|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 107/2025/DS-ST
Ngày: 09/6/2025
V/v Tranh chấp đòi tài sản.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Xuân Duyên
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Hồ Thị Lệ Thu;
- Bà Trần Thị Thanh Dung.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phương Thúy - Thư ký Tòa án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh: Bà Võ Thị Ngọc Châu – Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 6 năm 2025 tại phòng xử án Tòa án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số 563/2024/TLST-DS ngày 09/10/2024, về việc: “Tranh chấp đòi tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 139/2025/QĐXXST-DS ngày 25/4/2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 146/2025/QÐST-DS ngày 16/5/2025 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ông Lê Nhật T sinh năm 1979; địa chỉ: Số A Khu phố D, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo ủy quyền cho nguyên đơn: Ông Nguyễn Đức N sinh năm 1999; địa chỉ: Số A T, Phường H, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh (Giấy ủy quyền số công chứng 003669 ngày 17/06/2024 tại văn phòng C) (có mặt)
Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn: Bà Đặng Thị Việt T1 sinh năm 1978; địa chỉ: A T, Phường H, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh. (có mặt)
Bị đơn: ông Lương Trung Q sinh năm 1987, bà Nguyễn Thị Mai T2 sinh năm 1987; địa chỉ: Số nhà B Tháp M, đường N, Khu dân cư P Rạch B, phường P, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh. (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn trình bày:
Nguyên trước đây ông Lê Nhật T với vợ chồng ông Lương Trung Q (ông Q) và bà Nguyễn Thị Mai T2 (bà T2) là chỗ bạn bè quen biết và thân thiết. Ông T được biết vợ chồng ông Q, bà T2 là bên mua nhà ở xã hội thuộc dự án J, đường Đ, phường P, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh theo Hợp đồng mua bán nhà ở xã hội số: 789/2016/HĐNOXH – JAMONA CITY được ký kết giữa vợ chồng ông Q với Công ty Cổ phần Đ (ký ngày 12/05/2016) cụ thể: Số căn hộ: M1-24-19 (Tháp Bắc M, Tầng B, căn số 19); Diện tích thông thuỷ: 53,79 m².
Do có nhu cầu nhận chuyển nhượng lại căn hộ nói trên nên ngày 11 tháng 12 năm 2019, tại địa chỉ Số B Đường số A, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh, ông T với ông Q, bà T2 ký “Hợp đồng đặt cọc mua bán nhà ở xã hội” đối với căn hộ nói trên và đã nhận của ông T số tiền đặt cọc là 700.000.000 đồng. Việc thực hiện đặt cọc được lập Vi bằng tại Văn phòng T3 (theo Vi bằng số 6572/2019/VB-TPLQ5 ngày 11/12/2019), theo đó ông T đã giao cho ông Q, bà T2 đủ số tiền 700.000.000 đồng.
Đến tháng 01 năm 2021, căn hộ M được Cấp Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, Quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất ngày 27 tháng 01 năm 2021, số vào Sổ cấp GCN: CS 57210/04 do Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H. Do căn hộ là Nhà ở xã hội chưa đủ thời gian sở hữu theo quy định nên ông Q và bà T2 chưa làm thủ tục chuyển nhượng căn hộ cho ông T. Sau đó ông Q và bà T2 đã thế chấp căn hộ M1-24-19 tại Ngân hàng N1. Và để giải chấp căn hộ đang thế chấp tại Ngân hàng, ông Q và bà T2 vay thêm ông T số tiền 300.000.000 đồng. Cộng tiền đặt cọc mua căn hộ M và tiền ông Q và bà T2 vay là 1.000.000.000 đồng
Ngoài ra, trong thời gian trước đây, do chỗ anh em thân tình với nhau, những lúc cấp bách hay khó khăn vợ chồng ông Q đã vay ông T tiền nhiều lần để xử lý công việc, tuy nhiên đến này không hoàn trả cho ông T, cụ thể các khoản vay sau:
Thứ nhất, vay 190.000.000 đồng, bằng hình thức mượn thẻ tín dụng Ngân hàng Thương mại Cổ phần N1 và Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q1 của ông T để thanh toán vào các ngày: 05/12/2022, Số tiền sử dụng: 34.177.661 đồng; Ngày 05/12/2022 số tiền sử dụng: 51.706.241 đồng; Ngày 05/12/2022 số tiền sử dụng: 104.116.257 đồng; Ngày 10/12/2022 số tiền sử dụng: 9.900 đồng. Thứ hai, vay của ông T số tiền 265.000.000 đồng. Các khoản vay nêu trên được thể hiện tại Biên nhận thế chấp nhà mượn tiền được lập ngày 06 tháng 01 năm 2022. Tổng số tiền mà vợ chồng ông Q đã vay và nhận từ ông T là: 1.455.000.000 đồng.
Tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn có đơn xin rút yêu cầu khởi kiện của các khoản vay 190.000.000 đồng bằng hình thức mượn thẻ tín dụng Ngân hàng Thương mại Cổ phần N1 và Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q1 của ông T và khoản vay của ông T số tiền 265.000.000 đồng.
Với những nội dung nêu trên, kính đề nghị Tòa án Nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh giải quyết yêu cầu sau: Buộc ông Lương Trung Q và bà Nguyễn Thị Mai T2 thanh toán trả một lần cho ông Lê Nhật T ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật, tổng cộng số tiền là: 700.000.000 đồng. Buộc ông Lương Trung Q thanh toán trả một lần cho ông Lê Nhật T ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật, tổng cộng số tiền là: 300.000.000 đồng và không có yêu cầu tính lãi suất tại thời điểm thực hiện việc khởi kiện trên.
Bị đơn, ông Lương Trung Q và bà Nguyễn Thị Mai T2 vắng mặt trong suốt quá trình Tòa án giải quyết vụ án: Tòa án nhân dân Quận 7 đã nhiều lần triệu tập ông Lương Trung Q và bà Nguyễn Thị Mai T2 đến trụ sở Tòa án để giải quyết vụ kiện theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 nhưng ông Lương Trung Q và bà Nguyễn Thị Mai T2 vẫn vắng mặt không có lý do, không có ý kiến phản hồi mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ. Do đó, Tòa án không thể tiến hành lấy lời khai cũng như hòa giải theo quy định của pháp luật.
Ý kiến của Viện kiểm sát nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, nguyên đơn đã chấp hành theo quy định của pháp luật. Bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không thực hiện đúng những quy định tại các Điều 70, 72 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 (vắng mặt không lý do trong suốt toàn bộ quá trình giải quyết vụ án và vắng mặt tại phiên tòa mặc dù đã được triệu tập hợp lệ). Về thời hạn chuẩn bị xét xử đúng quy định tại Điều 203 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
-
Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:
Về tính chất tranh chấp, nguyên đơn ông Lê Nhật T khởi kiện bị đơn ông Lương Trung Q và bà Nguyễn Thị Mai T2 phải trả số tiền còn nợ là 700.000.000 đồng theo “Hợp đồng đặt cọc mua bán nhà ở xã hội” được xác nhận tại Vi bằng số 6572/2019/VB-TPLQ5 ngày 11/12/2019 của Văn phòng T3, đây là tranh chấp “hợp đồng đặt cọc”. Đồng thời, nguyên đơn yêu cầu bị đơn ông Lương Trung Q phải trả số tiền 300.000.000 đồng còn nợ theo “Biên nhận thế chấp nhà mượn tiền ngày 06/01/2022” thì đây là tranh chấp "hợp đồng vay tài sản".
Bị đơn ông Lương Trung Q và bà Nguyễn Thị Mai T2 cư trú tại địa chỉ: Căn hộ S Tháp M, đường N, Khu dân cư P Rạch B, phường P, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh nên theo quy định tại khoản 2 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 thì yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh.
-
Về hình thức
Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa, do đó Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
-
Về các yêu cầu của đương sự:
-
Nguyên đơn yêu cầu buộc ông Lương Trung Q và bà Nguyễn Thị Mai T2 thanh toán trả một lần cho ông Lê Nhật T ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật số tiền 700.000.000 đồng theo “Hợp đồng đặt cọc mua bán nhà ở xã hội”. Đồng thời, nguyên đơn yêu cầu buộc ông Lương Trung Q thanh toán trả một lần cho ông Lê Nhật T ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật số tiền 300.000.000 đồng theo “Biên nhận thế chấp nhà mượn tiền ngày 06/01/2022”. Nguyên đơn không yêu cầu tính lãi suất đối với các khoản tiền nêu.
Trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án, bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn không đến Tòa để giải quyết, không cung cấp chứng cứ, vắng mặt tại các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải và tại phiên tòa hôm nay nên Hội đồng xét xử căn cứ vào Khoản 2 Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì trình bày của nguyên đơn được chấp nhận mà không cần phải chứng minh do bị đơn đã không đưa ra chứng cứ chứng minh của mình theo quy định tại Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
-
Xét thấy, căn cứ theo nội dung “Hợp đồng đặt cọc mua bán nhà ở xã hội” được lập thành Vi bằng số 6572/2019/VB-TPLQ5 ngày 11/12/2019 của Văn phòng T3. Theo đó, ông Lương Trung Q và bà Nguyễn Thị Mai T2 đã nhận đủ 700.000.000 đồng theo biên nhận thế chấp nhà mượn ngày 06/01/2022 và Vi bằng số 6572/2019/VB-TPLQ5 ngày 11/12/2019 của Văn phòng T3. Hợp đồng đặt cọc là sự thỏa thuận hợp pháp, được xác lập dựa trên ý chí tự nguyện của các bên, không vi phạm điều cấm của pháp luật và đạo đức xã hội nên có giá trị pháp lý.
Tuy nhiên, theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 89 Luật Nhà ở số 27/2023/QH15 và Điều 40 Nghị định 100/2024/NĐ-CP ngày 01/10/2024, nhà ở xã hội chỉ được phép chuyển nhượng khi đã đủ thời gian tối thiểu là 5 năm kể từ thời điểm được cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu. Căn hộ nêu trên được cấp Giấy chứng nhận vào ngày 27/01/2021 (Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, Quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất, số vào Sổ cấp GCN: CS 57210/04 do Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H cấp ngày ngày 27/01/2021). Do đó, tại thời điểm khởi kiện và xét xử, căn hộ này vẫn chưa đủ điều kiện chuyển nhượng. Việc ông Q, bà T2 không thực hiện thủ tục chuyển nhượng là khách quan nhưng không làm vô hiệu thỏa thuận đặt cọc, vì đây là căn cứ xác lập nghĩa vụ hoàn trả nếu không thực hiện được hợp đồng chính. Khi bên nhận đặt cọc không thực hiện nghĩa vụ theo thỏa thuận. Xét thấy, yêu cầu của nguyên đơn là có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về yêu cầu buộc ông Lương Trung Q thanh toán trả một lần cho ông Lê Nhật T ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật số tiền 300.000.000 đồng. Căn cứ vào Biên nhận thế chấp nhà mượn tiền ngày 06/01/2022 được ký kết giữa Lê Nhật T và ông Lương Trung Q có đủ cơ sở xác định ông Lê Nhật T giữa ông Lương Trung Q có xác lập hợp đồng vay tài sản theo quy định tại Điều 463 Bộ luật Dân sự, ông Lương Trung Q xác nhận đã nhận đủ số tiền 300.000.000 đồng, theo Biên nhận thế chấp nhà mượn tiền ngày 06/01/2022 và các bên không có thỏa thuận về lãi suất. Hội đồng xét xử xác định yêu cầu của nguyên đơn về khoản vay này là có căn cứ pháp lý và chứng cứ xác thực, phù hợp với các quy định của pháp luật hiện hành.
Xét về các khoản vay khác, tại phiên tòa nguyên đơn đã có đơn xin rút yêu cầu khởi kiện đối với số tiền 190.000.000 đồng, đây là các khoản tiền mà ông T đã thanh toán thay cho bị đơn thông qua hình thức cho mượn thẻ tín dụng của hai ngân hàng gồm Ngân hàng Thương mại Cổ phần N1 và Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q1. Đồng thời, nguyên đơn cũng xin rút yêu cầu về khoản vay 265.000.000 đồng được thể hiện tại Biên nhận thế chấp nhà mượn tiền ngày 06/01/2022 do ông Lương Trung Q ký nhận. Hội đồng xét xử chấp nhận đơn rút yêu cầu của nguyên đơn và quyết định đình chỉ giải quyết các yêu cầu khởi kiện nêu trên, đảm bảo tuân thủ đúng quy định pháp luật về quyền và nghĩa vụ của các bên trong quan hệ tố tụng.
-
Về thời hạn trả nợ: Nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải trả số tiền nợ làm một lần ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật. Xét thấy, bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên yêu cầu này của nguyên đơn là có cơ sở chấp nhận.
-
Nguyên đơn không yêu cầu tính lãi nên Hội đồng xét xử không xem xét
-
Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn là phù hợp với phân tích, nhận định trên của Hội đồng xét xử.
-
Về án phí: Bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.
-
Về quyền kháng cáo: Các bên đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn luật định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, Điều 91, Điều 92, Điều 147, khoản 1 Điều 207, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 266 và khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ vào Điều 357, Điều 463, Điều 466, Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015;
Căn cứ Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 năm 2015 và Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội;
Căn cứ Luật Thi hành án dân sự năm 2008 sửa đổi, bổ sung năm 2014.
Xử:
-
Về hình thức: Xử vắng mặt bị đơn - ông Lương Trung Q và bà Nguyễn Thị Mai T2.
-
Về nội dung:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn – ông Lê Nhật T:
Buộc ông Lương Trung Q và bà Nguyễn Thị Mai T2 phải thanh toán ông Lê Nhật T, số tiền là 700.000.000 đồng.
Buộc ông Lương Trung Q phải thanh toán cho ông Lê Nhật T, số tiền là 300.000.000 đồng.
Trả ngay 01 lần khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015. Thi hành tại cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.
-
Về án phí dân sự sơ thẩm:
Bị đơn ông Lương Trung Q và bà Nguyễn Thị Mai T2 phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm là: 32.000.000 đồng.
Bị đơn ông Lương Trung Q phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm là: 15.000.000 đồng
Hoàn trả lại cho nguyên đơn, ông Lê Nhật T số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 27.825.000 đồng theo biên lai số 0019876 ngày 09/10/2024 của Chi cục thi hành án dân sự Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh.
-
Về quyền kháng cáo, kháng nghị:
Nguyên đơn được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh trong hạn 15 ngày tính từ ngày Tòa tuyên án. Các đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh trong hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt theo quy định của pháp luật.
Viện kiểm sát được quyền kháng nghị theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 1, 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014.
|
Nơi nhận:
TAND QUẬN 7 DG0090625.TL.QDBA 1442 |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Xuân Duyên |
Bản án số 107/2025/DS-ST ngày 09/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp đòi tài sản
- Số bản án: 107/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp đòi tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 09/06/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
