|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MỸ THO TỈNH TIỀN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do- Hạnh phúc |
|
Bản án số: 107/2025/HNGĐ-ST Ngày: 13-6-2025 V/v tranh chấp “ Ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MỸ THO TỈNH TIỀN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Cao Thị Trúc Linh.
- - Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Bùi Thị Thu Nhi.
- Bà Lê Thị Bé Bảy.
- - Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Trạng – Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Mỹ Tho tham gia phiên tòa: bà Đỗ Thị Thảo Trang – Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 5 và ngày 12 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Mỹ Tho xét xử sơ thẩm vụ án thụ lý số 114/2025/TLST-HNGĐ ngày 21 tháng 3 năm 2025 về tranh chấp “Ly hôn”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 181/2025/QĐXXST-HN ngày 25 tháng 4 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Nguyễn Văn M, sinh năm 1973.
- Bị đơn: Chị Phùng Phạm Kiều D, sinh năm 1989.
- Ngân hàng N - chi nhánh T.
Địa chỉ: ấp Phước Hòa, xã Phước Thạnh, thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang
Địa chỉ: ấp P, xã P, thành phố M, tỉnh Tiền Giang.
Người đại diện theo ủy quyền ông Nguyễn Minh M1 - Cán bộ pháp chế
Địa chỉ: số C L, phường A, thành phố M, tỉnh Tiền Giang
( ANh M, chị D có mặt tại phiên tòa, ông M1 xin vắng)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn ly hôn, và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn anh Nguyễn Văn M trình bày: anh và chị P Phạm Kiều D cưới nhau từ năm 2012, có đăng ký kết hôn tại UBND phường E, thành phố M. Cuộc sống hôn nhân hạnh phúc nhưng đến về sau thì vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn không thể hàn gắn được, nguyên nhân do tính tình không phù hợp, thường xuyên bất đồng quan điểm, chị D gây nhiều nợ nần bên ngoài, dù anh M đã tha thứ và hỗ trợ chị D trả nợ nhưng chị D vẫn không thay đổi, tiếp tục vay mượn nợ bên ngoài dẫn đến cuộc sống gia đình khốn khó dù anh M đã nhiều lần khuyên bảo. Nhận thấy không thể hàn gắn và tiếp tục mối quan hệ hôn nhân nên anh M yêu cầu được ly hôn với achị D. Về con chung có 02 con chung tên Nguyễn Hoàng Phú Q sinh ngày 26/11/2012 và Nguyễn Ngọc Như Ý sinh ngày 04/9/2014. Ly hôn anh yêu cầu được nuôi con theo nguyện vọng của con chung, không yêu cầu chị D cấp dưỡng. Về tài sản chung không có, nợ chung không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại bản khai ý kiến ngày 25/04/2025 và ý kiến tại các phiên hòa giải, bị đơn chị P Phạm Kiều D trình bày không đồng ý ly hôn với anh Nguyễn Văn M mong muốn được hàn gắn để cùng nhau chăm sóc cho con chung. Chị xác định lý do có phát sinh nhiều nợ nần là do lúc trước chị kinh doanh quán cơm để phục vụ kinh tế gia đình, do kinh doanh thất bại nên mới gây nhiều nợ, hiện tại chị đã cố gắng khắc phục một phần số nợ. Về con chung, tài sản và nợ chung chị thống nhất với ý kiến trình bày của anh M.
Theo nội dung bản tự khai ngày 29/5/2025, Ngân hàng N - chi nhánh T, xác định hiện tại anh Nguyễn Văn M và chị P Phạm Kiều D có ký kết hợp đồng tín dụng với ngân hàng để vay số tiền 150.000.000 đồng, theo hợp đồng tín dụng số 6900-LAV -202400639 ngày 28/6/2024. Đối với vụ án ly hôn giữa anh M và chị D, phí anh M đã có văn bản cam kết trả nợ nên nay ngân hàng không yêu cầu Tòa án giải quyết buộc anh M thanh toán số nợ trên trong vụ án này. Do bận công tác nên ngân hàng xin được vắng mặt tại phiên tòa.
Tại phiên tòa, nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu được ly hôn, thống nhất vợ chồng có nợ của Ngân hàng nông nghiệp số tiền vốn gốc là 150.000.000 đồng, mục đích vay để sửa chữa căn nhà và trả nợ cho chị D. Nay ly hôn anh cam kết thực hiện việc trả nợ thay cho chị D và không yêu cầu Tòa án giải quyết, bị đơn vẫn giữ nguyên ý kiến không đồng ý ly hôn.
Kiểm sát viên phát biểu ý kiến: về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự và quan điểm về việc giải quyết vụ án: Thẩm phán, Hội đồng xét xử vụ án, Thư ký phiên tòa và người tham gia tố tụng tuân theo pháp luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn bị đơn thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ của mình. Về nội dung theo lập luận nêu tại bài phát biểu. Căn cứ Điều 56, 58, 81, 82 và 83 Luật Hôn nhân và gia đình đề nghị không chấp nhận yêu cầu ly hôn của anh M, không đưa ra xem xét về con chung, tài sản chung và nợ chung.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử xét thấy:
[1].Về tố tụng:
Nguyên đơn anh Nguyễn Văn M yêu cầu được ly hôn với chị P Phạm Kiều D và hiện tại chị D đang cư trú tại thành phố M, tỉnh Tiền Giang. Căn cứ quy định khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự xác định là tranh chấp ly hôn, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Mỹ Tho.
Đại diện theo ủy quyền của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có đơn xin xét xử vắng mặt nên căn cứ vào Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng Dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt đại diện ngân hàng N - chi nhánh T
[2] . Về nội dung:
[2.1]. Về quan hệ hôn nhân: Anh M và chị D cưới nhau vào năm 2012, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường E, thành phố M, tỉnh Tiền Giang vào ngày 31/5/2012 nên là hôn nhân hợp pháp. Sau khi cưới vợ chồng anh chị chung sống hạnh phúc, nhưng đến năm 2022 thì phát sinh nhiều mâu thuẫn trầm trọng không thể hàn gắn, chị D gây nhiều nợ nần ảnh hưởng đến cuộc sống gia đình. Phía chị D không đồng ý ly hôn, chị thừa nhận quá trình làm ăn phục vụ kinh tế gia đình có gặp khó khăn nên phát sinh nợ, hiện tại chị đã cố gắng khắc phục những khoản nợ trên, không thừa nhận việc có chơi đề dẫn đến phá tán tài sản gia đình.
[2.2]. Xét thấy, tại phiên tòa anh M khẳng định còn tình cảm vợ chồng với chị D, cả hai chưa sống ly thân, mục đích ly hôn do anh mất lòng tin vào chị D và lo sợ chị D tiếp tục gây nợ ảnh hưởng đến kinh tế gia đình nên mong muốn ly hôn, nhưng anh M không cung cấp được tài liệu chứng cứ cho việc chị D có tham gia chơi đề, cờ bạc dẫn đến phát tán tài sản. Phía chị D cũng tha thiết xin được hàn gắn tình cảm vợ chồng để cùng nhau nuôi dạy con chung, chị cũng tích cực sửa đổi bản thân, cố gắng kiếm thêm thu nhập để cùng anh M trả nợ và mong anh M cho thời gian để hàn gắn. Do đó, chưa có có sở xác định hôn nhân của M chị D đang lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung vợ chồng không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được theo quy định tại Điều 56 của Luật hôn nhân gia đình và Điều 4 của Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16 tháng 5 năm 2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao về hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình.
Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử quyết định không chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh M.
[3]. Do yêu cầu ly hôn không được chấp nhận nên không đặt ra giải quyết vấn đề về con chung, tài sản chung và nợ chung.
[4]. Xét đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[5]. Về án phí: Anh Nguyễn Văn M phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39, 147, 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ các Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.
Xử:
- Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Văn M.
- Về án phí: Anh Nguyễn Văn M phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0004621 ngày 21 tháng 3 năm 2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Mỹ Tho nên anh đã nộp xong.
- Về quyền kháng cáo: Các đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Cao Thị Trúc Linh |
Bản án số 107/2025/HNGĐ-ST ngày 13/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MỸ THO TỈNH TIỀN GIANG về ly hôn
- Số bản án: 107/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 13/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MỸ THO TỈNH TIỀN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: 1.Nguyên đơn: Anh Nguyễn Văn Mười, sinh năm 1973. Địa chỉ: ấp Phước Hòa, xã Phước Thạnh, thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang 2. Bị đơn: Chị Phùng Phạm Kiều Dung, sinh năm 1989. Địa chỉ: ấp Phước Hòa, xã Phước Thạnh, thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang.
