|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH TRÌ THÀNH PHỐ HÀ NỘI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 107/2024/HSST Ngày: 10/6/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH TRÌ THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- - Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Bảo Long
- - Các hội thẩm nhân dân:
- 1. Ông Nguyễn Đức Thành
- 2. Ông Hoàng Văn Long
- - Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Đỗ Thị Minh Hiếu - Cán bộ Toà án nhân dân huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội.
- - Đại diện Viện Kiểm sát Nhân dân huyện Thanh trì, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Tô Thu Thủy - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 6 năm 2024 Toà án nhân dân huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 119/2024/TLST - HS ngày 28 tháng 5 năm 2024; Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 119/2024/QĐXXST - HS ngày 29 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Ngọc T; Sinh năm: 1998, tại Hà Nội; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Nơi ĐKHKTT và nơi ở hiện tại: Cụm A, thôn Q, xã V, huyện T, thành phố Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 07/12;
Họ tên cha: Nguyễn Quốc H (sinh năm: 1979); Họ tên mẹ: Phạm Thị H1 (Sinh năm: 1979), Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất; Họ tên vợ: Trần Mai L (Sinh năm: 1994); Bị cáo có 01 con sinh năm 2022; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt quả tang ngày 12/3/2024; Hiện đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ – Công an huyện T, thành phố Hà Nội. (Có mặt tại phiên tòa).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Trần Đình Đ; Sinh năm: 1998; HKTT: Xóm A Q, xã V, huyện T, thành phố Hà Nội. (Vắng mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Bị cáo Nguyễn Ngọc T bị Viện kiểm sát Nhân dân huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội truy tố về hành vi phạm tội như sau:
Hồi 13 giờ 35 phút ngày 12/03/2024, Công an xã V đang làm nhiệm vụ tuần tra kiểm soát tại khu vực Cụm A Q, V, T, Hà Nội thì phát hiện Nguyễn Ngọc T và Trần Đình Đ có biểu hiện nghi vấn nên đã tiến hành kiểm tra hành chính. Quá trình kiểm tra, Đ tự nguyện giao nộp từ trong túi áo trước bụng Đ đang mặc 01 gói nilon màu trắng bên trong chứa thảo mộc khô. Tại chỗ, Đ và T khai nhận thảo mộc khô bên trong gói nilon màu trắng là ma túy Cần sa T vừa bán cho Đ với giá 200.000 đồng. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ tang vật và đưa T và Đ về trụ sở giải quyết.
Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Ngọc T khai: Khoảng 12 giờ ngày 10/03/2024, T ngồi uống nước ở một quán nước tại khu vực nhà văn hóa thôn Í, V, T, Hà Nội (T không nhớ vị trí quán nước ở đâu, ai bán). Tại đây, T đã gặp và mua của một nam thanh niên không quen biết 04 gói nilon bên trong chứa ma túy cần sa với giá 600.000 đồng (150.000 đồng/1 gói). Sau khi mua ma túy xong, T mang 04 gói ma túy vừa mua được về nhà và sử dụng hết 03 gói, còn lại 01 gói.
Khoảng 13 giờ 15 phút ngày 12/03/2024, Trần Đình Đ (sinh năm: 1998; địa chỉ: Xóm A Q, V, T, Hà Nội) gọi điện thoại cho T để hỏi mua ma túy cần sa thì T đồng ý bán cho Đ 01 gói ma túy cần sa với giá 200.000 đồng (T hưởng lợi 50.000 đồng) và hẹn gặp nhau tại gốc cây bồ đề thuộc Cụm A, Q, V, T, Hà Nội.
Khoảng 13 giờ 35 phút cùng ngày, T đi bộ đến chỗ hẹn và gặp Đ ở đó. T lấy từ trong túi áo khoác 01 gói nilon bên trong chứa ma túy cần sa đưa cho Đ, Đ cầm gói ma túy sau đó cất vào trong túi áo trước bụng rồi đưa cho T một cọc tiền lẻ mệnh giá khác nhau thì T bảo Đ về chuyển khoản cho T sau. Cả hai chuẩn bị đi về thì bị Tổ công tác Công an xã V kiểm tra.
Cơ quan Công an thu giữ của T 01 điện thoại Xiaomi 11 màu đen, 01 sim điện thoại Viettel có số 0394.611.xxx; thu giữ của Đ 01 điện thoại Realme C55 màu bạc ánh kim, 01 sim điện thoại có số 0865.788.xxx và số tiền 200.000 đồng.
Hồi 10 giờ ngày 13/03/2024, Cơ quan CSĐT – Công an huyện T tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Ngọc T tại Cụm A, Q, V, T, Hà Nội, Hà Nội, kết quả: không phát hiện thu giữ được gì.
Ngày 12/03/2024, Cơ quan CSĐT – Công an huyện T đã tiến hành trưng cầu giám định số ma túy thu giữ của Trần Đình Đ.
Tại bản kết luận giám định số 2029/KL-KTHS ngày 21/03/2024 của Phòng K - Công an thành phố H kết luận: “Thảo mộc khô bên trong 01 gói ni lông là Cần sa, khối lượng: 2,904 gam" Cơ quan giám định đã sử dụng 0,566 gam ma túy Cần sa trong tổng số 2.904 gam để làm mẫu giám định, còn lại 2,338 gam Cần sa hoàn trả cho Cơ quan CSĐT – Công an huyện T.
Kết quả xét nghiệm ma túy trong cơ thể của T và Đ xác định: T và Đ dương tính với ma túy.
Quá trình điều tra, Nguyễn Ngọc T khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên. Lời khai của T phù hợp với các tài liệu do Cơ quan điều tra thu thập được.
Đối với Trần Đình Đ sử dụng số tiền 200.000 đồng để mua 2,904 gam ma túy Cần sa của T với mục đích sử dụng cho bản thân, Đ chưa có tiền án, tiền sự. Khối lượng ma túy cần sa Đ tàng trữ không đủ để truy cứu trách nhiệm hình sự nên ngày 24/05/2024, Công an huyện T đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số tiền 3.500.000 đồng đối với Đ về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy.
Đối với người đàn ông bán ma túy cho T, do T khai nhận không biết tên tuổi, địa chỉ và đặc điểm nhận dạng của những người này nên Cơ quan Điều tra không có căn cứ để xử lý.
Đối với 01 điện thoại Xiaomi 11 màu đen bên trong lắp sim số 0394.611.583 là tài sản của T; 01 điện thoại Realme C55 màu bạc ánh kim bên trong lắp sim số 0865.788.081, số tiền 200.000 đồng là tài sản của Đ, được sử dụng vào việc mua bán trái phép chất ma túy nên cần phải tiếp tục tạm giữ để giải quyết theo quy định của pháp luật.
Tại bản cáo trạng số 117/CT-VKSTT ngày 28/5/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội truy tố bị cáo Nguyễn Ngọc T về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Ngọc T đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã khai nhận tại cơ quan điều tra. Bị cáo thừa nhận nội dung bản cáo trạng truy tố là đúng, có thái độ ăn năn hối cải và mong hội đồng xét xử xử phạt mức án nhẹ nhất.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan – Anh Trần Đình Đ vắng mặt tại phiên tòa, Hội đồng xét xử công bố lời khai của anh Đ tại Cơ quan điều tra.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội sau khi đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, phân tích các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ cần áp dụng đối với bị cáo, vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo tại bản cáo trạng và đề nghị hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, tuyên bố bị cáo Nguyễn Ngọc T phạm tội mua bán trái phép chất ma túy, đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc T mức án từ 24 đến 26 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 12/3/2024; Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo;
Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự:
Tịch thu tiêu hủy 2,338 gam thảo mộc khô là ma túy loại cần sa còn lại sau giám định;
Tịch thu sung công: 01 điện thoại Xiaomi 11 màu đen lắp sim số 0394.611.583 là tài sản của T; 01 điện thoại Realme C55 màu bạc ánh kim lắp sim số 0865.788.081 là tài sản của Đ; Số tiền 200.000 đồng thu giữ của Trần Đình Đ.
Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên toà; Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, lời khai của bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan...
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ NHẬN ĐỊNH
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận huyện T, điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi hoặc quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người làm chứng, biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, bản kết luận giám định và toàn bộ các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Có đủ cơ sở để kết luận: Hồi 13 giờ 35 phút ngày 12/3/2024, tại khu vực giãn dân thuộc Cụm A, thôn Q, xã V, huyện T, Hà Nội Nguyễn Ngọc T đã có hành vi bán cho Trần Đình Đ 01 gói nilon màu trắng bên trong chứa ma túy loại Cần sa có tổng khối lượng 2,904 gam với giá 200.000 đồng, hành vi của bị cáo đã phạm vào tội mua bán trái phép chất ma túy theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự 2015. Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh trì, thành phố Hà Nội truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm sự quản lý độc quyền của nhà nước đối với ma túy. Bị cáo là người trưởng thành, có nhận thức, về tác hại của ma túy nhưng vẫn không làm chủ được bản thân, đua đòi cố tình vi phạm pháp luật, mua bán trái phép chất ma túy để kiếm lời. Ma túy được mệnh danh là cái chết trắng đang từng ngày từng giờ xâm nhập vào cộng đồng, là nguyên nhân gây nên căn bệnh AIDS vô phương cứu chữa, phá hủy hạnh phúc của biết bao gia đình và làm băng hoại giống nòi. Cả xã hội đang chung tay từng bước đẩy lùi vấn nạn này ra khỏi đời sống. Do vậy, cần phải áp dụng hình phạt tù nghiêm khắc, tương xứng với hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội và đáp ứng nhu cầu đấu tranh phòng ngừa tội phạm nói chung.
[3] Các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.
Khi lượng hình, Hội đồng xét xử có xem xét các tình tiết: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải với hành vi phạm tội của mình; Nhân thân bị cáo chưa có tiền án tiền sự đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ một phần mức hình phạt cho bị cáo và thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.
Tình tiết tăng nặng: Không.
[4] Về hình phạt bổ sung : Bị cáo hiện không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[5] Về xử lý vật chứng:
Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong dán kín còn nguyên vẹn bên trong có 2,338 gam thảo mộc khô là ma túy loại cần sa còn lại sau giám định bên ngoài có chữ ký của Nguyễn Ngọc T, Trần Đình Đ, giám định viên Tạ Thùy L1, cán bộ Lê Sơn T1;
Đối với 01 điện thoại Xiaomi 11 màu đen lắp sim số 0394.611.583 là tài sản của T, 01 điện thoại Realme C55 màu bạc ánh kim lắp sim số 0865.788.081 là tài sản của Đ đều được sử dụng vào việc phạm tội nên cần tịch thu sung công.
Đối số tiền 200.000 đồng thu giữ của Trần Đình Đ là số tiền Đ dùng để mua ma túy cần sa của T, cần tịch thu sung công.
[6] Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Từ những nhận định trên ;
QUYẾT ĐỊNH
1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Ngọc T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
2. Áp dụng: Khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 47 Bộ luật Hình sự 2015;
Áp dụng: Các Điều 106;135; 331; 333; 336 Bộ luật tố tụng Hình sự 2015;
Áp dụng: Luật phí và lệ phí; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, danh mục án phí ban hành kèm theo.
3. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Ngọc T 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 12/3/2024.
Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
4. Về xử lý vật chứng:
Tịch thu tiêu hủy 01 (một) phong bì niêm phong bên ngoài phong bì có chữ ký niêm phong của giám định viên Tạ Thùy L1, cán bộ công an xã V - L và đối tượng Nguyễn Ngọc T, Trần Đình Đ bên trong có 2,338 gam ma túy cần sa (còn lại sau giám định).
Tịch thu sung công 01 (một) điện thoại di động kiểu dáng Xiaomi 11 màu đen đã qua sử dụng bên trong gắn sim số 0394.611.583 (không kiểm tra chất lượng) và 01 (một) điện thoại Realme C55 màu bạc ánh kim đã qua sử dụng bên trong gắn sim số 0865.788.081 (không kiểm tra chất lượng).
Toàn bộ vật chứng trên hiện đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội theo biên bản giao nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 08/6/2024.
Tịch thu sung công 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) thu giữ của Trần Đình Đ, hiện đang được lưu giữ tại tài khoản số 3949.0.1048094 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thanh Trì, Hà Nội tại Kho bạc nhà nước huyện T – 0171020 theo Ủy nhiệm chi số 92 lập ngày 10/6/2024.
5. Về án phí và quyền kháng cáo:
Bị cáo Nguyễn Ngọc T phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ nhận được bản sao của bản án hoặc kể từ ngày bản sao bản án được niêm yết hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
THAY MẶT HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Bảo Long |
Bản án số 107/2024/HSST ngày 10/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH TRÌ THÀNH PHỐ HÀ NỘI về mua bán trái phép chất ma túy (hình sự)
- Số bản án: 107/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy (Hình sự)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH TRÌ THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo T có hành vi bán cho Đ 01 gói nilong bên trong chứa ma túy Cần Sa
