|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẨM LỆ - TP. ĐÀ NẴNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 107/2024/HS-ST Ngày: 05/12/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẨM LỆ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Bàng
Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Trình
Ông Mai Văn Du
Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Nguyên Khang –Thư ký Tòa án nhân dân quận Cẩm Lệ, TP. Đà Nẵng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Cẩm Lệ tham gia phiên toà: Ông Tề Hoàng Anh Tuấn - Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 12 năm 2024, tại nhà sinh hoạt cộng đồng Khu dân cư S phường H, quận C; Tòa án nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 94/2024/TLST-HS ngày 16 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 103/2024/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn T, sinh ngày: 10/01/1999 tại Quảng Trị. Nơi thường trú: Tiểu khu D, thị trấn Á, huyện T, tỉnh Quảng Trị. Nơi cư trú: B T, phường H, quận L, Tp .. Nghề nghiệp: Lao động phổ thông; trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn B và con bà Thị H; Có vợ là Nguyễn Thị Ái H1 (đã ly hôn) và có 01 con sinh năm 2020. Tiền án, tiền sự: Không;
Nhân thân: Ngày 05/01/2017 bị TAND huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị xử phạt 01 năm về tội “Cướp giật tài sản”.
Ngày 25/02/2021 bị UBND thị trấn Á, huyện T, tỉnh Quảng Trị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh nhau với người khác.
Bị cáo hiện đang bị tạm giam từ ngày 19/7/2024. Có mặt tại phiên tòa.
Những người tham gia tố tụng:
- Bị hại:
+ Đỗ Thị Mỹ H2, sinh năm 1981. Cùng địa chỉ: Thôn E, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Nam. Vắng mặt.
+ Trương Lan Vi, sinh năm 1997. Địa chỉ: Thôn A, xã T huyện T, tỉnh Quảng Nam. Có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
+ Ông C, sinh năm 1994. Địa chỉ: Tổ C, phường T, quận T, TP . mặt.
+ Bà Đoàn Thị L, sinh năm 1998. Địa chỉ: 1 T, phường H, quận L, thành phố Đ mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình tranh tụng công khai tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Để có tiền tiêu xài, Nguyễn Văn T truy cập mạng xã hội Facebook tìm kiếm những người buôn bán thực phẩm cá, nhộng ong rồi lấy số điện thoại để liên hệ và lấy thông tin tài khoản ngân hàng của người bán để chuyển khoản. Sau đó, T đăng nhập vào website: “fakebill.thanhdieu.com” và điền các thông tin để tạo hình ảnh chuyển khoản thanh toán tiền thành công rồi gửi cho người bán để tạo lòng tin chiếm đoạt tài sản. Với phương thức như trên, trong tháng 7 năm 2024 Nguyễn Văn T đã thực hiện 02 vụ chiếm đoạt tài sản cụ thể:
Vụ thứ nhất: Khoảng 13 giờ ngày 05/7/2024, T sử dụng điện thoại di động hiệu Iphone 11 promax, màu xanh đen gắn sim số 0928505521 truy cập tài khoản zalo tên “Nhật Nguyễn” liên hệ với chị Trương Thị Lan V (sinh năm 1997; trú: thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Nam) đặt mua 27kg nhộng ong với giá 10.000.000 đồng. Sau khi yêu cầu chị V cung cấp thông tin số tài khoản ngân hàng để thanh toán, T truy cập website: “fakebill.thanhdieu.com” tạo hình ảnh chuyển khoản thành công 10.000.000 đồng đến tài khoản số 4211205188782 tại Ngân hàng A của chị V rồi lưu hình ảnh và gửi cho chị V. Tin tưởng T đã chuyển khoản thanh toán, chị V đóng hàng gửi đến địa chỉ số A L, phường H, quận C, TP . theo yêu cầu của T. Sau đó, T thuê 01 người giao hàng (không rõ lai lịch) đến nhận hàng đem về phòng trọ tại số B T, phường H, quận L rồi đăng lên mạng bán cho nhiều người được 6.000.000 đồng và tiêu xài hết. Đến ngày 06/7/2024, T tiếp tục liên hệ và đặt mua của chị V 23kg nhộng ong với giá 8.500.000 đồng rồi T tiếp tục tạo hình ảnh chuyển khoản thanh toán tiền thành công và gửi cho chị V nhưng do chưa nhận được tiền nên chị V nghi ngờ nên không gửi hàng cho T chiếm đoạt.
Vụ thứ hai: Khoảng 12 giờ ngày 17/7/2024, T sử dụng điện thoại di động hiệu Iphone 11 promax, màu xanh đen truy cập zalo đổi tên thành “Nguyễn Nguyễn " để liên hệ và thoả thuận với chị Đỗ Thị Mỹ H2 (sinh năm 1981; trú: Thôn E, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Nam) đặt mua 10kg nhộng ong và 15kg cá chình với giá 10.620.000 đồng. Sau khi yêu cầu chị Hoàng cung C1 thông tin số tài khoản ngân hàng để thanh toán, T lên mạng tạo hình ảnh chuyển khoản thành công 10.620.000 đồng đến tài khoản số 4211205035298 tại Ngân hàng V2 của chị H2 rồi gửi hình ảnh cho chị H2. Chị Hoàng C2 không thấy thông báo tiền vào tài khoản nên hỏi T thì T nói dối do ngân hàng bị lỗi nên tiền vào tài khoản ngân hàng sau. Tin tưởng T nói thật, chị H2 đóng hàng và gửi cho T đến địa chỉ nhà xe Út C3, số F L, phường H, quận C nhưng còn nghi ngờ nên chị H2 gửi 06 con cá chình, tổng trọng lượng 8,5kg rồi đi theo xe ra để giao hàng.
Đến khoảng 16 giờ 40 phút cùng ngày, chị H2 nhắn tin thông báo cho T xe gần đến nơi, T liên hệ thuê anh Châu Khắc H3 (sinh năm 1994; trú: tổ C, phường T, quận T) đi đến nhà xe Út C3 để nhận hàng giao về phòng trọ cho T. Khi H3 đến nơi để nhận hàng, chị H2 nghi ngờ nên không cho H3 nhận hàng và trình báo công an. Khoảng 15 phút sau, T đợi lâu nhưng chưa nhận được hàng nên T điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 74D1-303.90 hiệu Vision đến địa điểm nhận hàng thì bị lực lượng công an mời về làm việc. [BL: 04-16; 17-104; 117-171; 172-184]
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 27 ngày 29/7/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng quận C kết luận: 27kg nhộng ong bảo quản cấp đông, có trị giá 8.100.000 đồng và 8,5kg cá chình bảo quản cấp đông, có trị giá 3.544.500 đồng. Tổng giá trị các tài sản là 11.644.500 đồng
Về tang, tài vật tạm giữ và xử lý:
- Đối với 8,5kg cá chình bảo quản cấp đông là tài sản của chị Đỗ Thị Mỹ H2, Cơ quan điều tra đã trả lại tài sản cho chị H2.
- Đối với chiếc xe mô tô biển kiểm soát 74D1-303.90 và 01 điện thoại di động hiệu Redmi, màu xanh là tài sản của chị Đoàn Thị L không liên quan đến hành vi phạm tội của T, nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho chị L
- Đối với chiếc điện thoại di động Iphone 11 Promax, gắn sim số 0928505521 là tài sản của T sử dụng làm công cụ phạm tội, nên đề nghị tịch thu sung công.
- Đối với số tiền 2.000.000 đồng là tài sản của T, đề nghị tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
Về trách nhiệm dân sự: Chị Đỗ Thị Mỹ H2 không yêu cầu gì về dân sự nên không đề cập giải quyết. Gia đình của bị can đã bồi thường số tiền 10.000.000 đồng cho chị Trương Thị Lan V, chị V đã nhận đủ và không yêu cầu gì, nên không đề cập giải quyết.
* Với nội dung trên tại Bản cáo trạng số: 95/CT-VKSCL ngày 15 tháng 10 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn V1 tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự. Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo như nội dung bản cáo trạng số: 95/CT-VKSCL ngày 15 tháng 10 năm 2024 và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Căn cứ: khoản 1 Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật hình sự đối với bị cáo; đề nghị tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T1 “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và xử phạt bị cáo mức hình phạt từ 15 tháng tù đến 18 tháng tù.
- Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Nguyễn T đã bồi thường cho người bị hại và người bị hại không yêu cầu gì thêm nên không đề cập xử lý.
- Về vật chứng: đối với 01 điện thoại di động hiệu Iphone 11 Promax, gắn sim số 0928505521 là tài sản của T sử dụng làm công cụ phạm tội, nên đề nghị tịch thu sung công quỹ nhà nước.
- Đối với số tiền 2.000.000 đồng là tài sản của T, không liên quan đến hành vi phạm tội đề nghị trả lại cho bị cáo nhưng tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Văn Đ khai nhận hành vi phạm tội của mình và thừa nhận tội danh như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng truy tố là đúng. Bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Tại phiên tòa, những người bị hại nhận thấy bị cáo cũng đã nhận thấy được sai trái của mình và đã bồi thường khắc phục hậu quả nên xin HĐXX giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có tại hồ sơ vụ án, lời khai của bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng: Quá trình điều tra, truy tố Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Xét hành vi phạm tội của bị cáo thì thấy:
Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình, đã cố ý dùng thủ đoạn làm giả bill chuyển tiền để lừa những người bán hàng là đã chuyển tiền qua tài khoản cho người bán nhằm mục đích chiếm đoạt số hàng bị cáo đặt mua, đem về bán lại cho nhiều người khác lấy tiền tiêu xài. Bị cáo đã dùng thủ đoạn này để thực hiện hành vi lừa đảo nhiều người, tuy nhiên bị cáo chỉ mới lừa đảo và chiếm đoạt được tiền bán hàng của hai người bị hại là chị V và chị H2, chiếm đoạt tài sản giá trị 11.644.500 đồng.
Như vậy, bị cáo Nguyễn Văn Đ có hành vi cố tình gian dối, dùng thủ đoạn làm giả bill chuyển tiền để những người bán hàng tin tưởng là T đã chuyển tiền vào tài khoản của người bán, qua đó bị cáo đã lừa đảo chiếm đoạt tiền của những người bán hàng. Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội nhiều lần, đã thực hiện trót lọt và lừa đảo chiếm đoạt được 2 lần đối với 2 người bị hại, tổng cộng chiếm đoạt 11.644.500 đồng
Hành vi của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an xã hội, gây hoang mang, dư luận xấu trong quần chúng nhân dân. Bị cáo đã thực hiện hành vi lừa đảo nhiều lần, dùng thủ đoạn thông qua công nghệ số, chiếm đoạt tài sản thông qua việc mua bán hàng hóa dẫn đến hậu quả đánh mất niềm tin, gây khó khăn cho những người buôn bán nhất là trong đời sống hiện nay thường xuyên sử dụng công cụ chuyển tiền, mua bán hàng hóa qua mạng, ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của những người buôn bán, các đơn vị kinh tế. Hành vi của bị cáo là phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 điều 174 BLHS như cáo trạng Viện Kiểm Sát nhân dân quận C, Tp Đ tố là hoàn toàn có căn cứ, đúng tội. Do đó, đối với bị cáo cần phải xử phạt nghiêm để có tác dụng cải tạo, giáo dục riêng và răn đe phòng ngừa chung trong xã hội.
[3] Xét tính chất của vụ án, hành vi phạm tội và nhân thân, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ của bị cáo thì thấy: trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo thừa nhận hành vi của mình là sai trái, khai báo thành khẩn và có thái độ ăn năn hối cải; đã bồi thường khắc phục thiệt hại cho người bị hại, được người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt, gia đình bị cáo có ông ngoại Hoàng Q được tặng thưởng Huân chương kháng chiến Hạng nhất, có bà ngoại được tặng thưởng Huân chương kháng chiến Hạng 3. Bản thân bị cáo có nhân thân xấu, đã bị kết án năm 2017 về tội “Cướp giật tài sản”, có tình tiết tăng nặng là phạm tội nhiều lần. Do đó, HĐXX áp dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 điều 51 BLHS và tình tiết tăng nặng quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự để xem xét khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.
[4] Về trách nhiệm dân sự:
- Chị Trương Thị Lan V đã được gia đình bị cáo khắc phục số tiền chiếm đoạt 10.000.000 đồng và không có yêu cầu gì thêm.
- Chị Đỗ Thị Mỹ H2 đã được trả lại số hàng hóa bị chiếm đoạt và không có yêu cầu gì về dân sự.
[5] Về xử lý vật chứng:
Đối với chiếc xe mô tô biển kiểm soát 74D1-303.90 và 01 điện thoại di động hiệu Redmi, màu xanh là tài sản của chị Đoàn Thị L không liên quan đến hành vi phạm tội của T, nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho chị L là có cơ sở, HĐXX không đề cập xử lý.
Đối với 01 điện thoại di động hiệu Iphone 11 Promax, màu xanh đen, gắn sim số 0928505521, số IMEI: 353890109413317 là tài sản của bị cáo T là công cụ bị cáo sử dụng để thực hiện hành vi lừa đảo nhằm chiếm đoạt tài sản của người khác nên cần tịch thu sung công quỹ nhà nước.
Đối với số tiền 2.000.000 đồng là tài sản của bị cáo T, không liên quan đến hành vi phạm tội nên cần trả lại cho bị cáo nhưng tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
[6] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
1. Áp dụng: khoản 1 Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
2. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giam, ngày 19/7/2024.
3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ: Điều 47 của Bộ luật hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu sung công quỹ Nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu Iphone 11 Promax, màu xanh đen, gắn sim số 0928505521, số IMEI: 353890109413317 (Vật chứng hiện do Chi cục Thi hành án dân sự quận Cẩm Lệ đang tạm giữ theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 21/10/2024)
Trả lại cho bị cáo Nguyễn Văn T số tiền 2.000.000 đồng nhưng tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án. (Số tiền này đang được tạm giữ tại tài khoản của Chi cục thi hành án dân sự quận Cẩm Lệ theo giấy nộp tiền của Công an quận C tại Ngân hàng N ngày 21/10/2024)
4. Về án phí: Căn cứ: Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14
Buộc bị cáo Nguyễn Văn P chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
6. Quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, ngày 05/12/2024.
Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Bàng |
Bản án số 107/2024/HS-ST ngày 05/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẨM LỆ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG về lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 107/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 05/12/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẨM LỆ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn T phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
