Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 107/2024/HS-ST
Ngày: 31-7-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Phương Thảo.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Huỳnh Công Nhân;

2. Bà Trương Thị Đạt.

Thư ký phiên tòa: Ông Đào Tấn Sang - Thư ký Toà án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Hồng Gấm - Kiểm sát viên.

Trong ngày 31 tháng 7 năm 2024 tại phòng Xử án Tòa án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh đã mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 112/2024/HSST ngày 27/6/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 130/2024/QĐXXST-HS ngày 15/7/2024 đối với bị cáo họ và tên:

Nguyễn Văn H, tên gọi khác: /; giới tính: Nam; sinh năm 1968 tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Số B đường Đ, Phường A, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh; nơi cư trú: Nhà không số, Tổ A, Ấp D, xã N, huyện N, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Tài xế xe ôm; trình độ học vấn: Lớp 0/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Phật; con ông không rõ và bà Nguyễn Thị B (đã chết); Có vợ đã ly hôn và có 01 con tên Nguyễn Anh D, sinh năm 2007; tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp tạm giữ từ ngày 24/11/2023 đến ngày 03/12/2023; Bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 03/12/2024 đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Bị hại: Ông Trương T, sinh ngày 1980; Hộ khẩu thường trú: TT đại học mỏ địa chất, TDP số 7, Đ, quận B, Thành phố Hà Nội; Nơi ở hiện nay: 14 Ngõ E phố L, phường Đ, quận B Thành phố Hà Nội (Vắng mặt)

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

- Ông Nguyễn Minh N, sinh năm 1983; Hộ khẩu thường trú: Số B đường Đ, Phường A, Quận D, Thành phố H; Nơi ở hiện tại: Số C đường Đ, Phường A, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh . (Có mặt)

- Bà Nguyễn Thị Kim N1, sinh năm 1994; Hộ khẩu thường trú: Số B đường Đ, Phường A, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi ở hiện tại: Số C đường L, xã P, huyện N, Thành phố Hồ Chí Minh. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 06 giờ 30 phút ngày 22/11/2023, Nguyễn Văn H đứng đợi khách chạy xe ôm tại góc đường N giao với đường N (đối diện siêu thị L) phường T, Quận G. H nhìn thấy anh Trương T vừa xuống xe ô tô trước chung cư Sunrise City . Hồng điều khiển xe Wave Alpha màu đỏ, biển số: 59C3 – 149.09 đến hỏi anh T có đi xe ôm hay không, anh T đồng ý. Trước khi lên xe, anh T đưa cho H một túi xách màu đen, H để trên ba ga xe. H chở anh T đến trước chung cư S, đường L, phường P, Quận G. Khi đến nơi, anh T xuống xe, kêu H đợi để anh T gọi người xuống lấy đồ, còn túi xách anh T nhờ H giữ dùm. Anh T đi vào chung cư, Hồng điều khiển xe sang đường quay đầu ngược chiều lại và đứng đợi anh T được khoảng 10 phút. Lúc này, H nảy sinh ý định chiếm đoạt túi xách của anh T, nên điều khiển xe tẩu thoát, chiếm đoạt tài sản là túi xách đang giữ hộ cho anh T. Khoảng 15 giờ ngày 22/11/2023, H mở túi xách thấy bên trong có một laptop và một cái bóp da màu nâu. H lấy laptop ra ngoài và mở bóp thấy bên trong có 2.000.000 đồng cùng nhiều giấy tờ, H lấy 2.000.000 đồng còn bóp và giấy tờ bỏ lại vào túi xách. H đem laptop đến tiệm “Mua bán, sửa chữa điện thoại Nguyễn N1” ở Quận D. Khi bán laptop cho anh Nguyễn Minh N, H nói là laptop của H. Anh N mua với giá 2.500.000 đồng. Số tiền trên H tiêu xài cá nhân hết.

Anh Trương T bị chiếm đoạt tài sản, đến Công an phường P, Quận G trình báo. Qua truy xét, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Q đã xác minh làm rõ, tạm giữ đối với Nguyễn Văn H, khởi tố xử lý.

Tại Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Q, Nguyễn Văn H khai nhận hành vi phạm tội của mình.

Kết luận định giá tài sản số 352 ngày 28/11/2023 của Hội đồng định giá tài sản tố tụng hình sự Ủy ban nhân dân quận G kết luận: Giá trị chiếc máy tính hiệu HP Spectre X360 Core i7 – 8565U ram 16Gb, 512Gb màu xanh lam đã qua sử dụng có giá trị 18.000.000 đồng; 01 túi xách nhãn hiệu Hindul Lifestyles, màu đen, kích thước 60cm x 30 cm x 40 cm, đã qua sử dụng có giá trị 1.316.000 đồng; 01 ví da cầm tay không có nhãn hiệu, màu nâu, kích thước 10 cm x 20 cm, đã qua sử dụng có giá trị 568.000 đồng.

Kết luận định giá tài sản số 166 ngày 14/6/2024 của Hội đồng định giá tài sản tố tụng hình sự Ủy ban nhân dân quận G kết luận: 01 chai nước hoa hiệu Polo năm 2021, đang sử dụng có giá trị 313.000 đồng; 04 hũ hạt cà phê, mỗi hũ nặng 250 gr/hũ, chưa qua sử dụng có giá trị 250.000 đồng; 03 chìa khóa xe ô tô đã qua sử dụng, không rõ nhãn hiệu, không xác định được giá trị mua bán và 06 con dấu gồm 04 dấu tròn 02 dấu tên đã qua sử dụng, không có giá trị mua bán. Hội đồng không có cơ sở xác định giá trị mua bán của tài sản.

Tổng giá trị là: 20.447.000 đồng.

* Vật chứng vụ án:

+ 01 (một) máy tính xách tay hiệu HP Spectre X360 màu xanh lam. Đây là tài sản Nguyễn Minh N mua lại của đối tượng H. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Q đã thu giữ trả lại cho anh T.

+ 01 (một) túi xách nhãn hiệu HinDul, màu đen, đã qua sử dụng có kích thước 60x30x40cm là tài sản do đối tượng H chiếm đoạt của anh T. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Q đã trả lại cho anh T.

2

+ 01 (một) ví da cầm tay, màu nâu, đã qua sử dụng có kích thước 10x20cm, là tài sản do đối tượng H chiếm đoạt của anh T. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Q đã trả lại cho anh T.

+ 01 hộ chiếu, 01 CCCD, 01 giấy phép lái xe tên Trương Thành đ bên trong ví da của anh T, là tài sản mà đối tượng H chiếm đoạt. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Q đã trả lại cho anh T.

+ 01 chai nước hoa, 03 chìa khóa xe ô tô, 06 con dấu, 04 hũ cà phê không nhãn hiệu. Đây là tài sản bên trong túi xách nhãn hiệu HinDul của anh T mà đối tượng H chiếm đoạt. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Q đã trả lại cho anh T.

+ 01 (một) xe gắn máy hiệu Honda Wave màu đỏ đen, biển số: 59C3-14909, số khung: R1HHC09086Y246317, số máy: HC09E6246308. Đây là xe H sử dụng khi chở anh T. Qua xác minh chiếc xe do chị Nguyễn Thị Kim N1 đứng tên chủ sở hữu. Chị N1 cho H mượn để làm phương tiện chạy xe ôm, không biết H sử dụng vào việc thực hiện hành vi phạm tội. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Q đã trả lại xe cho chị N1.

+ 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 6, màu trắng đã qua sử dụng, số seri F19PXG5MG5MG. Đây là điện thoại của H sử dụng để liên lạc cá nhân. H chay xe ôm không thông qua app. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Q đã trả lại cho H.

+ 01 nón bảo hiểm màu trắng sọc trắng trên nón ghi trường Đại học N2, 01 áo thun dài tay màu xanh trên áo ghi chữ G1. Đây là trang phục mà đối tượng H mặc khi chở anh T. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Q đã trả lại cho H.

+ Số tiền 2.000.000 đồng. Đây là số tiền trong ví da của anh T mà đối tượng H đã chiếm đoạt. Gia đình Nguyễn Văn H đã tự nguyện nộp lại. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Q đã nộp vào tài khoản Công an Q, số tài khoản 6160431101100070 ngân hàng A chi nhánh N3.

* Về dân sự:

· Anh Trương T yêu cầu nhận lại số tiền 2.000.000 đồng mà bị cáo Nguyễn Văn H đã tự nguyện nộp lại, ngoài ra không có yêu cầu gì khác.

· Anh Nguyễn Minh N không yêu cầu bị cáo Nguyễn Văn H bồi thường số tiền 2.500.000 đồng, là tiền anh N đã mua laptop của H.

Bản Cáo trạng số 100/CT-VKSQ7 ngày 26/6/2024 Viện kiểm sát nhân dân Quận 7 đã truy tố bị cáo về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 1 Điều 175 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa:

- Bị cáo khai nhận các hành vi phạm tội như bản Cáo trạng truy tố,

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Minh N không yêu cầu bị cáo trả lại số tiền 2.500.000 đồng, là tiền ông N đã mua tài sản do bị cáo phạm tội mà có.

Trong phần tranh luận đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 7 vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:

- Tuyên bố bị cáo phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”;

- Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 175; áp dụng điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo từ 06 (Sáu) tháng tù đến 01 (Một) năm tù.

3

- Về trách nhiệm dân sự:

Ông Trương T yêu cầu nhận lại số tiền 2.000.000 (Hai triệu) đồng mà bị cáo đã tự nguyện nộp lại, ngoài ra không có yêu cầu gì khác, nên đề nghị trả lại cho ông T số tiền trên.

Ông Nguyễn Minh N không yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 2.500.000 đồng nên đề nghị không xét.

- Xử lý vật chứng theo quy định

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Q, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 7, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Qúa trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, các đương sự không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Căn cứ lời khai nhận tội của bị cáo trong quá trình điều tra và tại phiên tòa; kết hợp với các tài liệu, chứng cứ thu thập được có trong hồ sơ vụ án, xét có đủ cơ sở để kết luận: Vào khoảng 06 giờ 30 phút ngày 22 tháng 11 năm 2023, tại trước chung cư S, đường L, phường P, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh, bị cáo Nguyễn Văn H đã lợi dụng sự tin tưởng, tín nhiệm của ông Trương T để chiếm đoạt 01 túi xách của ông T. Trong túi xách nhãn hiệu HinDul, màu đen của ông T có: một máy tính xách tay hiệu HP Spectre X360 màu xanh lam, một ví da cầm tay màu nâu, một hộ chiếu, một căn cước công dân, một giấy phép lái xe, một chai nước hoa hiệu Polo, 03 chìa khóa xe ô tô, 06 con dấu, 04 hũ cà phê và tiền mặt 2.000.000 đồng.

Căn cứ Kết luận định giá tài sản số 352 ngày 28/11/2023 của Hội đồng định giá tài sản tố tụng hình sự Ủy ban nhân dân quận G kết luận: “Giá trị chiếc máy tính hiệu HP Spectre X360 Core i7 – 8565U ram 16Gb, 512Gb màu xanh lam đã qua sử dụng có giá trị 18.000.000 đồng; 01 túi xách nhãn hiệu Hindul Lifestyles, màu đen, kích thước 60cm x 30 cm x 40 cm, đã qua sử dụng có giá trị 1.316.000 đồng; 01 ví da cầm tay không có nhãn hiệu, màu nâu, kích thước 10 cm x 20 cm, đã qua sử dụng có giá trị 568.000 đồng”.

Kết luận định giá tài sản số 166 ngày 14/6/2024 của Hội đồng định giá tài sản tố tụng hình sự Ủy ban nhân dân quận G kết luận: “01 chai nước hoa hiệu Polo năm 2021, đang sử dụng có giá trị 313.000 đồng; 04 hũ hạt cà phê, mỗi hũ nặng 250 gr/hũ, chưa qua sử dụng có giá trị 250.000 đồng; 03 chìa khóa xe ô tô đã qua sử dụng, không rõ nhãn hiệu, không xác định được giá trị mua bán và 06 con dấu gồm 04 dấu tròn 02 dấu tên đã qua sử dụng, không có giá trị mua bán. Hội đồng không có cơ sở xác định giá trị mua bán của tài sản”

Tổng tài sản bị cáo chiếm đoạt là 22.447.000 (Hai mươi hai triệu bốn trăm bốn mươi bảy ngàn) đồng.

4

Do đó, hành vi của bị cáo Nguyễn Văn H đã phạm vào tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”. Tội phạm và hình phạt quy định tại điểm a khoản 1 Điều 175 Bộ luật Hình sự 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xét hành vi của bị cáo đã xâm hại đến quyền sở hữu về tài sản của người khác, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội. Do đó, phải xử lý nghiêm nhằm răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

[3] Về các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[4] Về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, đã tự nguyện bồi thường thiệt hại. Vì vậy, Hội đồng xét xử áp dụng điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Bị cáo phạm tội lần đầu, nhân thân chưa có tiền án, tiền sự, bị cáo đã tự nguyện bồi thường số tiền chiếm đoạt, bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Đối chiếu với quy định tại Văn bản hợp nhất (Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 và Nghị quyết số 01/2022/NQ –HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao) số 02/VBHN -TANDTC ngày 07/9/2022 về Nghị quyết hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ Luật hình sự quy định về: Điều kiện cho người bị kết án phạt tù được hưởng án treo của Tòa án nhân dân tối cao, Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo có đủ điều kiện cho cải tạo ngoài xã hội theo hướng dẫn tại Nghị quyết nêu trên. Do đó, không nhất thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội, mà cho bị cáo hưởng án treo theo Điều 65 của Bộ luật hình sự 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 là thể hiện chính sách pháp luật hình sự nhân đạo của Nhà nước, giúp họ yên tâm cải tạo, trở thành người có ích cho gia đình và xã hội.

[5] Về trách nhiệm dân sự:

Bị hại đã nhận lại tài sản là túi xách nhãn hiệu HinDul màu đen, một máy tính xách tay hiệu HP Spectre X360 màu xanh lam, một ví da cầm tay màu nâu, một hộ chiếu, một căn cước công dân, một giấy phép lái xe, một chai nước hoa hiệu Polo, 03 chìa khóa xe ô tô, 06 con dấu, 04 hũ cà phê; Đối với số tiền 2.000.000 đồng bị hại yêu cầu nhận lại. Trong quá trình điều tra bị cáo đã tự nguyện nộp lại số tiền trên và Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Q đã nộp vào tài khoản Công an Q, số tài khoản 6160431101100070 ngân hàng A chi nhánh N3 nên xét trả lại số tiền 2.000.000 đồng cho ông Trương T.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Nguyễn Minh N không yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 2.500.000 đồng, là tiền ông N đã mua tài sản do bị cáo phạm tội mà có nên Hội đồng xét xử không xét.

[6] Xử lý vật chứng vụ án:

+ 01 (một) máy tính xách tay hiệu HP Spectre X360 màu xanh lam; 01 (một) túi xách nhãn hiệu HinDul, màu đen, đã qua sử dụng có kích thước 60x30x40cm; 01 (một) ví da cầm tay, màu nâu, đã qua sử dụng có kích thước 10x20cm; 01 hộ chiếu, 01 CCCD, 01 giấy phép lái xe tên Trương T; 01 chai nước hoa; 03 chìa khóa xe ô tô, 06 con dấu, 04 hũ cà phê không nhãn hiệu. Đây là tài sản bên trong túi xách nhãn hiệu HinDul của bị hại mà bị cáo đã chiếm đoạt. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Q đã trả lại cho ông Trương T. Ông Trương T đã nhận lại tài sản theo Quyết định xử lý vật

5

chứng số 121/QĐ-CSĐT-(HS) ngày 01/12/2023 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q nên Hội đồng xét xử không xem xét.

+ 01 (một) xe gắn máy hiệu Honda Wave màu đỏ đen, biển số: 59C3-14909, số khung: R1HHC09086Y246317, số máy: HC09E6246308. Đây là xe bị cáo sử dụng khi chở bị hại. Qua xác minh chiếc xe do chị Nguyễn Thị Kim N1 đứng tên chủ sở hữu. Chị N1 cho bị cáo mượn để làm phương tiện chạy xe ôm, không biết bị cáo sử dụng vào việc thực hiện hành vi phạm tội. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Q đã trả lại xe cho bà N1. Bà Nguyễn Thị Kim N1 đã nhận lại tài sản theo Quyết định xử lý vật chứng số 121/QĐ-CSĐT-(HS) ngày 01/12/2023 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q nên Hội đồng xét xử không xem xét.

+ 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 6, màu trắng đã qua sử dụng, số seri F19PXG5MG5MG. Đây là điện thoại của bị cáo sử dụng để liên lạc cá nhân. Bị cáo chay xe ôm không thông qua app; 01 nón bảo hiểm màu trắng sọc trắng trên nón ghi trường Đại học N2, 01 áo thun dài tay màu xanh trên áo ghi chữ G1. Đây là trang phục mà bị cáo mặc khi chở bị hại. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Q đã trả lại cho bị cáo. Bị cáo đã nhận lại tài sản theo Quyết định xử lý vật chứng số 121/QĐ-CSĐT-(HS) ngày 01/12/2023 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[7] Đối với Nguyễn Minh N là chủ cửa hàng Mua bán sửa chữa điện thoại di động Nguyễn N, là người đã mua laptop do bị cáo mang đến, khi bị cáo bán máy cho N thì bị cáo nói là máy vi tính của nhà không sử dụng mang đi bán, N không biết đây là tài sản do bị cáo phạm tội mà có nên hành vi của N không đủ yếu tố cấu thành tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q không xử lý hình sự đối với N là có căn cứ.

[8] Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản ".

1. Căn cứ vào điểm a Khoản 1 Điều 175; Điểm b, i, s Khoản 1 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn H 12 (Mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 24 (Hai mươi bốn) tháng kể từ ngày tuyên án.

Giao bị cáo Nguyễn Văn H cho Ủy ban nhân dân xã N, huyện N, Thành phố Hồ Chí Minh nơi bị cáo cư trú giám sát và giáo dục. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát giáo dục bị cáo trong thời gian thi hành án treo và thử thách. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 luật Thi hành án Hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo theo quy định tại khoản 5 Điều 65 Bộ luật hình sự.

2. Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 2015 tuyên:

Trả lại cho ông Trương T số tiền 2.000.000 (Hai triệu) đồng mà Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Q đã nộp vào tài khoản Công an Q, số tài khoản 6160431101100070 ngân hàng A chi nhánh N3 (Theo Lệnh thanh toán số tham chiếu 2420410304480142 vào tài khoản số 6160431101100070 của Công an Q tại mở tại Ngân hàng N4)

3. Về án phí: Căn cứ vào các Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Luật phí, lệ phí và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (hai trăm ngàn) đồng.

4. Về quyền và nghĩa vụ thi hành án: Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 được sửa đổi bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

5. Về quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày Tòa tuyên án, bị cáo, đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm đến Tòa án nhân dân Tp. Hồ Chí Minh. Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt bản án.

Đã giải thích chế định án treo cho bị cáo tại phiên tòa.

TM. HÔI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Lê Phương Thảo

7

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 107/2024/HS-ST ngày 31/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

  • Số bản án: 107/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 31/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: NGUYEN VAN H - Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger