|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC I - LÂM ĐỒNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc ——————————————— |
|
Bản án số: 107/2025/DS-ST Ngày: 24 - 10 -2025 V/v Tranh chấp hợp đồng tín dụng |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC I - LÂM ĐỒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
| Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa: | Bà Trần Thị Hương Trang |
| Các Hội thẩm nhân dân: | Ông Mai Phú |
| Bà Mai Lương Anh |
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Quỳnh - Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 1 - Lâm Đồng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 1 - Lâm Đồng tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Ngọc Thủy - Kiểm sát viên
Ngày 24 tháng 10 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 1 - Lâm Đồng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 88/2025/TLST-DS ngày 05 tháng 8 năm 2025 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 95/2025/QĐXX-ST ngày 12/9/2025; Quyết định hoãn phiên tòa số 158/2025/QÐST-DS ngày 29/9/2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP Đ (B); trụ sở: T, A T, phường H (trước đây là phường L, quận H), Thành phố Hà Nội.
- - Bà Lê Nguyễn Ngọc C. Chức vụ: Trưởng phòng KHCN.
- - Bà Lê Thị Thi Y. Chức vụ: Phó Trưởng phòng KHCN.
- Bị đơn: Ông Hồ Xuân H, sinh năm 1974; nơi ĐKHK: Số B T, phường X - Đ, tỉnh Lâm Đồng; địa chỉ liên lạc: Lô B KQH Đ, phường X - Đ, tỉnh Lâm Đồng.
Đại diện theo ủy quyền khởi kiện: Ngân hàng TMCP Đ chi nhánh L; trụ sở: Số B T, phường X - Đ, tỉnh Lâm Đồng. (Quyết định ủy quyền tham gia tố tụng số 3828/QĐ-BIDV ngày 01/7/2024)
Đại diện theo ủy quyền tham gia tố tụng theo Giấy ủy quyền tham gia tố tụng số 1315/UQ-BIDV.LĐ ngày 25/6/2025 của Ngân hàng TMCP Đ chi nhánh L:
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông H: Luật sư Bùi Công T – Công ty L1 chi nhánh L thuộc Đoàn Luật sư Thành phố H.
(Bà Y, ông H, Luật sư T có mặt; các đương sự khác vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 28/5/2025 của nguyên đơn và lời trình bày của người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn tại phiên họp công khai chứng cứ ngày 29/8/2025:
Ông Hồ Xuân H đã ký kết hợp đồng thế chấp số 408/2021/7267376/HĐBĐ ngày 21/6/2021 và hợp đồng tín dụng số 52/2024/7267376/HĐTD ngày 07/03/2024 với các nội dung sau:
- Số tiền cho vay: 3.500.000.000 đồng.
- Mục đích vay: Bổ sung vốn lưu động sản xuất nông nghiệp.
- Thời hạn vay: 12 tháng từ ngày 07/03/2024.
- Tài sản thế chấp là: Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa 430 (gốc Lô B5), tờ bản đồ số 27, tại Lô B, xã X, thành phố Đ (nay là phường X - Đ), tỉnh Lâm Đồng theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CY 855808 do Ủy ban nhân dân thành phố Đ cấp ngày 18/01/2021.
Ông Hồ Xuân H đã không thực hiện việc trả nợ cho Ngân hàng đúng theo cam kết, mặc dù cán bộ Ngân hàng nhiều lần đôn đốc nhắc nhở nhưng ông H không hợp tác trả nợ. Tổng số nợ quá hạn của ông Hồ Xuân H tạm tính đến ngày 29/8/2025 là 3.680.387.925 đồng, bao gồm: nợ gốc: 3.500.000.000 đồng; nợ lãi trong hạn và lãi quá hạn: 180.387.925 đồng
Ngân hàng khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết buộc:
- Ông Hồ Xuân H có trách nhiệm trả cho Ngân hàng TMCP Đ toàn bộ số tiền tính đến ngày 29/8/2025 là 3.680.387.925 đồng, bao gồm: nợ gốc: 3.500.000.000 đồng; nợ lãi trong hạn và lãi quá hạn: 180.387.925 đồng theo 52/2024/7267376/HĐTD ngày 07/03/2024 giữa Ngân hàng B với ông Hồ Xuân H.
- Trường hợp ông Hồ Xuân H không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng TMCP Đ được quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền phát mãi tài sản thế chấp theo Hợp đồng thế chấp bất động sản số 408/2021/7267376/HĐBĐ ngày 21/6/2021 giữa Ngân hàng B với ông Hồ Xuân H
- Trường hợp số tiền phát mãi tài sản bảo đảm không đủ trả hết nợ thì ông Hồ Xuân H phải có nghĩa vụ tiếp tục trả nợ cho Ngân hàng TMCP Đ cho đến khi hết nợ.
- Sau khi ông Hồ Xuân H hoàn tất nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng TMCP Đ có trách nhiệm trả lại cho ông Hồ Xuân H bản chính giấy tờ sau: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CY 855808 do Ủy ban nhân dân thành phố Đ cấp ngày 18/01/2021 đứng tên ông Hồ Xuân H.
- Về chi phí tố tụng: Yêu cầu ông Hồ Xuân H phải trả lại chi phí xem xét thẩm định tại chỗ do Ngân hàng đã tạm ứng chi.
- Về án phí: Ông Hồ Xuân H phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định.
Ông Hồ Xuân H có trách nhiệm tiếp tục trả cho Ngân hàng TMCP Đ tiền lãi phát sinh từ ngày 30/8/2025 cho đến khi trả hết nợ theo mức lãi suất các bên thỏa thuận trong các Hợp đồng tín dụng đã ký kết giữa Ngân hàng TMCP Đ và ông Hồ Xuân H
Bị đơn ông Hồ Xuân H đã được triệu tập hợp lệ nhưng không có lời trình bày tại Tòa.
Tại phiên tòa hôm nay,
Đại diện nguyên đơn bà Y trình bày: Giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và buộc ông Hồ Xuân H thanh toán số tiền tạm tính đến ngày 24/10/2025 là 3.740.798.938 đồng, trong đó tiền gốc là 3.500.000.000 đồng, tiền lãi trong hạn 175.168.626 đồng, lãi phạt là 65.630.312 đồng.
Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn trình bày: Đồng ý yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc yêu cầu bị đơn trả số tiền nợ gốc và lãi tạm tính đến ngày 24/10/2025. Tuy nhiên, đề nghị nguyên đơn xem xét giảm bớt số tiền lãi để bị đơn có khả năng trả nợ. Đồng thời, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét lại tính hợp pháp của Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 22/8/2025, biên bản không ghi thời gian bắt đầu và kết thúc, không đóng dấu xác nhận của Ủy ban nhân dân phường X – Đ. Tại phiên họp công khai chứng cứ và hòa giải ngày 29/8/2025, bị đơn ông H đã có đơn xin hoãn phiên họp ghi ngày 27/8/2025 và trình bày đang có đơn trình báo gửi Ủy ban nhân dân phường X – Đ giải quyết tranh chấp đất với ông C1 nhưng Tòa án vẫn tiến hành mở phiên họp, ông H không được tham gia và trình bày ý kiến tại phiên họp này nên đã ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của ông H. Tại phiên tòa hôm nay, bị đơn xuất trình bản chụp có dấu công văn đến của Ủy ban phường X - Đ đã nhận đơn trình báo của ông H vào ngày 04/9/2025, tuy nhiên phía Ủy ban có Công văn số 1107 ngày 13/10/2025 trả lời cho Tòa án hiện nay không nhận được đơn của ông H là không đúng. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét tính pháp lý của văn bản này và tạm ngừng phiên tòa để đưa người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vào tham gia trong cùng vụ án để được giải quyết triệt để. Bên cạnh đó, theo biên bản công khai chứng cứ ngày 29/8/2025 thì phía nguyên đơn mới cung cấp Hợp đồng ủy quyền xử lý tài sản bảo đảm số 408/2021/7267376/HĐBĐ ngày 22/6/2021 giữa Ngân hàng B với ông Hồ Xuân H. Hợp đồng này ông H chỉ ký ở trang cuối, không ký vào từng trang, đề nghị xem xét hợp đồng này có hiệu lực không.
Bị đơn ông Hồ Xuân H bổ sung ý kiến trình bày: Tại phiên tòa hôm nay, tôi cung cấp tài liệu là Biên bản làm việc ngày 03/4/2025 về việc Ngân hàng B giải quyết đơn khiếu nại; Biên bản bàn giao tài sản để xử lý thu hồi nợ không ghi ngày tháng năm, không có dấu và chữ ký của phía Ngân hàng B; đơn trình bày về việc lấn chiếm đất gửi Ủy ban nhân dân phường X – Đ ghi ngày 27 tháng 8 năm 2025, có đóng dấu công văn đến ngày 04/9/2025; vận đơn; bưu gửi và tập hình ảnh liên quan diện tích đất có tranh chấp. Do Ngân hàng đã có lỗi khi khoản nợ ngày 21/3/2025 của tôi chưa tới hạn nhưng đầu tháng 3/2025 Ngân hàng bắt tôi phải ký biên bản bàn giao tài sản để xử lý thu hồi nợ. Ngân hàng đã thừa nhận sai và xin lỗi tôi tại Biên bản làm việc ngày 03/4/2025. Sau đó, vì tôi không còn tin tưởng Ngân hàng nên tôi đã không bỏ tiền vào tài khoản để trả nợ khi đến hạn. Tôi đồng ý yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, đồng ý trả số tiền nợ gốc và lãi theo hợp đồng đã ký kết. Tuy nhiên, hiện nay tôi đang có đơn đề nghị giải quyết tranh chấp đất đai tại Ủy ban nhân dân phường X – Đ nhưng chưa được hòa giải, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét.
Đại diện nguyên đơn bà Y đối đáp: Trên thực tế có việc sai sót của Ngân hàng khi lập Biên bản bàn giao tài sản để xử lý thu hồi nợ vào đầu tháng 3/2025 khi ông H chưa vi phạm thời gian trả gốc, lãi theo hợp đồng tín dụng. Tuy nhiên, sau khi phát hiện, Ngân hàng đã mời ông H lên làm việc và xin lỗi về sai sót này. Đồng thời Biên bản bàn giao tài sản để xử lý thu hồi nợ không ghi ngày tháng năm, không có chữ ký, đóng dấu của Ngân hàng; có chữ ký của ông H nhưng chính ông H cũng đã gạch bỏ nên không có giá trị pháp lý. Từ sau khi lập Biên bản làm việc ngày 03/4/2025, Ngân hàng cũng đã tạo điều kiện cho ông H có thể trả nợ gốc và lãi nhưng ông Hoàng liên T1 vi phạm các hợp đồng tín dụng đã ký kết nên Ngân hàng đã khởi kiện thu hồi nợ theo quy định của pháp luật. Đối với lời trình bày của phía bị đơn cho rằng tại phiên họp công khai chứng cứ ngày 29/8/2025 nguyên đơn mới giao nộp Hợp đồng ủy quyền xử lý tài sản bảo đảm số 408/2021/7267376/HĐBĐ ngày 22/6/2021 giữa Ngân hàng B với ông Hồ Xuân H là không đúng, tài liệu này đã được gửi kèm hồ sơ khởi kiện ban đầu. Ngân hàng khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết đối với Hợp đồng tín dụng và Hợp đồng thế chấp được ký kết giữa Ngân hàng và ông H, không yêu cầu gì liên quan đến hợp đồng ủy quyền này.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 1 – Lâm Đồng tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, các đương sự và Hội đồng xét xử trong quá trình giải quyết vụ án. Đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
- - Buộc bị đơn trả cho nguyên đơn số tiền gốc 3.500.000.000 đồng, tiền lãi trong hạn 175.168.626 đồng, lãi phạt là 65.630.312 đồng tính đến ngày 24/10/2025 theo Hợp đồng tín dụng hạn mức số 52/2024/7267376/HĐTD ngày 07/3/2024; Hợp đồng tín dụng cụ thể số 52.6/2024/7267376/HĐTD ngày 21/10/2024; Hợp đồng tín dụng cụ thể số 52.7/2024/7267376/HĐTD ngày 29/10/2024; Hợp đồng tín dụng cụ thể số 52.8/2024/7267376/HĐTD ngày 11/11/2024; Hợp đồng tín dụng cụ thể số 52.9/2024/7267376/HĐTD ngày 23/12/2024; Hợp đồng tín dụng cụ thể số 52.10/2024/7267376/HĐTD ngày 24/12/2024;
- - Ông Hồ Xuân H có trách nhiệm tiếp tục trả cho Ngân hàng TMCP Đ tiền lãi phát sinh từ ngày 25/10/2025 cho đến khi trả hết nợ theo mức lãi suất các bên thỏa thuận trong các Hợp đồng tín dụng đã ký kết giữa Ngân hàng TMCP Đ và ông Hồ Xuân H.
- - Tiếp tục duy trì Hợp đồng thế chấp bất động sản số 408/2021/7267376/HĐBĐ ngày 22/6/2021 giữa Ngân hàng TMCP Đ với ông Hồ Xuân H.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Ngày 28/5/2025 nguyên đơn Ngân hàng B có đơn khởi kiện yêu cầu giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng đối với bị đơn ông Hồ Xuân H. Bị đơn có nơi cư trú tại phường X - Đ, tỉnh Lâm Đồng. Căn cứ theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Khu vực 1 - Lâm Đồng.
Tòa án đã tiến hành mở phiên họp về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải vào ngày 29/8/2025, đã triệu tập hợp lệ ông Hồ Xuân H tham gia phiên họp nhưng ông H vắng mặt. Nguyên đơn có đơn đề nghị không tiến hành hòa giải nên vụ án thuộc trường hợp không tiến hành hòa giải được. Riêng phiên họp về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, Tòa án tiến hành phiên họp vắng mặt ông H theo thủ tục chung, sau đó đã thông báo kết quả cho ông H được biết
[2] Về nội dung:
[2.1] Đối với yêu cầu trả nợ gốc và lãi của nguyên đơn:
Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn thừa nhận có ký Hợp đồng tín dụng số 52/2024/7267376/HĐTD ngày 07/03/2024. Căn cứ hợp đồng trên, bị đơn tiếp tục ký kết các Hợp đồng tín dụng cụ thể để giải ngân toàn bộ số tiền vay 3.500.000.000 đồng (BL10-31).
Xét thấy, các hợp đồng tín dụng giữa nguyên đơn và bị đơn được ký kết trên tinh thần tự nguyện, phù hợp với quy định pháp luật nên các đương sự cùng có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ theo hợp đồng. Theo đại diện nguyên đơn, từ khi vay đến nay bị đơn không thanh toán tiền gốc và tiền lãi lần nào, tính đến ngày 24/10/2025 bị đơn còn nợ số tiền gốc: 3.500.000.000 đồng, lãi vay 175.168.626 đồng và lãi quá hạn tạm tính: 65.630.312 đồng. Do bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng tín dụng đã ký nên nguyên đơn yêu cầu thanh toán toàn bộ số nợ là đúng quy định.
[2.2] Đối với yêu cầu của nguyên đơn về xử lý tài sản đảm bảo theo hợp đồng thế chấp bất động sản số 408/2021/7267376/HĐBĐ ngày 22/6/2021 để thu hồi nợ, thấy rằng:
Để đảm bảo khoản vay, bị đơn có thế chấp tài sản là: Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa 430 (gốc Lô B5), tờ bản đồ số 27, tại Lô B, xã X, thành phố Đ (nay là phường X - Đ), tỉnh Lâm Đồng theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CY 855808 do Ủy ban nhân dân thành phố Đ cấp ngày 18/01/2021 đứng tên ông Hồ Xuân H.
Việc các bên xác lập hợp đồng thế chấp trên tinh thần tự nguyện, phù hợp với quy định của pháp luật và đã được đăng ký giao dịch bảo đảm đúng quy định nên được pháp luật công nhận và bảo vệ. Quá trình thực hiện hợp đồng tín dụng, do bị đơn vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên nguyên đơn yêu cầu xử lý tài sản đảm bảo theo hợp đồng thế chấp là hoàn toàn phù hợp.
[2.3] Đối với yêu cầu của nguyên đơn về việc tiếp tục tính lãi phát sinh kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến ngày tất toán nợ theo hợp đồng tín dụng. Xét thấy: Yêu cầu của nguyên đơn phù hợp theo Án lệ số 08/2016/AL được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày 17/10/2016 và được công bố theo Quyết định số 698/QĐ-CA ngày 17/10/2016 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao nên được chấp nhận.
Bị đơn ông Hồ Xuân H đồng ý trả nợ gốc và lãi theo yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nên ghi nhận.
[3] Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 1 – Lâm Đồng tại phiên tòa là có căn cứ và phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[4] Các vấn đề khác:
Tại phiên tòa hôm nay, bị đơn ông H cho rằng đang có tranh chấp quyền sử dụng đất đối với thửa 430 (gốc Lô B5), tờ bản đồ số 27, tại Lô B, xã X, thành phố Đ, là tài sản đang được thế chấp tại Ngân hàng B, ông đề nghị đưa thêm người tham gia tố tụng để giải quyết trong cùng vụ án này. Tuy nhiên, ông H không cung cấp được các tài liệu, chứng cứ chứng minh liên quan đến việc Ủy ban nhân dân phường X – Đ đang thụ lý, giải quyết đơn tranh chấp của ông. Đồng thời tại Công văn số 1107/UBND-KT,HT&ĐT ngày 13/10/2025, Ủy ban nhân dân phường X – Đ sau khi kiểm tra, rà soát dữ liệu thì không nhận được đơn đề nghị hòa giải tranh chấp đất đai hoặc có hồ sơ tranh chấp đất đai đứng tên ông Hồ Xuân H. Do đó, không có cơ sở để Hội đồng xét xử xem xét đối với yêu cầu này của ông H.
Về chi phí tố tụng: Theo khoản 1 Điều 157 Bộ luật Tố tụng dân sự thì bị đơn phải chịu số tiền 600.000 đồng chi phí xem xét thẩm định tại chỗ. Nguyên đơn đã ứng chi nên buộc bị đơn trả lại cho nguyên đơn số tiền trên.
Về án phí: Bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 147; khoản 1 Điều 157; Điều 227; Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 385; Điều 401; Điều 463, 466 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
Căn cứ Án lệ số 08/2016/AL của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao ngày 17/10/2016.
Căn cứ Điều 4, Điều 91, Điều 95 của Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010;
Căn cứ Điều 7, 8, 13 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm.
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP Đ (B) đối với bị đơn ông Hồ Xuân H về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”.
1.1. Ông Hồ Xuân H có trách nhiệm trả cho Ngân hàng TMCP Đ toàn bộ số tiền tính đến ngày 24/10/2025 là 3.740.798.938 đồng, trong đó: Nợ gốc: 3.500.000.000 đồng, nợ lãi: 175.168.626 đồng; lãi phạt chậm trả: 65.630.312 đồng theo Hợp đồng tín dụng số 52/2024/7267376/HĐTD ngày 07/03/2024; Hợp đồng tín dụng cụ thể số 52.6/2024/7267376/HĐTD ngày 21/10/2024; Hợp đồng tín dụng cụ thể số 52.7/2024/7267376/HĐTD ngày 29/10/2024; Hợp đồng tín dụng cụ thể số 52.8/2024/7267376/HĐTD ngày 11/11/2024; Hợp đồng tín dụng cụ thể số 52.9/2024/7267376/HĐTD ngày 23/12/2024; Hợp đồng tín dụng cụ thể số 52.10/2024/7267376/HĐTD ngày 24/12/2024 giữa Ngân hàng TMCP Đ với ông Hồ Xuân H.
Ông Hồ Xuân H có trách nhiệm tiếp tục trả cho Ngân hàng TMCP Đ tiền lãi phát sinh từ ngày 25/10/2025 cho đến khi trả hết nợ theo mức lãi suất các bên thỏa thuận trong các Hợp đồng tín dụng đã ký kết giữa Ngân hàng TMCP Đ và ông Hồ Xuân H
1.2. Trường hợp ông Hồ Xuân H không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng TMCP Đ thì Ngân hàng TMCP Đ được quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền phát mãi tài sản thế chấp theo Hợp đồng thế chấp bất động sản số 408/2021/7267376/HĐBĐ ngày 21/6/2021 giữa Ngân hàng TMCP Đ với ông Hồ Xuân H.
Tài sản bảo đảm cụ thể như sau: Bất động sản và tài sản gắn liền với đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CY 855808 do Ủy ban nhân dân thành phố Đ cấp ngày 18/01/2021 đứng tên ông Hồ Xuân H.
1.3. Trường hợp số tiền phát mãi tài sản bảo đảm không đủ trả hết nợ thì ông Hồ Xuân H phải có nghĩa vụ tiếp tục trả nợ cho Ngân hàng TMCP Đ cho đến khi hết nợ.
1.4. Sau khi ông Hồ Xuân H hoàn tất nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng TMCP Đ có trách nhiệm trả lại cho ông Hồ Xuân H bản chính giấy tờ sau: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CY 855808 do Ủy ban nhân dân thành phố Đ cấp ngày 18/01/2021 đứng tên ông Hồ Xuân H.
2. Về chi phí tố tụng: Buộc ông Hồ Xuân H hoàn trả cho Ngân hàng TMCP Đ số tiền 600.000 đồng chi phí xem xét thẩm định tại chỗ.
3. Về án phí:
Hoàn trả cho Ngân hàng TMCP Đ (B) số tiền 51.750000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0000502 ngày ngày 01/8/2025 tại Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 1 – Lâm Đồng.
Buộc ông Hồ Xuân H phải chịu 106.815.979 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
4. Các đương sự có mặt tại phiên tòa nên được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014).
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Hương Trang |
9
Bản án số 107/2025/DS-ST ngày 24/10/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC I - LÂM ĐỒNG về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 107/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/10/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC I - LÂM ĐỒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: BIDV - Hoang
