Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 11

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 107/2024/HS-ST

Ngày: 31-10-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 11, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Tô Đông Đức.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Vương Thị Nga
  2. Bà Nguyễn Lê Thu

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Kim Thanh Xuân – Thư ký Tòa án nhân dân Quận 11 Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 11 tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Ngon - Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 10 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 103/2024/TLST-HS ngày 08 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 101/2024/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 10 năm 2024 đối với các bị cáo:

  1. Tôn Gia H; sinh năm: 1976; giới tính: Nam; tại: Thành phố Hồ Chí Minh; hộ khẩu thường trú: thường trú: Số A đường P, Phường A, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh; chỗ ở: Số A đường T, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Hoa, tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ học vấn: 9/12; con ông Phùng Kim H1 (chết) và bà Tôn N (chết); hoàn cảnh gia đình có vợ tên Nguyễn Ngọc Phương U, sinh năm 1975 và có 01 người con sinh năm 2006; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 04/01/2024 đến ngày 06/01/2024 được thay bằng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú (có mặt).
  2. Trương Quốc T; sinh năm: 1983; giới tính: Nam; tại: Thành phố Hồ Chí Minh; hộ khẩu thường trú: Số E đường N, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; chỗ ở: Số F đường C tháng B, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh, tôn giáo: Không; nghề nghiệp: làm công; trình độ học vấn: 01/12; con ông Trương T1 và bà Hoàng Thị Kim X; hoàn cảnh gia đình có vợ tên Lê Kim Á và có 03 người con, lớn nhất sinh năm 2003 và nhỏ nhất sinh năm 2014; tiền án, tiền sự: Không;

Nhân thân: Ngày 20/01/2010, Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 09 tháng tù về tội “Đánh bạc” (Theo Bản án số 10/2010/HPT), Trương Quốc T kháng cáo. Ngày 26/7/2010, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 năm

06 tháng (Theo Bản án số 382/2010/HPT). Chấp hành xong toàn bộ bản án ngày 05/8/2011, đương nhiên xóa án tích.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 04/01/2024, đến ngày 06/01/2024 được áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú (có mặt).

  1. Vương Chí T2; sinh năm: 1965; giới tính: Nam; tại: Thành phố Hồ Chí Minh; Số A đường Ô, Phường E, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; chỗ ở: Số E đường L, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Hoa, tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ học vấn: 01/12; con ông Vương S (chết) và bà Lư M (chết); hoàn cảnh gia đình có vợ tên Lưu Mỹ N1; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 04/01/2024, đến ngày 06/01/2024 được áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú (có mặt).
  2. Trần Chí M1; sinh năm: 1972; giới tính: Nam; tại: Thành phố Hồ Chí Minh; hộ khẩu thường trú Số F đường N, Phường G, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh; chỗ ở: Số B đường số A, khu dân cư D - Đ, xã B, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Hoa, tôn giáo: Không; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 02/12; con ông Trần Mai K (chết) và bà Trương Y H2 (chết); hoàn cảnh gia đình có vợ tên Huỳnh Mỹ L; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 04/01/2024, đến ngày 06/01/2024 được áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú (có mặt).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Ông Trần Hòa L1, sinh năm 1978; địa chỉ: số B đường N, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
  2. Ông Huỳnh Thuận T3, sinh năm 1966; địa chỉ: Số C Tỉnh Lộ 10, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
  3. Ông Đỗ Minh T4, sinh năm 1979; địa chỉ: Số A đường H, phường P, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
  4. Ông Lâm Kiến T5, sinh năm 1979; địa chỉ: Số B đường L, Phường F, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
  5. Ông Trần Khánh H3, sinh năm 1980; địa chỉ: Số B đường P, Phường A, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
  6. Ông Cao Anh T6, sinh năm 1967; địa chỉ: Số F đường A, khu phố A, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
  7. Ông Đặng Chí H4, sinh năm 1980; địa chỉ: Số A đường P, phường F, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
  8. Ông Kim Sao V, sinh năm 1979; địa chỉ: Số B block B chung cư Xi Grand C, số 256-258 đường L, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
  9. Ông Nguyễn Thanh T7, sinh năm 1971; địa chỉ: Số D đường T, Phường A, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
  10. Ông Lương Minh T8, sinh năm 1982; địa chỉ: Số C đường N, Phường D, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
  1. Ông Lưu Phan H5, sinh năm 1968; địa chỉ: A căn hộ T, số A đường Đ, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
  2. Ông Nguyễn Thanh T9, sinh năm 1968; địa chỉ: Số C lô B, chung cư L, Phường G, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 14 giờ 04 phút ngày 04/01/2024, tại quán C1 số A đường số A, cư xá L, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh do Tôn Gia H làm chủ, Đ Công an Q1 bắt quả tang 10 người đánh bạc gồm Trương Quốc T, Vương Chí T2, Trần Chí M1,Trần Hòa L1,Đặng Chí H4, Kim Sao V,Nguyễn Thanh T9,Lương Minh T8,Lưu Phan H5 và Cao Anh T6 được thua bằng tiền dưới hình thức xem đá gà trực tuyến trên điện thoại di động để đánh bạc với số tiền dùng để đánh bạc là 17.600.000 đồng, tiến hành thu giữ vật chứng, đồ vật, tài sản liên quan, đưa tất cả về Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q1 lập biên bản bắt người phạm tội quả tang. Ngoài ra, tại thời điểm bắt quả tang còn có Nguyễn Thanh T7, Trần Hoàng K1, Huỳnh Thuận T3, Đỗ Minh T4 và Lâm Kiến T5 đánh bạc với hình thức như trên trước lúc bắt quả tang.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q1, các bị cáo Trương Quốc T, Vương Chí T2, Trần Chí M1; các đối tượng Trần Hòa L1, Đặng Chí H4, Kim Sao V, Nguyễn Thanh T9, Lương Minh T8, Lưu Phan H5 và Cao Anh T6khai nhận: Vào khoảng 14 giờ ngày 04/01/2024, các đối tượng trên đến quán cà phê Góc C do Tôn Gia H làm chủ để uống nước và dùng điện thoại di động truy cập vào trang web “Đá gà trực tuyến” để xem các trận đá gà đang diễn ra, kèm theo mã số các trận C1, C2, C3,... Khoảng 14 giờ 04 phút ngày 04/01/2024, có trận gà số 15, mã trận C1 giữa gà xanh (W) và gà đỏ (M2) chuẩn bị diễn ra với tỷ lệ thắng thua là gà xanh ăn 0,86/1, gà đỏ ăn 0,92/1. Khi trên web “Đá gà trực tuyến” hiện tỷ lệ thắng thua thì các đối tượng tham gia cá cược ăn thua trực tiếp riêng với nhau, không có hùn tiền cùng nhau đánh bạc, trận đá gà đang diễn ra chưa kết thúc thì bị bắt quả tang, cụ thể như sau:

  1. Trương Quốc T chọn gà đỏ lần lượt cá cược ăn tiền với người chọn gà xanh, gồm Trần Hòa L1 số tiền 1.000.000 đồng; với Trần Chí M1 số tiền 2.000.000 đồng; với Đặng Chí H4 số tiền 2.000.000 đồng. Như vậy, tổng số tiền Tài dùng để đánh bạc là 10.000.0000 đồng.
  2. Vương Chí T2 chọn gà đỏ lần lượt cá cược ăn tiền với người chọn gà xanh, gồm Trần Chí M1 số tiền 2.000.000 đồng; với Kim Sao V số tiền 1.000.000 đồng. Như vậy, tổng số tiền T2 dùng để đánh bạc là 6.000.0000 đồng.
  3. Trần Chí M1 chọn gà xanh lần lượt cá cược ăn tiền với người chọn gà đỏ, gồm Vương Chí T2 2.000.000 đồng; với Trương Quốc T 2.000.000 đồng. Như vậy, tổng số tiền M1 dùng để đánh bạc là 8.000.0000 đồng.
  4. Trần Hòa L1 chọn gà xanh lần lượt cá cược ăn tiền với người chọn gà đỏ, gồm Trương Quốc T số tiền 1.000.000 đồng; với Nguyễn Thanh T9 số tiền 200.000 đồng. Như vậy, tổng số L1 dùng để đánh bạc là 2.400.000 đồng.
  5. Đặng Chí H4 chọn gà xanh cá cược ăn tiền với Trương Quốc T chọn gà đỏ vối số tiền 2.000.000 đồng. Như vậy, tổng số H4 dùng để đánh bạc là 4.000.000 đồng.
  6. Kim Sao V chọn gà xanh lần lượt cá cược ăn tiền với người chọn gà đỏ, gồm với Vương Chí T2 1.000.000 đồng; với Lương Minh T8 400.000 đồng. Như vậy, tổng số V dùng để đánh bạc là 2.800.000 đồng.
  7. Nguyễn Thanh T9 chọn gà đỏ cá cược ăn tiền với Trần Hòa L1 chọn gà xanh với số tiền 200.000 đồng. Tổng số tiền T9 dùng để đánh bạc là 400.000 đồng.
  8. Lương Minh T8 chọn gà đỏ cá cược ăn tiền với Kim Sao V chọn gà xanh với số tiền 400.000 đồng. Tổng số tiền T8 dùng để đánh bạc là 800.000 đồng.
  9. Lưu Phan H5 chọn gà đỏ cá cược ăn tiền với Cao Anh T6 chọn gà xanh với số tiền 200.000 đồng. Tổng số tiền H5 dùng để đánh bạc là 400.000 đồng.
  10. Cao Anh T6 chọn gà xanh cá cược ăn tiền với Lưu Phan H5 chọn gà đỏ với số tiền 200.000 đồng. Tổng số tiền T6 dùng để đánh bạc là 400.000 đồng.

Đồng thời, tại thời điểm bắt quả tang còn 05 đối tượng tham gia cá cược đá gà ăn tiền như cách thức nêu trên vào lúc 13 giờ 45 phút 04/01/2024, như sau:

  1. Nguyễn Thanh T7 chọn gà đỏ cá cược ăn tiền với Trần Hoàng K1 chọn gà xanh với số tiền 200.000 đồng. Kết quả K1 thắng 400.000 đồng. Tổng số tiền T7 dùng để đánh bạc là 400.000 đồng.
  2. Huỳnh Thuận T3 chọn gà đỏ cá cược ăn tiền với Đỗ Minh T4 chọn gà xanh với số tiền 200.000 đồng, kết quả T4 thắng 400.000 đồng. Tổng số tiền T3 dùng để đánh bạc là 400.000 đồng.
  3. Trần Hoàng K1 chọn gà đỏ cá cược ăn tiền với Lâm Kiến T5 chọn gà xanh với số tiền 400.000 đồng, kết quả T5 thắng 400.000 đồng; K1 chọn gà xanh cá cược ăn tiền với Nguyễn Thanh T7 chọn gà đỏ với số tiền 200.000 đồng, kết quả K1 thắng 400.000 đồng. Tổng số tiền K1 dùng để đánh bạc là 1.2000.000 đồng.
  4. Đỗ Minh T4 chọn gà xanh cá cược ăn tiền với Huỳnh Thuận T3 chọn gà đỏ với số tiền 200.000 đồng, kết quả T4 thắng 400.000 đồng. Tổng số tiền T3 dùng để đánh bạc là 400.000 đồng.
  5. Lâm Kiến T5 chọn gà xanh cá cược ăn tiền với Trần Hoàng K1 chọn gà đỏ với số tiền 400.000 đồng, kết quả T5 thắng 400.000 đồng Tổng số tiền T5 dùng để đánh bạc là 400.000 đồng.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q1, Tôn Gia H khai nhận: H là chủ và trực tiếp kinh doanh quán C1 tại số A Cư xá L, Phường A, Quận A, H biết khách đến uống cà phê và đánh bạc được thua bằng tiền dưới hình thức đá gà qua mạng từ ngày 27/12/2023 là do thấy họ xem đá gà trực tuyến trên điện thoại, hô to số

tiền cá cược, thanh toán tiền với nhau nhưng vẫn để họ chơi để bán nước, cơm, đồ ăn nhằm tăng doanh thu trong việc kinh doanh quán cà phê. Vào trưa ngày 04/01/2024, có nhiều khách đến uống cà phê, những người này dùng điện thoại di động xem đá gà trực tuyến và cá cược đá gà ăn tiền với nhau, khi có kết quả thắng thua thì thanh toán tiền. Đến khoảng 14 giờ cùng ngày, có trận gà diễn ra trực tuyến trên mạng giữa gà xanh (W) và gà đỏ (M), khách trong quán tham gia cá cược ăn tiền với nhau. H đi lòng vòng bán nước, châm trà đá, bán cơm cho khách. Đến khoảng 14 giờ 04 phút cùng ngày khi trận đá gà đang diễn ra thì bị bắt quả tang như trên. H thừa nhận đã sử dụng địa điểm thuộc quyền quản lý của mình để cho 10 người như trên đánh bạc trong cùng một lúc mà tổng số tiền dùng đánh bạc tại thời điểm bắt quả tang là 17.600.000 đồng. H thực hiện hành vi gá bạc từ ngày 27/12/2023 đến ngày 04/01/2024, những lần đánh bạc trước ngày 04/01/2024 H không nhớ có bao nhiêu người tham gia đánh bạc và số tiền đánh bạc bao nhiêu, trong thời gian gá bạc H thu lợi khoảng 1.800.000 đồng, H đã giao nộp số tiền thu lợi bất chính 1.800.000 đồng. Đối với nhà số A Cư xá L, Phường A, Quận A, do H thuê của chị Mai Thị Đào H6 để kinh doanh, H sử dụng địa điểm trên để cho người khác đánh bạc chị H6 không biết, lời khai của H phù hợp với lời khai của chị H6.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q1, Tôn Gia H, Trương Quốc T, Vương Chí T2, Trần Chí M1 khai nhận hành vi phạm tội như trên. Các bị cáo T, T2, M1 đến quán C1 tham gia đánh bạc như trên khoảng 02 lần nhưng không nhớ rõ đánh bạc với ai, số tiền bao nhiêu, lời khai của các bị can phù hợp với nhau và phù hợp với lời khai Tôn Gia H.

Vật chứng, đồ vật được Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q1 đang tạm giữ:

  1. Tiền Việt Nam là 52.245.000 đồng (đã gửi Kho bạc Nhà nước Q2), trong đó:
    • + T10 dùng để đánh bạc là 21.450.000 đồng, cụ thể: Tôn Gia H 1.800.000 đồng; Trương Quốc T 5.000.000 đồng; Trần Chí M1 4.000.000 đồng; Vương Chí T2 3.000.000 đồng; Trần Hòa L1 1.200.000 đồng; Huỳnh Thuận T3 400.000 đồng; Đỗ Minh T4 200.000 đồng; Lâm Kiến T5 500.000 đồng; Trần Khánh H3 800.000 đồng; Cao Anh T6 200.000 đồng; Đặng Chí H4 2.000.000 đồng; Kim Sao Vannarith 1.400.000 đồng; Nguyễn Thanh T7 150.000 đồng; Lương Minh T8 400.000 đồng; Lưu Phan H5 200.000 đồng; Nguyễn Thanh T9 200.000 đồng.
    • + Tiền không liên quan đến hành vi phạm tội là 30.795.000 đồng, cụ thể: Vương Chí Thắng 2.200.000 đồng; Huỳnh Thuận T3 14.200.000 đồng; Đỗ Minh T4 2.795.000 đồng; Trần Khánh H3 600.000 đồng; Cao Anh T6 200.000 đồng; Đặng Chí H4 4.400.000 đồng; Kim Sao Vannarith 600.000 đồng; Lương Minh T8 100.000 đồng; Lưu Phan H5 5.200.000 đồng; Nguyễn Thanh T9 500.000 đồng.
  2. 01 (Một) điện thoại di động kiểu dáng Samsung Galaxy, màu đen, đã qua sử dụng và 01 (Một) điện thoại di động kiểu dáng iPhone, màu xám đen, đã qua sử dụng, tạm giữ của Tôn Gia H là tài sản cá nhân của H không liên quan đến hành vi phạm tội.
  3. 01 (Một) điện thoại di động kiểu dáng Nokia, màu đen, đã qua sử dụng, tạm giữ của Trương Quốc T là tài sản cá nhân của T không liên quan đến hành vi phạm tội.
  4. 01 (Một) điện thoại di động kiểu dáng iPhone, màu đen, đã qua sử dụng tạm giữ của Trần Chí M1 là tài sản của M1 có liên quan đến hành vi phạm tội.
  5. 01 (Một) điện thoại di động kiểu dáng Samsung Galaxy màu đen, đã qua sử dụng tạm giữ của Vương Chí T2 là tài sản của T2 có liên quan đến hành vi phạm tội.
  6. 01 (Một) điện thoại di động kiểu dáng iPhone, màu đen, đã qua sử dụng tạm giữ của Trần Hòa L1 là tài sản cá nhân của L1 không liên quan đến hành vi phạm tội.
  7. 01 (Một) điện thoại di động kiểu dáng iPhone 11 màu đen, đã qua sử dụng tạm giữ của Huỳnh Thuận T3 là tài sản của T3 có liên quan đến hành vi phạm tội.
  8. 01 (Một) điện thoại di động kiểu dáng Oppo màu đỏ, đã qua sử dụng tạm giữ của Huỳnh Thuận T3 là tài sản cá nhân của T3 không liên quan đến hành vi phạm tội.
  9. 01 (Một) điện thoại di động kiểu dáng iPhone màu vàng, đã qua sử dụng tạm giữ của Đỗ Minh T4 là tài sản cá nhân của T4 không liên quan đến hành vi phạm tội.
  10. 01 (Một) điện thoại di động kiểu dáng Samsung màu xanh, đã qua sử dụng tạm giữ của Lâm Kiến T5 là tài sản của T5 có liên quan đến hành vi phạm tội.
  11. 01 (Một) điện thoại di động kiểu dáng Samsung Galaxy màu đen, đã qua sử dụng tạm giữ của Trần Khánh H3 là tài sản cá nhân của H3 không liên quan đến hành vi phạm tội.
  12. 01 (Một) điện thoại di động kiểu dáng Samsung màu xanh, đã qua sử dụng tạm giữ của Cao Anh T6 là tài sản cá nhân của T6 không liên quan đến hành vi phạm tội.
  13. 01 (Một) điện thoại di động kiểu dáng Samsung Galaxy màu xám, đã qua sử dụng tạm giữ của Đặng Chí H4 là tài sản của H4 có liên quan đến hành vi phạm tội.
  14. 01 (Một) điện thoại di động kiểu dáng iPhone, màu trắng, đã qua sử dụng tạm giữ của Kim Sao V là tài sản của V có liên quan đến hành vi phạm tội.
  15. 01 (Một) điện thoại di động kiểu dáng Samsung màu xanh, đã qua sử dụng tạm giữ của Nguyễn Thanh T7 là tài sản của T7 có liên quan đến hành vi phạm tội.
  16. 01 (Một) điện thoại di động kiểu dáng Samsung màu đen, bị sọc màn hình, đã qua sử dụng tạm giữ của Lương Minh T8 là tài sản của T8 có liên quan đến hành vi phạm tội.
  17. 01 (Một) điện thoại di động kiểu dáng Samsung Galaxy màu xanh, đã qua sử dụng tạm giữ của Lưu Phan H5 là tài sản cá nhân của H5 không liên quan đến hành vi phạm tội.
  18. 01 (Một) điện thoại di động kiểu dáng Oppo màu trắng, đã qua sử dụng tạm giữ của Nguyễn Thanh T9 là tài sản của T9 có liên quan đến hành vi phạm tội (Bút lục: 07-09).

Bản cáo trạng số 109/CT-VKSQ11 ngày 04 tháng 10 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 11 đã truy tố bị cáo Tôn Gia H về tội: “Gá bạc” theo điểm b khoản 1 Điều 322, các bị cáo Trương Quốc T, Vương Chí T11 và Trần Chí M1 về tội: “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa, các bị cáo H, T, T2 và M1 có lời khai phù hợp với các lời khai tại Cơ quan điều tra và những chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 11 trình bày lời luận tội, nêu các tình tiết tăng nặng, giảm nhe, đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo Tôn Gia H mức án từ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng đến 02 (hai) năm tù, nhưng cho hưởng án treo có ấn định thời gian thử thách; đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo Trương Quốc T từ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng đến 02 (hai) năm tù, nhưng cho hưởng án treo có ấn định thời gian thử thách; đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo Vương Chí T2 từ 09 (chín) tháng đến 01 (một) năm tù, nhưng cho hưởng án treo có ấn định thời gian thử thách; đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo Trần Chí M1 từ 09 (chín) tháng đến 01 (một) năm tù, nhưng cho hưởng án treo có ấn định thời gian thử thách; đề nghị miễn phạt bổ sung cho các bị cáo;

Về phần xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 của Bộ luật Hình sự:

Tiền, vật dùng vào việc đánh bạc thì tịch thu sung Ngân sách nhà nước; cụ thể như sau :

  • Của bị cáo Tôn Gia H 1.800.000 đồng;
  • Của bị cáo Trương Quốc T 5.000.000 đồng;
  • Của bị cáo Trần Chí M1 4.000.000 đồng và 01 điện thoại di động hiệu Iphone màu đên đã qua sử dụng;
  • Của bị cáo Vương Chí T2 3.000.000 đồng và 01 điện thoại Saamsung Galaxy màu đen đã quan sử dụng;
  • Của ông Trần Hòa L1 1.200.000 đồng;
  • Của ông Huỳnh Thuận T3 400.000 đồng và 01 điện thoại di động Iphone 11 màu đen đã qua sử dụng;
  • Của ông Đỗ Minh T4 200.000 đồng;
  • Của ông Lâm Kiến T5 500.000 đồng và 01 điện thoại Samsung màu xanh đã qua sử dung;
  • Của ông Trần Khánh H3 800.000 đồng;
  • Của ông Cao Thanh T12 200.000 đồng;
  • Của ông Đặng Chí H4 200.000 đồng và 01 điện thoại Samsung màu xanh đã qua sử dung;
  • Của ông Kim Sao V 1.400.000 đồng và 01 điện thoại di động Iphone 11 màu trắng đã qua sử dụng.
  • Của ông Nguyễn Thanh T7 150.000 đồng và 01 điện thoại Samsung màu xanh đã qua sử dung;
  • Của ông Lương Minh T8 400.000 đồng và 01 điện thoại Samsung màu đen đã qua sử dung;
  • Của ông Lưu Phan H5 200.000 đồng;
  • Của ông Nguyễn Thanh T9 200.000 đồng và 01 điện thoại di động kiểu dáng Oppo màu trắng, đã qua sử dụng.

Tiền, điện thoại di động không liên quan đến hành vi đánh bạc thì trả lại, cụ thể :

  • Trả cho bị cáo Tôn Gia H 01 điện thoại di động kiểu dáng Samsung Galaxy, màu đen, đã qua sử dụng và 01 điện thoại di động kiểu dáng iPhone, màu xám đen, đã qua sử dụng.
  • Trả cho bị cáo Vương Chí T2 2.200.000 đồng.
  • Trả cho bị cáo Trương Quốc T 01 điện thoại di động kiểu dáng Nokia, màu đen, đã qua sử dụng.
  • Trả cho ông Trần Hòa L1 01 điện thoại di động kiểu dáng Iphone, màu đen, đã qua sử dụng.
  • Trả cho ông Huỳnh Thuận T3 01 điện thoại di động kiểu dáng Oppo màu đỏ, đã qua sử dụng và 14.200.000 đồng.
  • Trả cho ông Đỗ Minh T4 01 điện thoại di động kiểu dáng iPhone màu vàng, đã qua sử dụng và 2.795.000 đồng.
  • Trả lại cho ông Trần Khánh H3 01 điện thoại di động kiểu dáng Samsung Galaxy màu đen, đã qua sử dụng và 600.000 đồng.
  • Trả lại cho ông Cao Anh T6 01 điện thoại di động kiểu dáng Samsung màu xanh, đã qua sử dụng và 200.000 đồng.
  • Trả lại cho ông Đặng Chí H4 4.400.000 đồng.
  • Trả lại cho ông Kim S1 Vannarith 600.000 đồng.
  • Trả lại cho ông Lương Minh T8 100.000 đồng.
  • Trả lại cho ông Lưu Phan H5 01 điện thoại di động kiểu dáng Samsung Galaxy màu xanh, đã qua sử dụng và 5.200.000 đồng.
  • Trả lại cho ông Nguyễn Thanh T9 500.000 đồng.

Về hình phạt bổ sung quy định tại khoản 3 Điều 321 và khoản 3 Điều 322 Bộ luật hình sự, Hội đồng xét xử xét tính chất của vụ án và hoàn cảnh của các bị cáo nên miễn phạt bổ sung.

Đối với Trần Hòa L1, Đặng Chí H4, Kim Sao V, Nguyễn Thanh T9, Lương Minh T8, Lưu Phan H5, Cao Anh T6, Nguyễn Thanh T7, Trần Hoàng K1, Huỳnh Thuận T3, Đỗ Minh T4 và Lâm Kiến T5 có hành vi đánh bạc nhưng số tiền đánh bạc chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự. Qua điều tra các đối tượng trên không có tiền án, tiền sự liên quan đến hành vi đánh bạc, tổ chức đánh bạc và gá bạc. Ngày 31/7/2024, Công an Q1 đã ra Quyết định xử phạm vi phạm hành chính về hành vi

đánh bạc trái phép đối với Trần Hòa L1, Đặng Chí H4, Kim Sao V, Nguyễn Thanh T9, Lương Minh T8, Lưu Phan H5, Cao Anh T6, Nguyễn Thanh T7, Trần Hoàng K1, Huỳnh Thuận T3, Đỗ Minh T4 và Lâm Kiến T5 mỗi người 1.500.000 đồng.

Đối với chị Mai Thị Đào H6 là chủ nhà số A Cư xá L, Phường A, Quận A, chị H6 cho Tôn Gia H thuê để kinh doanh, H sử dụng địa điểm trên để cho người khác đánh bạc chị H6 không biết, lời khai của H phù hợp với lời khai của chị H6, Cơ quan điều tra không xử lý chị H6 là có căn cứ.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Tôn Gia H phạm tội: “Gá bạc”; các bị cáo Trương Quốc T, Vương Chí T2 và Trần Chí M1 phạm tội: “Đánh bạc”.

Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 322, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, khoản 2, khoản 5 Điều 65 của Bộ luật hình sự;

Xử phạt bị cáo Tôn gia H 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng, tính từ ngày tuyên án.

Giao bị cáo Tôn Gia H cho Ủy ban nhân dân Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh giám sát giáo dục và thực hiện các nghĩa vụ trong thời gian thử thách theo quy định của Luật Thi hành án hình sự.

Áp dụng sự khoản 1 Điều 321, các điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, khoản 2, khoản 5 Điều 65 của Bộ luật Hình sự;

Xử phạt bị cáo Trương Quốc T 01 (một) năm tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 02 (hai) năm, tính từ ngày tuyên án.

Giao bị cáo Trương Quốc T cho Ủy ban nhân dân Phường A1, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh giám sát giáo dục và thực hiện các nghĩa vụ trong thời gian thử thách theo quy định của Luật Thi hành án hình sự.

Áp dụng khoản 1 Điều 321, các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, khoản 2, khoản 5 Điều 65 của Bộ luật hình sự;

Xử phạt bị cáo Vương Chí T2 09 (chín) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 (một) năm 06 (sáu) tháng, tính từ ngày tuyên án.

Giao bị cáo Vương Chí T2 cho Ủy ban nhân dân Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh giám sát giáo dục và thực hiện các nghĩa vụ trong thời gian thử thách theo quy định của Luật Thi hành án hình sự.

Áp dụng khoản 1 Điều 321, các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, khoản 2, khoản 5 Điều 65 của Bộ luật Hình sự;

Xử phạt bị cáo Trần Chí M1 09 (chín) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 (một) năm 06 (sáu) tháng, tính từ ngày tuyên án.

Giao bị cáo Trần Chí M1 cho Ủy ban nhân dân xã B, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh giám sát giáo dục và thực hiện các nghĩa vụ trong thời gian thử thách theo quy định của Luật Thi hành án hình sự.

Trong trường hợp bị cáo thay đổi địa chỉ thì thực hiện theo Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật này.

Áp dụng Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 của Bộ luật Hình sự:

  • Tịch thu sung nộp vào ngân sách Nhà nước số tiền 21.450.000 đồng, cụ thể: Tôn Gia H 1.800.000 đồng; Trương Quốc T 5.000.000 đồng; Trần Chí M1 4.000.000 đồng; Vương Chí T2 3.000.000 đồng; Trần Hòa L1 1.200.000 đồng; Huỳnh Thuận T3 400.000 đồng; Đỗ Minh T4 200.000 đồng; Lâm Kiến T5 500.000 đồng; Trần Khánh H3 800.000 đồng; Cao Anh T6 200.000 đồng; Đặng Chí H4 2.000.000 đồng; Kim Sao Vannarith 1.400.000 đồng; Nguyễn Thanh T7 150.000 đồng; Lương Minh T8 400.000 đồng; Lưu Phan H5 200.000 đồng; Nguyễn Thanh T9 200.000 đồng.
  • Tịch thu sung Ngân sách Nhà nước số điện thoại liên quan đến việc đánh bạc, cụ thể: 01 điện thoại di động hiệu Iphone màu đen đã qua sử dụng của Trần Chí M1; 01 điện thoại Saamsung Galaxy màu đen đã qua sử dụng của Vương Chí T2; 01 điện thoại di động Iphone 11 màu đen đã qua sử dụng của Huỳnh Thuận T3; 01 điện thoại Samsung màu xanh đã qua sử dung của Lâm Kiến T5; 01 điện thoại Samsung màu xanh đã qua sử dụng của Đặng Chí H4; 01 điện thoại di động Iphone 11 màu trắng đã qua sử dụng của Kim Sao V; và 01 điện thoại Samsung màu xanh đã qua sử dung của Nguyễn Thanh T7; 01 điện thoại Samsung màu đen đã qua sử dung của Lương Minh T8 và 01 điện thoại di động kiểu dáng Oppo màu trắng, đã qua sử dụng của Nguyễn Thanh T9.
  • Trả cho bị cáo Tôn Gia H 01 điện thoại di động kiểu dáng Samsung Galaxy, màu đen, đã qua sử dụng và 01 (Một) điện thoại di động kiểu dáng iPhone, màu xám đen, đã qua sử dụng.
  • Trả cho bị cáo Vương Chí T2 2.200.000 đồng.
  • Trả cho bị cáo Trương Quốc T 01 (Một) điện thoại di động kiểu dáng Nokia, màu đen, đã qua sử dụng.
  • Trả cho ông Trần Hòa L1 01 (Một) điện thoại di động kiểu dáng Iphone, màu đen, đã qua sử dụng.
  • Trả cho ông Huỳnh Thuận T3 01 (Một) điện thoại di động kiểu dáng Oppo màu đỏ, đã qua sử dụng và 14.200.000 đồng.
  • Trả cho ông Đỗ Minh T4 01 (Một) điện thoại di động kiểu dáng iPhone màu vàng, đã qua sử dụng và 2.795.000 đồng.
  • Trả lại cho ông Trần Khánh H3 01 (Một) điện thoại di động kiểu dáng Samsung Galaxy màu đen, đã qua sử dụng và 600.000 đồng.
  • Trả lại cho ông Cao Anh T6 01 (Một) điện thoại di động kiểu dáng Samsung màu xanh, đã qua sử dụng và 200.000 đồng.
  • Trả lại cho ông Đặng Chí H4 4.400.000 đồng.
  • Trả lại cho ông Kim S1 Vannarith 600.000 đồng.
  • Trả lại cho ông Lương Minh T8 100.000 đồng.
  • Trả lại cho ông Lưu Phan H5 01 (Một) điện thoại di động kiểu dáng Samsung Galaxy màu xanh, đã qua sử dụng và 5.200.000 đồng.
  • Trả lại cho ông Nguyễn Thanh T9 500.000 đồng.

(Theo Lệnh nhập kho vật chứng số 1128/CQCSĐT-LNK-ĐCSHS ngày 22/8/2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q1 vag công văn số 2140/CQCSĐT-ĐCSHS ngày 22/8/2024; Giấy nộp tiền ngày 22/8/2024).

Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

Án phí hình sự sơ thẩm, các bị cáo mỗi người phải chịu là 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng).

Căn cứ vào Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015

Các bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Căn cứ Điều 26 Luật thi hành án dân sự năm 2008.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

(Đã giải thích chế định án treo)

Nơi nhận:

  • - TAND - VKSND TP.HCM;
  • - Sở Tư pháp TP.HCM;
  • - PV 06 - Công an TP.HCM
  • - VKSND Quận 11;
  • - Công an Quận 11;
  • - Chi cục THADS Quận 11;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu: VP, hồ sơ vụ án.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Bùi Tô Đông Đức

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 107/2024/HS-ST ngày 31/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 11, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự (tội gá bạc và tội đánh bạc)

  • Số bản án: 107/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tội Gá bạc và Tội Đánh bạc)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 31/10/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 11, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Xử phạt bị cáo Tôn gia Hiền 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng, tính từ ngày tuyên án. Giao bị cáo Tôn Gia Hiền cho Ủy ban nhân dân Phường 12, Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh giám sát giáo dục và thực hiện các nghĩa vụ trong thời gian thử thách theo quy định của Luật Thi hành án hình sự. Áp dụng sự khoản 1 Điều 321, các điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, khoản 2, khoản 5 Điều 65 của Bộ luật Hình sự; Xử phạt bị cáo Trương Quốc Tài 01 (một) năm tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 02 (hai) năm, tính từ ngày tuyên án. Giao bị cáo Trương Quốc Tài cho Ủy ban nhân dân Phường 14, Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh giám sát giáo dục và thực hiện các nghĩa vụ trong thời gian thử thách theo quy định của Luật Thi hành án hình sự. Áp dụng khoản 1 Điều 321, các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, khoản 2, khoản 5 Điều 65 của Bộ luật hình sự; Xử phạt bị cáo Vương Chí Thắng 09 (chín) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 (một) năm 06 (sáu) tháng, tính từ ngày tuyên án. Giao bị cáo Vương Chí Thắng cho Ủy ban nhân dân Phường 12, Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh giám sát giáo dục và thực hiện các nghĩa vụ trong thời gian thử thách theo quy định của Luật Thi hành án hình sự. Áp dụng khoản 1 Điều 321, các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, khoản 2, khoản 5 Điều 65 của Bộ luật Hình sự; Xử phạt bị cáo Trần Chí Minh 09 (chín) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 (một) năm 06 (sáu) tháng, tính từ ngày tuyên án. Giao bị cáo Trần Chí Minh cho Ủy ban nhân dân xã Bình Hưng, huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh giám sát giáo dục và thực hiện các nghĩa vụ trong thời gian thử thách theo quy định của Luật Thi hành án hình sự.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger