàng B cho bà Nguyễn Tuyết N trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục (cháu B đang sống chung với bà N). Ông M không phải cấp dưỡng nuôi con, do bà N không yêu cầu.
Bà Nguyễn Tuyết N cùng các thành viên gia đình (nếu có) không được cản trở ông Nguyễn Văn M trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Trên cơ sở lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, của cơ quan có thẩm quyền thì Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình.
Về tài sản chung và nợ chung: không có.
Về án phí dân sự sơ thẩm: bà Nguyễn Tuyết N phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, được khấu trừ 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0021846 ngày 04/4/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang (bà N đã nộp đủ).
Về quyền kháng cáo: đương sự có mặt có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Văn Hân Em |
Bản án số 107/2025/HNGĐ-ST ngày 17/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN, TỈNH AN GIANG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 107/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bà N yêu cầu ly hôn với ông M
