Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ LONG XUYÊN

TỈNH AN GIANG

Bản án số: 107/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 16-6-2025

V/v “Tranh chấp Ly hôn, nuôi con”.

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Hồng Thi.

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Bà Đặng Thị Mỹ Hường.
  2. Ông Trần Ngọc Toàn.

Thư ký phiên tòa: Ông Trần Ngọc Ký – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên tham gia phiên tòa: Ông Võ Phan Hưng, bà Huỳnh Ngọc Minh C – Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 6 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 302/2025/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 4 năm 2025, về việc tranh chấp “Ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 338/2025/QĐXXST–HNGĐ ngày 19 tháng 5 năm 2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Phạm Hồng P, sinh năm 1985 (có mặt).

Địa chỉ: Số C, tổ C, khóm Đ, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang.

- Bị đơn: Bà Huỳnh Thị Hồng L, sinh năm 1985 (có mặt).

Địa chỉ: Số C, tổ C, khóm Đ, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang.

NHẬN THẤY:

Theo nội dung vụ án nguyên đơn ông Phạm Hồng P trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Ông và bà Huỳnh Thị Hồng L tự nguyện tìm hiểu, rồi tiến tới hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại UBND phường M, thành phố L, tỉnh An Giang và được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 213 ngày 13/11/2013. Thời gian đầu vợ chồng sống hạnh phúc được 02 năm thì phát sinh nhiều mâu thuẫn, 02 vợ chồng ly thân hơn 02 năm, bà L đã dắt 02 con theo mẹ về ngoại sinh sống. Nhận thấy cuộc sống vợ chồng không còn hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt nên ông yêu cầu ly hôn với bà L.

Về con chung: Có 02 con chung tên Phạm Huỳnh Ánh N, sinh ngày 05/8/2014 và Phạm Huỳnh Khánh N1, sinh ngày 30/9/2021. Hiện hai cháu đang sống chung với ông và bà L, ông yêu cầu được trực tiếp nuôi cháu Phạm Huỳnh Khánh N1; còn cháu Phạm Huỳnh Ánh N giao cho bà L nuôi dưỡng.

Về cấp dưỡng nuôi con: Ông không cấp dưỡng nuôi con, vì mỗi người nuôi một cháu.

Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Bị đơn bà Huỳnh Thị Hồng L trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Thống nhất lời trình bày của nguyên đơn về quá trình đi đến hôn nhân, về mâu thuẫn vợ chồng, vợ chồng đã ly thân khoảng 03 năm.

Về con chung: Có 02 con chung tên Phạm Huỳnh Ánh N, sinh ngày 05/8/2014 và Phạm Huỳnh Khánh N1, sinh ngày 30/9/2021. Hiện hai cháu đang sống chung với bà, bà yêu cầu được nuôi 02 con chung.

Về cấp dưỡng nuôi con: Bà yêu cầu ông P cấp dưỡng nuôi con chung mỗi cháu là 2.500.000 đồng, 02 cháu là 5.000.000 đồng, thời điểm cấp dưỡng bắt đầu từ ngày 01/6/2025 cho đến khi các cháu thành niên và có khả năng lao động.

Về quan hệ tài sản chung: Bà yêu cầu được chia tài sản chung là căn nhà của 02 vợ chồng đã xây dựng năm 2014.

* Nguyên đơn ông Phạm Hồng P trình bày:

- Về cấp dưỡng nuôi con: Ông không đồng ý cấp dưỡng nuôi con, nếu bà L yêu cầu cấp dưỡng nuôi con, nuôi con không nổi thì ông yêu cầu mỗi người nuôi một cháu.

- Về tài sản chung là căn nhà theo bà L trình bày thì ông nhận thấy căn nhà không còn giá trị, nếu bà L muốn chia thì bà L cứ dỡ đi, vì đất là cha ruột ông.

Bị đơn bà L, nguyên đơn ông P thống nhất: Về tài sản chung không yêu cầu Tòa án giải quyết. Trường hợp có tranh chấp sẽ giải quyết bằng một vụ kiện khác.

Tại phiên tòa: Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Bị đơn xác định yêu cầu cấp dưỡng theo quy định.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến:

Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo Điều 70, Điều 71 và Điều 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Về nội dung vụ án: Đề nghị áp dụng các Điều 51, Điều 56, 58, Điều 81, 82, 83, 84, 115, 116, 117, 118, 119 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; khoản 2 Điều 7 của Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP, ngày 16/5/2024 của Hội đồng thẩm phán tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết về hôn nhân và gia đình. Đề nghị:

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của ông P. Ông P được ly hôn bà L.

Về con chung: giao cháu Phạm Huỳnh Ánh N, sinh ngày 05/8/2014 và Phạm Huỳnh Khánh N1, sinh ngày 30/9/2021 cho bà L trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.

Về cấp dưỡng: ông P cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật mỗi cháu là 2.205.000 đồng/tháng, 02 cháu là 4.410.000 đồng/tháng.

Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết nên đề nghị không xem xét.

Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, giải quyết án phí theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa và các quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Tranh chấp của các đương sự là về ly hôn, nuôi con, bị đơn có địa chỉ thường trú tại địa bàn thành phố L, nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[2] Về nội dung vụ án:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Ông P và bà L chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn, phù hợp quy định tại Điều 9 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, là hôn nhân hợp pháp làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa vợ và chồng trong thời kỳ hôn nhân. Ông P khởi kiện yêu cầu ly hôn bà L, bà L đồng ý. Căn cứ khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của ông P.

[2.2] Về con chung: Ông P và bà L có 02 con chung tên Phạm Huỳnh Ánh N, sinh ngày 05/8/2014 và Phạm Huỳnh Khánh N1, sinh ngày 30/9/2021. Ông P yêu cầu được nuôi cháu Khánh N1; Bà L yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cả 02 cháu Ánh N và Khánh N1.

Xét từ khi ly thân bà L mang 02 cháu theo bà, ông P không cùng bà L chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung. Cháu Khánh N1 chưa được 7 tuổi, đang sống chung với bà L, cháu Ánh N có nguyện vọng được sống chung với bà L. Xét yêu cầu của bà L, nguyện vọng của cháu Ánh N, thực tế cháu Khánh N1 đang chung sống với bà L và để đảm bảo sự phát triển về mọi mặt của các cháu, tạo điều kiện cho các cháu được ổn định tinh thần, sinh sống và học tập, Hội đồng xét xử chấp nhận giao 02 cháu Ánh N và Khánh N1 cho bà L được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục là phù hợp quy định pháp luật tại Điều 81 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

Bà Huỳnh Thị Hồng L cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở ông Phạm Hồng P trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung. Vì lợi ích của trẻ em theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.

[2.3] Về cấp dưỡng: Cấp dưỡng nuôi con là nghĩa vụ của người không trực tiếp nuôi con, bà L yêu cầu ông P cấp dưỡng nuôi con theo quy định pháp luật. Tại Điều 110 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 quy định người không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con. Mức cấp dưỡng nuôi con không thấp hơn một nửa tháng lương tối thiểu vùng tại nơi người cấp dưỡng đang cư trú cho mỗi tháng đối với mỗi người con. Điều 3 Nghị định số 74/2024/NĐ-CP ngày 30/6/2024 của Chính Phủ quy định mức lương tối thiểu đối với người lao động làm việc theo hợp đồng lao động thì mức lương tối thiếu của thành phố L thuộc vùng II là 4.410.000 đồng cho nên mức cấp dưỡng mà ông P hàng tháng phải cấp dưỡng nuôi 02 con chung là 4.410.000 đồng/tháng, thời điểm cấp dưỡng bắt đầu từ ngày 16/6/2025 cho đến khi các cháu thành niên và có khả năng lao động. Khi có lý do chính đáng, mức cấp dưỡng có thể thay đổi. Việc thay đổi mức cấp dưỡng do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.

[2.4] Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[3] Về án phí:

  • - Ông Phạm Hồng P phải chịu 300.000 đồng tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, được khấu trừ 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp.
  • - Ông Phạm Hồng P phải chịu 300.000 đồng án phí về cấp dưỡng nuôi con.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ vào các Điều 9, Điều 51, Điều 53, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84, Điều 107, Điều 110 và Điều 116 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;

Căn cứ khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của ông Phạm Hồng P. Ông Phạm Hồng P được ly hôn bà Huỳnh Thị Hồng L.
  2. Về con chung:
    1. Ông Phạm Hồng P và bà Huỳnh Thị Hồng L có 02 con chung tên Phạm Huỳnh Anh N, sinh ngày 05/8/2014 và Phạm Huỳnh Khánh N1, sinh ngày 30/9/2021. Hiện con chung đang sống chung với bà L.
    2. Giao 02 cháu Phạm Huỳnh Ánh N và Phạm Huỳnh Khánh N1 cho bà Huỳnh Thị Hồng L được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.

    Bà Huỳnh Thị Hồng L cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở ông Phạm Hồng P trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung. Vì lợi ích của trẻ em theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.

  3. Về cấp dưỡng: Ông Phạm Hồng P có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi cháu Ánh N và cháu Khánh N1, mỗi cháu số tiền 2.205.000 đồng/tháng, 02 cháu là 4.410.000 đồng/tháng (do bà Huỳnh Thị Hồng L đại diện nhận). Thời điểm cấp dưỡng bắt đầu từ ngày 16/6/2025 cho đến khi các cháu thành niên và có khả năng lao động. Khi có lý do chính đáng, mức cấp dưỡng có thể thay đổi. Việc thay đổi mức cấp dưỡng do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.
  4. Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
  5. Về án phí:
    • - Ông Phạm Hồng P phải chịu 300.000 đồng tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, được khấu trừ 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu số 0002600 ngày 31 tháng 3 năm 2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Long Xuyên.
    • - Ông Phạm Hồng P phải chịu 300.000 đồng án phí về cấp dưỡng nuôi con.
  6. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh An Giang;
  • - VKSND TPLX;
  • - Chi cục THADS TPLX;
  • - UBND phường Mỹ Thạnh (GCN số 213, ngày 13/11/2013);
  • - Các đương sự (để thi hành);
  • - Lưu HS, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Thị Hồng Thi

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đặng Thị Mỹ Hường      Trần Ngọc Toàn

Lê Thị Hồng Thi

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 107/2025/HNGĐ-ST ngày 16/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG về tranh chấp ly hôn, nuôi con

  • Số bản án: 107/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Ly hôn, nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ông P được ly hôn bà L
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger